Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam

Ban Mai

Mở đầu tập Ca khúc da vàng viết năm 1967, Trịnh Công Sơn bày tỏ nỗi đau thống thiết: “Tất cả đã bể, đã vỡ toang. Tiếng thét đã chìm xuống biển thành tiếng nói trầm tư, thành lời kêu uất về thân thế Việt Nam. Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên cùng khắp. Ơi những bạn bè thân yêu đã chết từ đỉnh cao hay vực thẳm. Con người đã hóa thân làm vết thương. Cái chết hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa. Đã biến hình đổi dạng từ những cơn hiểm họa cay nghiệt nhất của nhân loại. Lìa cha mẹ, anh em, bằng hữu yêu dấu vô cùng. Hãy kết hỏa châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ. Đốt đuốc cho người điên ấm phố mùa đông. Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về bây giờ như thế đó. Hỡi người yêu da vàng của tôi hãy duỗi tay thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn. Tôi sẽ làm người tiều phu đi nhặt từng cánh tay, bàn chân, từng đốt xương, sọ người vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng cho đêm tìm lại dấu vết của một hành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm. Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau. Hãy thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó”. ("Da vàng ca khúc" Trịnh Công Sơn) [1]

Trong ca khúc “Gia tài của Mẹ”, Trịnh Công Sơn đã chỉ cho chúng ta thấy đây là một cuộc chiến tranh “nội chiến”. Chính quan điểm này đã làm cho chính quyền cộng sản e ngại ông. Bởi vậy, trong giai đoạn đầu của thời hậu chiến, có người ở chiến khu đã tuyên bố khi về Sài Gòn sẽ “xử tử” Trịnh Công Sơn
[2] . Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi. Với tôi, tôi đồng cảm cùng suy nghĩ của Trịnh Công Sơn, bởi vì đứng trên góc nhìn dân tộc, cái chết nào cũng đau xót như nhau. Vì tất cả đều chung giòng máu Lạc Hồng. Đó chính là bi kịch của người dân Việt. Với trái tim nhạy cảm và nhân ái vô cùng, Trịnh Công Sơn đã nhận ra điều vô lý ấy. Trong bài nói chuyện “Trịnh Công Sơn vì hòa bình và tình yêu” do “Hội Văn hóa Trịnh Công Sơn” tổ chức tại Paris đêm 3-5-2003, giáo sư Cao Huy Thuần đặt câu hỏi: “Có cái gì nổi bật trong nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn?” và khẳng định: “Chẳng có gì ngoài chữ tình” [3] . Đúng, nhạc chiến tranh của ông bắt nguồn từ tình yêu thương, nó là những bài tự tình dân tộc, ông nói hộ cho dân tộc thân phận khổ ải của kiếp người trong chiến tranh, là tiếng kêu thương tuyệt vọng của người dân trong cảnh thịt xương tan nát.


Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng

Khắp đất nước tràn đầy xác người:

Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai
("Hát trên những xác người" - 1968)

Là một trí thức, ông ý thức được thân phận nhược tiểu của đất nước mình trong bối cảnh tranh giành ảnh hưởng của các thế lực quốc tế. Cảm nhận được nỗi đau mất mát ấy, cho nên dù đang ở trong cái thế chống đối nhau, tự trong thâm tâm của người dân Việt, họ vẫn thấy yêu nhau, gần nhau:

Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam
Ngày gió lớn, tôi đi môi gọi thầm,
Gọi tên anh, tên Việt Nam,
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.
("Tình ca của người mất trí" - 1967)

Có lúc ông nói thẳng ra:

Hai mươi năm là xác người Việt nằm
Làm sao ta giết hết những đứa con Việt Nam?
Xưa ta không thù hận
Vì đâu tay ta vấy máu?
("Tuổi trẻ Việt Nam" - 1969)

Cái bi thảm nhất là ở chỗ: tay của người Việt ít nhiều đều vấy máu anh em mình, người yêu của mình. Tự trong thâm tâm, họ là anh em, cha con, là người yêu của nhau, nhưng trên thực tế, họ chém giết nhau, nhìn nhau xa lạ. Nhưng khi người yêu đó: Bỏ xác trôi sông, chết ngoài ruộng đồng / Chết rừng mịt mùng, chết lạnh lùng / Mình cháy như than, chết cong queo / Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu / Chết nghẹn ngào, mình không manh áo (Tình ca của người mất trí - 1967). Trong cuộc chiến tranh này, không ai ca khúc khải hoàn, không ai nằm chết trong vinh quang. Những người yêu đó đã:

Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò
Chết không hận thù, nằm chết như mơ

Trịnh Công Sơn cho rằng, đây là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồng thủy. Một cái chết không nằm trong dự tính của họ. Họ bị một thứ gông cùm xiềng xích vô hình xô đẩy họ vào mâu thuẫn, hận thù. Nhưng tận trong sâu xa nơi tâm hồn họ, họ không thấy sự mâu thuẫn, hận thù mà chỉ thấy một màu da thơm mùa lúa chín, thấy yêu nhau, thấy gần nhau trong tiếng nói Việt Nam. Như vậy thì quả dân tộc ta đang gặp một cơn đại nạn. Và triệu người đã chết bất đắc kỳ tử, chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phát xuất từ đâu tới, chớ không phải từ trong lòng anh em Việt Nam, mà ngày nay có những quan điểm cho rằng đó là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm” của các nước lớn. Nói như Bửu Ý “… chiến tranh diễn ra không phải ở chiến trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh… Giữa một nền trời như vậy, thân phận con người là một vấn nạn, ta nên nói ngay: đây là một chủ đề tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý…” [4] . Những bài ca nổi tiếng trong giai đoạn này như “Tình ca của người mất trí”, “Ca dao mẹ”, “Gia tài của mẹ”, “Đi tìm quê hương” là những bài hát có ca từ rất buồn thảm, giai điệu blues dìu dặt, thở than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối, rồi bỗng nhiên nức nở, gào thét thảm thiết. Ông nói hộ những gì trong tâm hồn họ bị nổ ra vì quá đau khổ, u uất, vì không thể đè nén lại được nữa. Những ước mơ từ lâu họ không được quyền nói tới, phải được chôn sâu vào trong lòng, nay bỗng bùng lên trong tiếng hát của người mất trí [5] .

Không chỉ riêng Trịnh Công Sơn, hầu như người dân miền Nam nào cũng sống trong bi kịch ấy. Để minh chứng cho một thời đại đầy biến động này, chúng ta hãy đọc bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn khi viết về bộ đội miền Bắc với một giọng thơ ngất ngưởng:

Kẻ thù ta ơi, những đứa xăm mình
Ăn muối đá và điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi, vì ngươi bạc phước
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”...
(“Chiến tranh Việt Nam và tôi” - Nguyễn Bắc Sơn)
[6]

Những đứa xăm mình”, những con người ấy cũng một dòng máu như ta thôi. Trong lúc người lính Cộng hòa đã nhận ra cuộc chiến này “cũng chỉ một trò chơi” thì... phần đông “Kẻ thù ta ơi” đều “điên say chiến đấu”, đều tin chắc vào chính nghĩa của cuộc chém giết, đều hô hào cổ võ tàn sát một cách trịnh trọng. “Kẻ thù ta ơi” là một thế hệ tươi sáng, họ là những học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết, được đào tạo từ nhỏ về lòng yêu nước, yêu nước ở đây đồng nghĩa với ý thức của chủ nghĩa cộng sản về nhiệm vụ và sứ mệnh. Yêu nước ở đây đã gắn liền với một thể chế. Đây lại là một bi kịch khác. “Nhiệm vụ của ta là phải đấu tranh cho lẽ phải. Mà đã đấu tranh thì phải bỏ sức lực, phải suy nghĩ và phải hy sinh những quyền lợi cá nhân, có khi là cả cuộc đời mình, cho lẽ phải chiến thắng” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm) [7] .

Trong khi đó, ở chiến tuyến khác, trong bài “Nghinh địch hành” Hà Thúc Sinh viết:

Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
mà ăn uống cho say

Ta cũng người như chú
cũng nhỏ bé trong đời
có núi sông trong bụng
mà bất lực hôm nay
...
Vì nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết được
Sinh tử ở nơi nào.”
(“Nghinh địch hành” - Hà Thúc Sinh)

Một người lính Cộng hòa nói với một bộ đội miền Bắc, như nói với anh em và quả thật họ là anh em cùng giống “da vàng mũi tẹt” mà ra. Ta đối với chú mà nói được lời như thế vì lòng ta đã tới độ nguội lạnh, không còn gì khuấy động nổi một cơn điên say nữa. Đao to búa lớn: vô ích. Danh từ cao đẹp: vô ích. Lý tưởng thiêng liêng: vô ích [8] .

Cũng như bao người trí thức miền Nam khác, Trịnh Công Sơn đau đớn nhận ra điều ấy, những thảm cảnh mất mát mà ông thấy trong trái tim của ông. Cũng như dân tộc, chiến tranh của ông mang tính trừu tượng, trừu tượng trong cái nghĩa nồi da xáo thịt, ông không cần phân tích cái nồi đó thế nào, ai mang đến, ai đốt củi lửa. “Tắt một câu, trong dòng nhạc phản chiến của mình, Trịnh Công Sơn đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả. Mà tất cả làm theo mệnh lệnh của con tim mình (…). Trái tim nhân ái, nhạy cảm, chỉ biết nói lên những cảm xúc nồng nhiệt của mình đối với quê hương, dân tộc, dù thiếu vắng một thái độ chính trị, nhưng trung thực. Nghĩa là tự đáy lòng mình thì mình nói”
[9] .

Nhận định của Bửu Chỉ thật sâu sắc, tuy nhiên theo tôi, Trịnh Công Sơn không phải không có thái độ chính trị. Thái độ chọn lựa của ông đã thật rõ ràng. Ông dứt khoát không tham gia bên nào, vì đứng bên nào, ông cũng thấy trái tim mình nhói đau. Như một trò chơi, bạn bè thân của ông chia đều ở hai phía:

Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương
("Xin mặt trời ngủ yên" - 1964)

Người miền Nam thấy mình trong ca khúc “Cho một người nằm xuống”, Trịnh Công Sơn thương tiếc Lưu Kim Cương, một Đại tá Không quân Việt Nam Cộng Hòa tử nạn, là một người bạn hào hiệp của ông:

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa về cội nguồn…
Những xót xa đành nói cùng hư không.
("Cho một người nằm xuống" - 1968)

Người miền Bắc lại bắt gặp mình khi ông chia sẻ nỗi đau:

Tôi mất trong chiến tranh này
Bao nhiêu bao nhiêu nụ cười
Em từ Hà Nội có bao giờ được yên vui…
(“Tôi đã mất” - 1970)

Rồi trưa ngày 30 tháng tư năm 1975, chiến tranh chấm dứt, người ta nghe tiếng ông hát “Nối vòng tay lớn” trên Đài phát thanh Sài Gòn. Người miền Nam sửng sốt và thấy bị tổn thương như bị phản bội khi mà trái tim họ vốn đã tan nát khi Sài Gòn thất thủ.

Giải thích hành động này ra sao?

Văn Cao mấy chục năm trời im hơi lặng tiếng, bỗng vỡ òa niềm vui với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” ở cùng thời điểm này. Phải chăng những nghệ sĩ lớn đều như vậy, như đứa trẻ chỉ biết ca lên niềm hân hoan của dân tộc trong ngày vui chung của đất nước, sau bao năm ngăn cách. Vẫn là niềm vui vượt trên mọi quan điểm chính trị. Và tôi tin rằng, đối với Trịnh Công Sơn, ông cũng sẽ làm điều đó nếu chiến thắng trong cuộc chiến 1975 trước đây thuộc về những người lính Cộng hòa.

Ở Việt Nam, cái logic tư duy của người Việt thường thấy là: không bên này là bên kia. Điều này cũng dễ hiểu vì thực tiễn lịch sử Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ đã đặt con người vào cách tư duy trên. Thái độ không thật sự bên nào của Trịnh Công Sơn, đã khiến ông rơi vào cái nhìn nghi ngờ từ cả hai phía.

Bên Cộng hòa có người đã cho ông là “hèn nhát”: “Trịnh Công Sơn, ông chỉ là một cây sậy, hơn thế nữa, là một cây sậy yếu hèn (cho dù có là “cây sậy biết suy nghĩ” tới đâu). Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất yếu đuối, là một bản chất yếu đuối… Là cây sậy, ông khó mà đứng thẳng trước những trận gió ào ạt, những trận cuồng phong. Ông phải cúi rạp xuống. Là cây sậy, ông cũng tham sống sợ chết, cũng thích ăn ngon mặc đẹp, cũng run sợ trước bạo lực, cũng lo âu trước những nỗi bất an, những mối đe dọa rình rập…”
[10] .

Người ta nói “ông phải cúi rạp xuống… cũng run sợ trước bạo lực…”. Thế nhưng, khi nghiên cứu cuộc đời và nội dung các sáng tác của ông (các bài viết và trên 300 ca khúc), tôi không hề bắt gặp điều đó. Thậm chí, Trịnh Công Sơn rất ý thức khi không sáng tác một ca khúc nào có ca từ ca ngợi lãnh đạo, lãnh tụ hay ca ngợi thể chế mình đang sống, dù trong thời chiến tranh hay sau thời hậu chiến. Đó là lòng tự trọng của người trí thức mà không phải ai ai cũng có được.

Bên cộng sản thì “gạt ông qua bên lề” vì thiếu vắng lập trường chính trị. Trịnh Công Sơn chênh vênh giữa hai “lằn đạn”… mặc kệ những phán xét, ông sống theo suy nghĩ của riêng mình. Tôi nghĩ rằng, thái độ kiên định lập trường sống và hoạt động nghệ thuật của riêng mình chính là bản lĩnh hiếm có của một nghệ sĩ lớn. Là một nghệ sĩ, ông dùng lời ca để hát lên thân phận con người trong chiến tranh, kêu gọi hòa bình và tình yêu thương. Hành động dấn thân với tư cách là người nghệ sĩ đấu tranh cho hòa bình, theo tôi là một chọn lựa dũng cảm, đầy tính nhân văn của một trí thức. Và hành động ở lại Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư, thở cùng nhịp thở với đất nước, đau cùng nỗi đau của dân tộc là logic của một nhân cách lớn. Chính điều ấy đã làm ông trở thành một công dân “ngoại hạng”.

Và một nghịch lý đã xảy ra: Người dân bên nào cũng đều thích hát nhạc của ông, nhưng trớ trêu thay, chính quyền bên nào cũng đều ra sức cấm đoán.

Tại sao các chính quyền phải run sợ trước những lời ca phản chiến?

Vì quả thật, những gì Trịnh Công Sơn nói lên qua ca khúc của ông đều là nỗi lòng và mơ ước chung của mọi người dân nước Việt. Đó chính là tiếng nói của lương tâm con người. Năm trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói lên nỗi phẫn nộ và đau xót trước cảnh tàn hại do giặc Minh xâm lược gây ra: “…Dân chúng lưu ly, những nỗi lìa tan không kể xiết, binh sĩ đánh chác, luôn năm chết chóc đáng thương thay!”. (“Biểu Cầu Phong” - bài 21). Và trong “Bình Ngô đại cáo”, ông cũng nói lên thân phận con người bị giày xéo trong chiến tranh:

Nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc…
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.

Lịch sử Việt Nam như chúng ta biết, là một đất nước luôn luôn bị chiến tranh giày xéo, nội chiến phân ly. Vì vậy, những người dân trong đất nước này từ bao đời phải luôn sống trong cảnh lầm than. Hết giặc nọ đến giặc kia trùng trùng bủa vây. Nhà đại thi hào Nguyễn Du cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ 19, cũng nói lên nỗi thống khổ của người dân trong cảnh loạn lạc: Lần phố xin miếng ăn / Cách ấy đâu được mãi / Chết lăn rãnh đến nơi / Thịt da béo cầy sói (“Sở kiến hành”).

Trịnh Công Sơn, giữa thế kỷ 20 cũng nói lên bao cảnh thương tâm diễn ra hằng ngày trên một đất nước tang tóc chiến tranh.

Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,
Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng…
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng.
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn
("Đại bác ru đêm" - 1967)

Trong nỗi bi phẫn vì chiến tranh, Trịnh Công Sơn lên tiếng kêu gọi tranh đấu, đồng thời nói lên những khát khao hòa bình với những bài hát tiêu biểu như “Huế - Sài Gòn - Hà Nội”, “Nối vòng tay lớ”n, “Cánh đồng hòa bình”, “Ta phải thấy mặt trời”. Ca từ hùng hồn, mang tính đấu tranh thúc giục và đầy niềm tin về tương lai: Việt nam ơi / Còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau / Triệu chân em / Triệu chân anh / Hỡi ba miền vùng lên cách mạng (“Huế - Sài Gòn - Hà Nội” - 1969)

Hầu hết những ca từ mạnh mẽ hô hào đó, không phải là những hô hào chém giết, mà là hô hào chiến đấu cho hòa bình. Trịnh Công Sơn vẽ ra hình ảnh một đất nước sau chiến tranh rất huy hoàng:

Ta cùng lên đường
Đi xây lại Việt Nam
Bàn chân ta đi mau đi sâu vô tới rừng cao
Vác những cây rừng to
Về nơi đây ta xây dựng nhà
Dựng làng mới cho dân ta về
Dựng nhà mới cho miền quê
(“Dựng lại người dựng lại nhà” - 1968)

Ẩn đằng sau những ca từ cho một viễn cảnh thanh bình đó, vẫn là những dòng nước mắt, là nỗi ưu tư nhân thế, là tâm trạng đớn đau cùng cực của thân phận nhỏ bé của kiếp người. Vẫn là hạt bụi, vẫn là nỗi khắc khoải siêu hình trước cuộc nhân sinh. Chiến tranh, quê hương thân phận con người cuộn xoáy vào với nhau tạo thành một bi kịch. Rốt cuộc, thực chất cuộc đời ông là một kẻ suy ngẫm về kiếp người, một tên hát rong suốt đời lang thang, buồn bã. Chiến tranh cũng là bi kịch nhân sinh, như mọi bi kịch khác. Bởi vậy, có những lúc ông hô hào, reo ca đấu tranh cho hòa bình, thân phận ông cũng thế. Vẫn là một thân tượng buồn!

Vẫn là:

Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế
… Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.
(“Cỏ xót xa đưa” - 1969)

Có lẽ từ bài đầu tiên đặt bút viết, Trịnh Công Sơn đã nghiệm ra được chân lý riêng của mình: cái khả năng to lớn sau cùng của ca khúc là mang đến cảm thông giữa mọi người bằng tiếng hát. Đó là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, chờ đợi của con người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống, cũng như thông điệp tình yêu và nhân ái đến với những tâm hồn yêu chuộng hòa bình và những con tim đang bị ngộ độc bởi ngòi thuốc nổ. Cuối cùng gì, thân phận ông cũng như một ngọn cỏ bên đường. Và chính ngọn cỏ bé nhỏ đó đã tạo thành một Trịnh Công Sơn khác, mang ông đi vào vĩnh cửu.

Khái quát tư tưởng của Trịnh Công Sơn, cụ Đào Duy Anh đã hạ một câu chí tình: “Cái anh Trịnh Công Sơn này lạ thật, anh ta muốn ôm hết những mâu thuẫn và khát vọng của đất nước vào mình”
[11] .

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, thân phận da vàng của một nước nhược tiểu được Trịnh Công Sơn đẩy đến tận cùng:

Người nô lệ da vàng ngủ quên
Ngủ quên trong căn nhà nhỏ
Đèn thắp thì mờ…
(“Đi tìm quê hương” - 1967)

Với cái nhìn tỉnh táo, Trịnh Công Sơn đã nhận ra thân phận nô lệ da vàng của người Việt trong chiến tranh. Ông luôn nhắc nhở chúng ta về một dòng giống Lạc Hồng trong bối cảnh tranh giành quyền lợi của các nước lớn. Bởi vì, người Việt sống nhưng không có chủ quyền trong tay, sinh mạng hoàn toàn phụ thuộc vào ngoại bang cả ở hai phía, giá trị làm người bị phủ nhận, thì khác gì một nô lệ. Trinh Công Sơn hỏi: Vậy thì tại sao lại có cảnh nội chiến? Đây là lời tố cáo:

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một bọn lai căng,
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình…
(“Gia tài của mẹ” - 1965)

Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong ca từ mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Lai căng tức là từ bỏ con người văn hóa dân tộc của mình để biến thành một người khác. Lai căng là phụ thuộc ngoại bang từ bên này hay bên kia, bằng cách này hay cách khác. Bọn lai căng đó trở thành một lũ bội tình dân tộc, vì luôn luôn đứng sát với ngoại bang để bóc lột, mưu cầu quyền lợi, hãm hại đồng bào mình. Lời mẹ dặn con chớ quên màu da vàng, dặn con giữ gìn màu da vàng chính là một cách phản kháng tâm thức nô lệ, một hình thức chống lại những khuynh hướng lai căng đang đe dọa:

Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Con chớ quên màu da nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù
(“Gia tài của mẹ” - 1965)

Dân tộc của ông là trăm trứng nở ra trăm con trong huyền thoại lịch sử, cùng giống Con Rồng Cháu Tiên. Dân tộc của ông là thế: là tất cả mọi người, không phân biệt Nam-Bắc, không phân biệt giai cấp. Vì sao? Vì có người mẹ nào phân biệt con? Dân tộc, bởi vậy, mang hình ảnh bà Mẹ. Bà Mẹ đó luôn ăn năn - ăn năn cả đến việc đã sinh ra con, bởi vì sinh ra con để làm gì khi chúng sống một kiếp người đọa đày, thù hận?

Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn giọt lệ ăn năn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục chung thân

Chiến tranh là tủi nhục của bà Mẹ, vì xương thịt nào cũng từ bà mà ra, xương thịt nào cũng là Việt Nam. Cùng là đứa con của Mẹ mà thôi.

Tại sao từ một cuộc kháng chiến chống Pháp ban đầu, vì lý tưởng chung của dân tộc – đánh đuổi ngoại xâm - lại đưa đất nước vào con đường chia cắt, đẩy thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ cốt nhục tương tàn. Liệu có thứ triết thuyết hay chủ nghĩa cao cả nào có thể biện minh cho những quyết định lịch sử - đẩy anh em cùng giống Lạc Hồng lao vào cơn binh đao điên loạn này chăng? Vì lý tưởng hay vì cuồng vọng lợi quyền? Lịch sử mai sau rồi sẽ phán xét.


*


Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn là thế? Có người tán thành, có người còn nghi ngại. Âu cũng là lẽ thường tình vì cách nghĩ của con người có bao giờ là như nhau. Nó luôn vận động và nhận chân lại những giá trị, lý giải lại những gì đã qua. Cuộc đời này mãi mãi là như vậy.

Nhưng cho dù là gì đi nữa, theo tôi, chắc không ai không thừa nhận Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ lòng yêu thương con người. Mà cái gốc tình yêu thương của ông chịu ảnh hưởng sâu đậm triết lý “Tứ hải giai huynh đệ”, là nhân loại một nhà, vượt qua những hệ tư tưởng nhỏ bé, những hệ lụy đời thường. Ông đã đứng lên trên tất cả mọi thiên kiến chính trị để nói lên nỗi đau của người dân da vàng, của người dân nước Việt.

Và phải chăng, vì viết theo “mệnh lệnh của con tim”, chứ không theo một thứ mệnh lệnh nào khác, mà người đời đã vinh danh ông là kẻ du ca bất khuất của Việt Nam.

Ông ca tụng tình yêu thương, ông chống bạo lực và chống chiến tranh. Phải chăng đó là những chủ đề không chỉ có tính thời sự cấp thiết mà còn luôn luôn là vấn đề lớn của nhân loại của muôn đời.

Cho đến ngày nay, sau 31 năm kết thúc chiến tranh, nhìn lại những chặng đường thăng trầm của đất nước, có lẽ đã đến lúc chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua và thân phận các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn.

Và chúng ta hãy tự hỏi: thân phận da vàng người Việt ngày nay đã thực sự thoát đời nô lệ ngoại bang chưa?

Hay vẫn còn đó nỗi niềm:

Ôi gian nan đời nước nhỏ
Sao đau thương nhiều lắm thế
(“Quê hương đau nặng” - 1971)

Chiến tranh hạt nhân, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh giữa những hệ tư tưởng... nội chiến... ngay lúc này, chúng ta có thể nghe thấy tiếng bom nổ trong thành phố Baghdad, khủng bố ở Indonesia, India, ... cuộc chiến vẫn luôn chực chờ ở đâu đó và những ca từ kêu gọi hòa bình, yêu thương con người của Trịnh Công Sơn vẫn luôn mãi còn giá trị.

Việt Nam, tháng 7/2006

© 2006 talawas


[1]Trịnh Công Sơn, "Da vàng ca khúc", nguồn http://www.suutap.com
[2]Báo Người Việt - Hoa Kỳ, trong bài "Tiểu sử Trịnh Công Sơn", viết: "Trước đây tại Sài Gòn, Lê Hiếu Đằng, hiện nay là Tổng Thư ký Mặt trận Tổ quốc Sài Gòn, từng tuyên bố là khi nắm được chính quyền sẽ xử tử Trịnh Công Sơn về tội đã gọi chiến tranh Việt Nam là ‘nội chiến’ (trong câu hát ‘hai mươi năm nội chiến từng ngày’), thay vì phải gọi là ‘Chiến tranh chống Mỹ cứu nước’. Vì vậy, sau 30/4, Trịnh Công Sơn phải về Huế ngay khi Lê Hiếu Đằng vào Sài Gòn... Năm 1979 Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đứng ra che chở ông, đánh tiếng gọi ông về lại Sài Gòn."
[3]Cao Huy Thuần, "Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn", http://www.tcs-home.org
[4]Bửu Ý, "Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận", in trong tập Trịnh Công Sơn, rơi lệ ru người, NXB Phụ Nữ, 2003.
[5]Lê Trương, "Phong trào da vàng ca", http://www.suutap.com
[6]Võ Phiến, Tổng quan Văn học Miền Nam, nguồn http://www.tienve.org
[7]Đặng Thùy Trâm, Nhật ký, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005
[8]Võ Phiến, Tổng quan Văn học Miền Nam, nguồn http://www.tienve.org
[9]Bửu Chỉ, "Về những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn", báo Diễn Đàn Forum, tr. 29, tháng 9/2001, Paris.
[10]Lê Hữu, "Ảo giác Trịnh Công Sơn", Báo Văn học số Tân Niên tháng 02-03/2004, Cali, Hoa Kỳ.
[11]Nguyễn Đắc Xuân, Có một thời như thế, NXB Văn học, 2003

Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam

Ban Mai

Mở đầu tập Ca khúc da vàng viết năm 1967, Trịnh Công Sơn bày tỏ nỗi đau thống thiết: “Tất cả đã bể, đã vỡ toang. Tiếng thét đã chìm xuống biển thành tiếng nói trầm tư, thành lời kêu uất về thân thế Việt Nam. Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên cùng khắp. Ơi những bạn bè thân yêu đã chết từ đỉnh cao hay vực thẳm. Con người đã hóa thân làm vết thương. Cái chết hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa. Đã biến hình đổi dạng từ những cơn hiểm họa cay nghiệt nhất của nhân loại. Lìa cha mẹ, anh em, bằng hữu yêu dấu vô cùng. Hãy kết hỏa châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ. Đốt đuốc cho người điên ấm phố mùa đông. Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về bây giờ như thế đó. Hỡi người yêu da vàng của tôi hãy duỗi tay thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn. Tôi sẽ làm người tiều phu đi nhặt từng cánh tay, bàn chân, từng đốt xương, sọ người vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng cho đêm tìm lại dấu vết của một hành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm. Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau. Hãy thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó”. ("Da vàng ca khúc" Trịnh Công Sơn) [1]

Trong ca khúc “Gia tài của Mẹ”, Trịnh Công Sơn đã chỉ cho chúng ta thấy đây là một cuộc chiến tranh “nội chiến”. Chính quan điểm này đã làm cho chính quyền cộng sản e ngại ông. Bởi vậy, trong giai đoạn đầu của thời hậu chiến, có người ở chiến khu đã tuyên bố khi về Sài Gòn sẽ “xử tử” Trịnh Công Sơn
[2] . Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi. Với tôi, tôi đồng cảm cùng suy nghĩ của Trịnh Công Sơn, bởi vì đứng trên góc nhìn dân tộc, cái chết nào cũng đau xót như nhau. Vì tất cả đều chung giòng máu Lạc Hồng. Đó chính là bi kịch của người dân Việt. Với trái tim nhạy cảm và nhân ái vô cùng, Trịnh Công Sơn đã nhận ra điều vô lý ấy. Trong bài nói chuyện “Trịnh Công Sơn vì hòa bình và tình yêu” do “Hội Văn hóa Trịnh Công Sơn” tổ chức tại Paris đêm 3-5-2003, giáo sư Cao Huy Thuần đặt câu hỏi: “Có cái gì nổi bật trong nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn?” và khẳng định: “Chẳng có gì ngoài chữ tình” [3] . Đúng, nhạc chiến tranh của ông bắt nguồn từ tình yêu thương, nó là những bài tự tình dân tộc, ông nói hộ cho dân tộc thân phận khổ ải của kiếp người trong chiến tranh, là tiếng kêu thương tuyệt vọng của người dân trong cảnh thịt xương tan nát.


Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng

Khắp đất nước tràn đầy xác người:

Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai
("Hát trên những xác người" - 1968)

Là một trí thức, ông ý thức được thân phận nhược tiểu của đất nước mình trong bối cảnh tranh giành ảnh hưởng của các thế lực quốc tế. Cảm nhận được nỗi đau mất mát ấy, cho nên dù đang ở trong cái thế chống đối nhau, tự trong thâm tâm của người dân Việt, họ vẫn thấy yêu nhau, gần nhau:

Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam
Ngày gió lớn, tôi đi môi gọi thầm,
Gọi tên anh, tên Việt Nam,
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.
("Tình ca của người mất trí" - 1967)

Có lúc ông nói thẳng ra:

Hai mươi năm là xác người Việt nằm
Làm sao ta giết hết những đứa con Việt Nam?
Xưa ta không thù hận
Vì đâu tay ta vấy máu?
("Tuổi trẻ Việt Nam" - 1969)

Cái bi thảm nhất là ở chỗ: tay của người Việt ít nhiều đều vấy máu anh em mình, người yêu của mình. Tự trong thâm tâm, họ là anh em, cha con, là người yêu của nhau, nhưng trên thực tế, họ chém giết nhau, nhìn nhau xa lạ. Nhưng khi người yêu đó: Bỏ xác trôi sông, chết ngoài ruộng đồng / Chết rừng mịt mùng, chết lạnh lùng / Mình cháy như than, chết cong queo / Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu / Chết nghẹn ngào, mình không manh áo (Tình ca của người mất trí - 1967). Trong cuộc chiến tranh này, không ai ca khúc khải hoàn, không ai nằm chết trong vinh quang. Những người yêu đó đã:

Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò
Chết không hận thù, nằm chết như mơ

Trịnh Công Sơn cho rằng, đây là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồng thủy. Một cái chết không nằm trong dự tính của họ. Họ bị một thứ gông cùm xiềng xích vô hình xô đẩy họ vào mâu thuẫn, hận thù. Nhưng tận trong sâu xa nơi tâm hồn họ, họ không thấy sự mâu thuẫn, hận thù mà chỉ thấy một màu da thơm mùa lúa chín, thấy yêu nhau, thấy gần nhau trong tiếng nói Việt Nam. Như vậy thì quả dân tộc ta đang gặp một cơn đại nạn. Và triệu người đã chết bất đắc kỳ tử, chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phát xuất từ đâu tới, chớ không phải từ trong lòng anh em Việt Nam, mà ngày nay có những quan điểm cho rằng đó là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm” của các nước lớn. Nói như Bửu Ý “… chiến tranh diễn ra không phải ở chiến trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh… Giữa một nền trời như vậy, thân phận con người là một vấn nạn, ta nên nói ngay: đây là một chủ đề tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý…” [4] . Những bài ca nổi tiếng trong giai đoạn này như “Tình ca của người mất trí”, “Ca dao mẹ”, “Gia tài của mẹ”, “Đi tìm quê hương” là những bài hát có ca từ rất buồn thảm, giai điệu blues dìu dặt, thở than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối, rồi bỗng nhiên nức nở, gào thét thảm thiết. Ông nói hộ những gì trong tâm hồn họ bị nổ ra vì quá đau khổ, u uất, vì không thể đè nén lại được nữa. Những ước mơ từ lâu họ không được quyền nói tới, phải được chôn sâu vào trong lòng, nay bỗng bùng lên trong tiếng hát của người mất trí [5] .

Không chỉ riêng Trịnh Công Sơn, hầu như người dân miền Nam nào cũng sống trong bi kịch ấy. Để minh chứng cho một thời đại đầy biến động này, chúng ta hãy đọc bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn khi viết về bộ đội miền Bắc với một giọng thơ ngất ngưởng:

Kẻ thù ta ơi, những đứa xăm mình
Ăn muối đá và điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi, vì ngươi bạc phước
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”...
(“Chiến tranh Việt Nam và tôi” - Nguyễn Bắc Sơn)
[6]

Những đứa xăm mình”, những con người ấy cũng một dòng máu như ta thôi. Trong lúc người lính Cộng hòa đã nhận ra cuộc chiến này “cũng chỉ một trò chơi” thì... phần đông “Kẻ thù ta ơi” đều “điên say chiến đấu”, đều tin chắc vào chính nghĩa của cuộc chém giết, đều hô hào cổ võ tàn sát một cách trịnh trọng. “Kẻ thù ta ơi” là một thế hệ tươi sáng, họ là những học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết, được đào tạo từ nhỏ về lòng yêu nước, yêu nước ở đây đồng nghĩa với ý thức của chủ nghĩa cộng sản về nhiệm vụ và sứ mệnh. Yêu nước ở đây đã gắn liền với một thể chế. Đây lại là một bi kịch khác. “Nhiệm vụ của ta là phải đấu tranh cho lẽ phải. Mà đã đấu tranh thì phải bỏ sức lực, phải suy nghĩ và phải hy sinh những quyền lợi cá nhân, có khi là cả cuộc đời mình, cho lẽ phải chiến thắng” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm) [7] .

Trong khi đó, ở chiến tuyến khác, trong bài “Nghinh địch hành” Hà Thúc Sinh viết:

Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
mà ăn uống cho say

Ta cũng người như chú
cũng nhỏ bé trong đời
có núi sông trong bụng
mà bất lực hôm nay
...
Vì nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết được
Sinh tử ở nơi nào.”
(“Nghinh địch hành” - Hà Thúc Sinh)

Một người lính Cộng hòa nói với một bộ đội miền Bắc, như nói với anh em và quả thật họ là anh em cùng giống “da vàng mũi tẹt” mà ra. Ta đối với chú mà nói được lời như thế vì lòng ta đã tới độ nguội lạnh, không còn gì khuấy động nổi một cơn điên say nữa. Đao to búa lớn: vô ích. Danh từ cao đẹp: vô ích. Lý tưởng thiêng liêng: vô ích [8] .

Cũng như bao người trí thức miền Nam khác, Trịnh Công Sơn đau đớn nhận ra điều ấy, những thảm cảnh mất mát mà ông thấy trong trái tim của ông. Cũng như dân tộc, chiến tranh của ông mang tính trừu tượng, trừu tượng trong cái nghĩa nồi da xáo thịt, ông không cần phân tích cái nồi đó thế nào, ai mang đến, ai đốt củi lửa. “Tắt một câu, trong dòng nhạc phản chiến của mình, Trịnh Công Sơn đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả. Mà tất cả làm theo mệnh lệnh của con tim mình (…). Trái tim nhân ái, nhạy cảm, chỉ biết nói lên những cảm xúc nồng nhiệt của mình đối với quê hương, dân tộc, dù thiếu vắng một thái độ chính trị, nhưng trung thực. Nghĩa là tự đáy lòng mình thì mình nói”
[9] .

Nhận định của Bửu Chỉ thật sâu sắc, tuy nhiên theo tôi, Trịnh Công Sơn không phải không có thái độ chính trị. Thái độ chọn lựa của ông đã thật rõ ràng. Ông dứt khoát không tham gia bên nào, vì đứng bên nào, ông cũng thấy trái tim mình nhói đau. Như một trò chơi, bạn bè thân của ông chia đều ở hai phía:

Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương
("Xin mặt trời ngủ yên" - 1964)

Người miền Nam thấy mình trong ca khúc “Cho một người nằm xuống”, Trịnh Công Sơn thương tiếc Lưu Kim Cương, một Đại tá Không quân Việt Nam Cộng Hòa tử nạn, là một người bạn hào hiệp của ông:

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa về cội nguồn…
Những xót xa đành nói cùng hư không.
("Cho một người nằm xuống" - 1968)

Người miền Bắc lại bắt gặp mình khi ông chia sẻ nỗi đau:

Tôi mất trong chiến tranh này
Bao nhiêu bao nhiêu nụ cười
Em từ Hà Nội có bao giờ được yên vui…
(“Tôi đã mất” - 1970)

Rồi trưa ngày 30 tháng tư năm 1975, chiến tranh chấm dứt, người ta nghe tiếng ông hát “Nối vòng tay lớn” trên Đài phát thanh Sài Gòn. Người miền Nam sửng sốt và thấy bị tổn thương như bị phản bội khi mà trái tim họ vốn đã tan nát khi Sài Gòn thất thủ.

Giải thích hành động này ra sao?

Văn Cao mấy chục năm trời im hơi lặng tiếng, bỗng vỡ òa niềm vui với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” ở cùng thời điểm này. Phải chăng những nghệ sĩ lớn đều như vậy, như đứa trẻ chỉ biết ca lên niềm hân hoan của dân tộc trong ngày vui chung của đất nước, sau bao năm ngăn cách. Vẫn là niềm vui vượt trên mọi quan điểm chính trị. Và tôi tin rằng, đối với Trịnh Công Sơn, ông cũng sẽ làm điều đó nếu chiến thắng trong cuộc chiến 1975 trước đây thuộc về những người lính Cộng hòa.

Ở Việt Nam, cái logic tư duy của người Việt thường thấy là: không bên này là bên kia. Điều này cũng dễ hiểu vì thực tiễn lịch sử Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ đã đặt con người vào cách tư duy trên. Thái độ không thật sự bên nào của Trịnh Công Sơn, đã khiến ông rơi vào cái nhìn nghi ngờ từ cả hai phía.

Bên Cộng hòa có người đã cho ông là “hèn nhát”: “Trịnh Công Sơn, ông chỉ là một cây sậy, hơn thế nữa, là một cây sậy yếu hèn (cho dù có là “cây sậy biết suy nghĩ” tới đâu). Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất yếu đuối, là một bản chất yếu đuối… Là cây sậy, ông khó mà đứng thẳng trước những trận gió ào ạt, những trận cuồng phong. Ông phải cúi rạp xuống. Là cây sậy, ông cũng tham sống sợ chết, cũng thích ăn ngon mặc đẹp, cũng run sợ trước bạo lực, cũng lo âu trước những nỗi bất an, những mối đe dọa rình rập…”
[10] .

Người ta nói “ông phải cúi rạp xuống… cũng run sợ trước bạo lực…”. Thế nhưng, khi nghiên cứu cuộc đời và nội dung các sáng tác của ông (các bài viết và trên 300 ca khúc), tôi không hề bắt gặp điều đó. Thậm chí, Trịnh Công Sơn rất ý thức khi không sáng tác một ca khúc nào có ca từ ca ngợi lãnh đạo, lãnh tụ hay ca ngợi thể chế mình đang sống, dù trong thời chiến tranh hay sau thời hậu chiến. Đó là lòng tự trọng của người trí thức mà không phải ai ai cũng có được.

Bên cộng sản thì “gạt ông qua bên lề” vì thiếu vắng lập trường chính trị. Trịnh Công Sơn chênh vênh giữa hai “lằn đạn”… mặc kệ những phán xét, ông sống theo suy nghĩ của riêng mình. Tôi nghĩ rằng, thái độ kiên định lập trường sống và hoạt động nghệ thuật của riêng mình chính là bản lĩnh hiếm có của một nghệ sĩ lớn. Là một nghệ sĩ, ông dùng lời ca để hát lên thân phận con người trong chiến tranh, kêu gọi hòa bình và tình yêu thương. Hành động dấn thân với tư cách là người nghệ sĩ đấu tranh cho hòa bình, theo tôi là một chọn lựa dũng cảm, đầy tính nhân văn của một trí thức. Và hành động ở lại Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư, thở cùng nhịp thở với đất nước, đau cùng nỗi đau của dân tộc là logic của một nhân cách lớn. Chính điều ấy đã làm ông trở thành một công dân “ngoại hạng”.

Và một nghịch lý đã xảy ra: Người dân bên nào cũng đều thích hát nhạc của ông, nhưng trớ trêu thay, chính quyền bên nào cũng đều ra sức cấm đoán.

Tại sao các chính quyền phải run sợ trước những lời ca phản chiến?

Vì quả thật, những gì Trịnh Công Sơn nói lên qua ca khúc của ông đều là nỗi lòng và mơ ước chung của mọi người dân nước Việt. Đó chính là tiếng nói của lương tâm con người. Năm trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói lên nỗi phẫn nộ và đau xót trước cảnh tàn hại do giặc Minh xâm lược gây ra: “…Dân chúng lưu ly, những nỗi lìa tan không kể xiết, binh sĩ đánh chác, luôn năm chết chóc đáng thương thay!”. (“Biểu Cầu Phong” - bài 21). Và trong “Bình Ngô đại cáo”, ông cũng nói lên thân phận con người bị giày xéo trong chiến tranh:

Nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc…
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.

Lịch sử Việt Nam như chúng ta biết, là một đất nước luôn luôn bị chiến tranh giày xéo, nội chiến phân ly. Vì vậy, những người dân trong đất nước này từ bao đời phải luôn sống trong cảnh lầm than. Hết giặc nọ đến giặc kia trùng trùng bủa vây. Nhà đại thi hào Nguyễn Du cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ 19, cũng nói lên nỗi thống khổ của người dân trong cảnh loạn lạc: Lần phố xin miếng ăn / Cách ấy đâu được mãi / Chết lăn rãnh đến nơi / Thịt da béo cầy sói (“Sở kiến hành”).

Trịnh Công Sơn, giữa thế kỷ 20 cũng nói lên bao cảnh thương tâm diễn ra hằng ngày trên một đất nước tang tóc chiến tranh.

Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,
Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng…
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng.
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn
("Đại bác ru đêm" - 1967)

Trong nỗi bi phẫn vì chiến tranh, Trịnh Công Sơn lên tiếng kêu gọi tranh đấu, đồng thời nói lên những khát khao hòa bình với những bài hát tiêu biểu như “Huế - Sài Gòn - Hà Nội”, “Nối vòng tay lớ”n, “Cánh đồng hòa bình”, “Ta phải thấy mặt trời”. Ca từ hùng hồn, mang tính đấu tranh thúc giục và đầy niềm tin về tương lai: Việt nam ơi / Còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau / Triệu chân em / Triệu chân anh / Hỡi ba miền vùng lên cách mạng (“Huế - Sài Gòn - Hà Nội” - 1969)

Hầu hết những ca từ mạnh mẽ hô hào đó, không phải là những hô hào chém giết, mà là hô hào chiến đấu cho hòa bình. Trịnh Công Sơn vẽ ra hình ảnh một đất nước sau chiến tranh rất huy hoàng:

Ta cùng lên đường
Đi xây lại Việt Nam
Bàn chân ta đi mau đi sâu vô tới rừng cao
Vác những cây rừng to
Về nơi đây ta xây dựng nhà
Dựng làng mới cho dân ta về
Dựng nhà mới cho miền quê
(“Dựng lại người dựng lại nhà” - 1968)

Ẩn đằng sau những ca từ cho một viễn cảnh thanh bình đó, vẫn là những dòng nước mắt, là nỗi ưu tư nhân thế, là tâm trạng đớn đau cùng cực của thân phận nhỏ bé của kiếp người. Vẫn là hạt bụi, vẫn là nỗi khắc khoải siêu hình trước cuộc nhân sinh. Chiến tranh, quê hương thân phận con người cuộn xoáy vào với nhau tạo thành một bi kịch. Rốt cuộc, thực chất cuộc đời ông là một kẻ suy ngẫm về kiếp người, một tên hát rong suốt đời lang thang, buồn bã. Chiến tranh cũng là bi kịch nhân sinh, như mọi bi kịch khác. Bởi vậy, có những lúc ông hô hào, reo ca đấu tranh cho hòa bình, thân phận ông cũng thế. Vẫn là một thân tượng buồn!

Vẫn là:

Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế
… Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.
(“Cỏ xót xa đưa” - 1969)

Có lẽ từ bài đầu tiên đặt bút viết, Trịnh Công Sơn đã nghiệm ra được chân lý riêng của mình: cái khả năng to lớn sau cùng của ca khúc là mang đến cảm thông giữa mọi người bằng tiếng hát. Đó là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, chờ đợi của con người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống, cũng như thông điệp tình yêu và nhân ái đến với những tâm hồn yêu chuộng hòa bình và những con tim đang bị ngộ độc bởi ngòi thuốc nổ. Cuối cùng gì, thân phận ông cũng như một ngọn cỏ bên đường. Và chính ngọn cỏ bé nhỏ đó đã tạo thành một Trịnh Công Sơn khác, mang ông đi vào vĩnh cửu.

Khái quát tư tưởng của Trịnh Công Sơn, cụ Đào Duy Anh đã hạ một câu chí tình: “Cái anh Trịnh Công Sơn này lạ thật, anh ta muốn ôm hết những mâu thuẫn và khát vọng của đất nước vào mình”
[11] .

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, thân phận da vàng của một nước nhược tiểu được Trịnh Công Sơn đẩy đến tận cùng:

Người nô lệ da vàng ngủ quên
Ngủ quên trong căn nhà nhỏ
Đèn thắp thì mờ…
(“Đi tìm quê hương” - 1967)

Với cái nhìn tỉnh táo, Trịnh Công Sơn đã nhận ra thân phận nô lệ da vàng của người Việt trong chiến tranh. Ông luôn nhắc nhở chúng ta về một dòng giống Lạc Hồng trong bối cảnh tranh giành quyền lợi của các nước lớn. Bởi vì, người Việt sống nhưng không có chủ quyền trong tay, sinh mạng hoàn toàn phụ thuộc vào ngoại bang cả ở hai phía, giá trị làm người bị phủ nhận, thì khác gì một nô lệ. Trinh Công Sơn hỏi: Vậy thì tại sao lại có cảnh nội chiến? Đây là lời tố cáo:

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một bọn lai căng,
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình…
(“Gia tài của mẹ” - 1965)

Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong ca từ mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Lai căng tức là từ bỏ con người văn hóa dân tộc của mình để biến thành một người khác. Lai căng là phụ thuộc ngoại bang từ bên này hay bên kia, bằng cách này hay cách khác. Bọn lai căng đó trở thành một lũ bội tình dân tộc, vì luôn luôn đứng sát với ngoại bang để bóc lột, mưu cầu quyền lợi, hãm hại đồng bào mình. Lời mẹ dặn con chớ quên màu da vàng, dặn con giữ gìn màu da vàng chính là một cách phản kháng tâm thức nô lệ, một hình thức chống lại những khuynh hướng lai căng đang đe dọa:

Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Con chớ quên màu da nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù
(“Gia tài của mẹ” - 1965)

Dân tộc của ông là trăm trứng nở ra trăm con trong huyền thoại lịch sử, cùng giống Con Rồng Cháu Tiên. Dân tộc của ông là thế: là tất cả mọi người, không phân biệt Nam-Bắc, không phân biệt giai cấp. Vì sao? Vì có người mẹ nào phân biệt con? Dân tộc, bởi vậy, mang hình ảnh bà Mẹ. Bà Mẹ đó luôn ăn năn - ăn năn cả đến việc đã sinh ra con, bởi vì sinh ra con để làm gì khi chúng sống một kiếp người đọa đày, thù hận?

Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn giọt lệ ăn năn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục chung thân

Chiến tranh là tủi nhục của bà Mẹ, vì xương thịt nào cũng từ bà mà ra, xương thịt nào cũng là Việt Nam. Cùng là đứa con của Mẹ mà thôi.

Tại sao từ một cuộc kháng chiến chống Pháp ban đầu, vì lý tưởng chung của dân tộc – đánh đuổi ngoại xâm - lại đưa đất nước vào con đường chia cắt, đẩy thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ cốt nhục tương tàn. Liệu có thứ triết thuyết hay chủ nghĩa cao cả nào có thể biện minh cho những quyết định lịch sử - đẩy anh em cùng giống Lạc Hồng lao vào cơn binh đao điên loạn này chăng? Vì lý tưởng hay vì cuồng vọng lợi quyền? Lịch sử mai sau rồi sẽ phán xét.


*


Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn là thế? Có người tán thành, có người còn nghi ngại. Âu cũng là lẽ thường tình vì cách nghĩ của con người có bao giờ là như nhau. Nó luôn vận động và nhận chân lại những giá trị, lý giải lại những gì đã qua. Cuộc đời này mãi mãi là như vậy.

Nhưng cho dù là gì đi nữa, theo tôi, chắc không ai không thừa nhận Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ lòng yêu thương con người. Mà cái gốc tình yêu thương của ông chịu ảnh hưởng sâu đậm triết lý “Tứ hải giai huynh đệ”, là nhân loại một nhà, vượt qua những hệ tư tưởng nhỏ bé, những hệ lụy đời thường. Ông đã đứng lên trên tất cả mọi thiên kiến chính trị để nói lên nỗi đau của người dân da vàng, của người dân nước Việt.

Và phải chăng, vì viết theo “mệnh lệnh của con tim”, chứ không theo một thứ mệnh lệnh nào khác, mà người đời đã vinh danh ông là kẻ du ca bất khuất của Việt Nam.

Ông ca tụng tình yêu thương, ông chống bạo lực và chống chiến tranh. Phải chăng đó là những chủ đề không chỉ có tính thời sự cấp thiết mà còn luôn luôn là vấn đề lớn của nhân loại của muôn đời.

Cho đến ngày nay, sau 31 năm kết thúc chiến tranh, nhìn lại những chặng đường thăng trầm của đất nước, có lẽ đã đến lúc chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua và thân phận các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn.

Và chúng ta hãy tự hỏi: thân phận da vàng người Việt ngày nay đã thực sự thoát đời nô lệ ngoại bang chưa?

Hay vẫn còn đó nỗi niềm:

Ôi gian nan đời nước nhỏ
Sao đau thương nhiều lắm thế
(“Quê hương đau nặng” - 1971)

Chiến tranh hạt nhân, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh giữa những hệ tư tưởng... nội chiến... ngay lúc này, chúng ta có thể nghe thấy tiếng bom nổ trong thành phố Baghdad, khủng bố ở Indonesia, India, ... cuộc chiến vẫn luôn chực chờ ở đâu đó và những ca từ kêu gọi hòa bình, yêu thương con người của Trịnh Công Sơn vẫn luôn mãi còn giá trị.

Việt Nam, tháng 7/2006

© 2006 talawas


[1]Trịnh Công Sơn, "Da vàng ca khúc", nguồn http://www.suutap.com
[2]Báo Người Việt - Hoa Kỳ, trong bài "Tiểu sử Trịnh Công Sơn", viết: "Trước đây tại Sài Gòn, Lê Hiếu Đằng, hiện nay là Tổng Thư ký Mặt trận Tổ quốc Sài Gòn, từng tuyên bố là khi nắm được chính quyền sẽ xử tử Trịnh Công Sơn về tội đã gọi chiến tranh Việt Nam là ‘nội chiến’ (trong câu hát ‘hai mươi năm nội chiến từng ngày’), thay vì phải gọi là ‘Chiến tranh chống Mỹ cứu nước’. Vì vậy, sau 30/4, Trịnh Công Sơn phải về Huế ngay khi Lê Hiếu Đằng vào Sài Gòn... Năm 1979 Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đứng ra che chở ông, đánh tiếng gọi ông về lại Sài Gòn."
[3]Cao Huy Thuần, "Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn", http://www.tcs-home.org
[4]Bửu Ý, "Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận", in trong tập Trịnh Công Sơn, rơi lệ ru người, NXB Phụ Nữ, 2003.
[5]Lê Trương, "Phong trào da vàng ca", http://www.suutap.com
[6]Võ Phiến, Tổng quan Văn học Miền Nam, nguồn http://www.tienve.org
[7]Đặng Thùy Trâm, Nhật ký, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005
[8]Võ Phiến, Tổng quan Văn học Miền Nam, nguồn http://www.tienve.org
[9]Bửu Chỉ, "Về những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn", báo Diễn Đàn Forum, tr. 29, tháng 9/2001, Paris.
[10]Lê Hữu, "Ảo giác Trịnh Công Sơn", Báo Văn học số Tân Niên tháng 02-03/2004, Cali, Hoa Kỳ.
[11]Nguyễn Đắc Xuân, Có một thời như thế, NXB Văn học, 2003

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2009

Đọc và xem Mạt Lộ của Đào Hiếu

Bài đã đăng trên BBC Vietnamese

Cập nhật:11:36 GMT - Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2009/03/090326_bookreview_matlo.shtml

Cầm cuốn tiểu thuyết mới nhất của Đào Hiếu trong tay, cảm giác đầu tiên là thích thú. Thích thú từ cái đơn giản và mạnh mẽ của bìa 1. Dĩ nhiên, không thể so sánh bìa cuốn tiểu thuyết được in một cách "thủ công" này với bìa hàng vạn cuốn sách đang bày bán khắp nơi được in ấn "hiện đại" đầy hào nhoáng.

Chưa đọc vội, hãy nhìn vào tên nhà xuất bản với cỡ chữ khá lớn: LỀ BÊN TRÁI. Chắc hẳn nhiều người sẽ mỉm cười, cái cười ý nhị nhưng sảng khoái (đã có "lề bên phải" theo định hướng thì ắt phải có lề bên trái thôi). Lật vào những trang trong... Ông nhà văn này quả là kỹ lưỡng, dù ghi "in vài ba cuốn tặng bạn bè", ông vẫn chỉn chu thực hiện tất cả những quy ước quốc tế cho một ấn phẩm đàng hoàng: Có "copyright © " bằng tiếng Anh, có trang bìa lót, có trang giới thiệu ngắn... Đặc biệt trang cuối sách ghi rõ: "Xuất bản theo Điều 60 và 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992".

Như vậy, cuốn tiểu thuyết đã được thực hiện một cách trang trọng, đầy tinh thần trách nhiệm của một nhà văn, một nhà (tự) xuất bản. Gần như không có lỗi ấn loát nào, dù là một dấu chấm phẩy. Muốn biết thêm, độc giả còn có thể ghé thăm website: http//daohieu.com được in cuối trang 2, để thấy rõ ràng website Lề Bên Trái của Đào Hiếu cũng được chăm chút chu đáo thế nào.

Sở dĩ tôi cứ lan man ngoài bìa cuốn tiểu thuyết mà chưa vào phần cốt lõi là nội dung cốt truyện vì tôi tin rằng, một cuốn sách có giá trị thật sự không chỉ do nội dung mà còn phương cách nó được thực hiện. Nếu người viết không tôn trọng tác phẩm của mình thì sao có thể thuyết phục độc giả tôn trọng? Tôi yêu mến Đào Hiếu vì sự chu đáo này và ngưỡng mộ ông vì đàng hoàng xuất bản, đàng hoàng công bố tác phẩm của mình, giữa thời buổi cái gì cũng phải xin phép này. Ông đã tự xuất bản đứa con tinh thần này theo tinh thần tôn trọng quyền con người và cũng là cách khẳng định rằng quyền tự xuất bản vốn có ghi trong Hiến pháp nước sở tại mà lâu nay người dân và ngay cả chính ông "quên mất".

Bức tranh hiện thực

Chỉ khoảng 150 trang sách, tiểu thuyết Mạt Lộ của Đào Hiếu đã vẽ ra bức tranh vân cẩu của xã hội đầy nhem nhuốc hiện tại, xen giữa là vài hồi ức ngắn ngủi thời chiến tranh khốc liệt của những nhân vật trong truyện. Có thể hiểu, nhân vật Thọ, xưng "tôi" trong truyện không can dự gì nhiều, chỉ đứng ở vị thế một người quan sát và ghi chép tỉnh táo là chính tác giả - một người trong cuộc - về cuộc chiến đầy tranh cãi cách đây gần 40 năm và cay đắng chứng kiến những ghê tởm bây giờ.

Những dòng chữ trìu mến xót xa của tác giả dành cho Đại úy Quỳnh, bạn ông, người một thời phía bên kia chiến tuyến. Còn những đồng đội, đồng ngũ đã "chiến thắng" của ông chỉ được vẽ ra như những người lạc đường hoặc lỡ đi vào mạt lộ. Những đồng đội một thời ấy, họ bị lừa dối và đẩy vào cuộc chiến tương tàn mà không hiểu vì sao. Đến khi đã thâu tóm quyền lực nhờ chiến thắng, kẻ vốn dối trá cơ hội thì ngoi lên, đạp đổ mọi chuẩn mực, kẻ ngây thơ cũng bị cuốn vào guồng máy bất nhân không dứt ra được.

Từ một Trần Vũ, nhà văn, trung úy VNCH lỡ đi vào bưng rồi phải tự sát vì bị nghi kỵ. Từ Thu, một cán bộ nội thành bị lộ, vào bưng chỉ để cuống cuồng chạy trốn bom đạn, cam tâm để cấp trên lợi dụng tình dục vì mong một chức bí thư thành đoàn... rồi biến thành một quan chức hoang dâm sau này. Từ một Mười Đạt đi tù Côn Đảo vì họat động, bất lực về sau, từ một Ba Trần, thứ trưởng trong chính phủ Cách mạng Miền Nam sau thành siêu địa chủ... đều đi theo mạt lộ.

Đằng sau họ là một thế lực, một bóng ma đầy quyền lực của bóng tối, kẻ có tên Vương gia - một biểu tượng sinh động của kẻ cầm quyền. Chân dung ghê rợn của Vương gia được Đào Hiếu mô tả: "Ông không lộ diện nhưng có mặt khắp nơi, nhắc tới tên ông thì mọi người đều run sợ... Nhắc tới ông, những người lính già ôm mặt khóc cho đồng đội của mình đã bị đem thí quân trong trận Mậu Thân, trong chiến dịch càn quét sang Campuchia khốc liệt. Một tướng về hưu kể rằng số sĩ quan cấp tướng, cấp tá cấp úy...đã chết trong chiến dịch này bằng cả cuộc chiến tranh chống Mỹ gộp lại. Tất cả đều xuất phát từ cơn điên của ông ta. Ông ta đã quyết định hai chiến dịch lớn ấy vì muốn "tài năng hơn ông Giáp, nổi tiếng hơn ông Hồ" và sai lầm nghiêm trọng trong chiến lược đã hủy diệt hàng triệu sinh mạng, phá nát hàng trăm ngàn gia đình, gieo rắc đau thương đến từng làng quê, từng góc phố".

Đào Hiếu viết tiếp: "Theo tin đồn thì ông thuộc dòng dõi hoàng tộc triều Nguyễn, một trong những đứa cháu của vua Đồng Khánh. Nhưng về sau này, khi đất nước thống nhất, trong tư dinh của ông lại treo ảnh vua Hàm Nghi, em ruột Đồng Khánh, vì Hàm Nghi chống Pháp còn Đồng Khánh thì thân Pháp. Chính vì chuyện đồn đại ấy mà khi còn ở trong rừng mọi người đều gọi ông là 'vương gia'."

Nhân vật Vương gia là đầu mối cho thảm họa của dân tộc, kẻ ấy lại run sợ khi bị một bé gái lột mặt nạ. Chân tướng thảm hại của kẻ cầm quyền tất sẽ bị Chân, Thiện, Mỹ lật mặt.

Nghiệp chướng

Đào Hiếu không quên thế hệ trẻ, trong Mạt Lộ, nhân vật xưng tôi của ông dành nhiều tình cảm cho đám con cháu của những người ông quen biết, như Huy, Trúc, Quỳnh Vi... chỉ ngọai trừ giám đốc Minh, đứa con rơi của Vương gia với nữ bác sĩ riêng từ một thanh niên hiểu biết, đẹp đẽ biến thành tỉ phú sa đọa, một kẻ đánh mất niềm tin vào thế hệ đàn anh vì chứng kiến.

Nhân vật giám đốc Minh thổ lộ: "Ba đi làm cách mạng, đấu tố địa chủ, hạ nhục họ, bức tử họ, để rồi khi cách mạng thành công, ba và các đồng chí của ba truất quyền sỡ hữu đất đai của nhân dân, một mình vơ vét ruộng đất, trở thành những địa chủ khổng lồ. Giàu có vô lượng, chiếm hữu đất đai nhiều vô số" và "Ba quên rằng con là con của vương gia sao? Ông ta là một con người lạnh lùng cho nên giám đốc Minh này vô cảm, giám đốc Minh này thiếu tình người là chuyện có gì khó hiểu đâu. Khó hiểu là những người cộng sản. Họ rêu rao rằng họ đang thực hiện công bằng xã hội, giải phóng giai cấp, thế mà họ tàn ác, tham lam và lạnh lùng như những con người vô tính. Công ty của con là một công ty tư nhân nhưng con không thể lấy đất của dân nếu không có sự chỉ đạo, sự ủng hộ, sự đồng tình, sự chia chác... của nhà nước. Con chỉ là một cái bánh xe trong guồng máy mà thôi.".

Lời của tỉ phú Minh đã đúc kết toàn bộ những phi lý, những ghê tởm của xã hội hiện hữu. Mạt Lộ còn như một thiên phóng sự, cho ta thấy những cảnh hiện thực hôm nay: lớp người quyền thế ăn chơi sa đọa, lớp thanh niên chạy theo hưởng thụ, bọn cơ hội nước ngoài nhảy vào xâu xé, lũ côn đồ đầu trâu mặt ngựa bức hiếp dân lành.

Cuốn sách mở đầu bằng ngày cô Thu trẻ đẹp đi vào bưng và cuối sách là bà giám đốc Sở Thương nghiệp tên Thu ấy phát điên khùng rồ dại, chồng con chết thảm thương. Phải chăng là quả báo, là nghiệp chướng như Phật dạy? Đào Hiếu để cho độc giả tự hiểu, và cái kết cục của nhân vật Thu, nhân vật Minh, Mười Đạt cũng có thể là cái kết của Vương gia. Đọc Mạt Lộ của Đào Hiếu để khâm phục một người từng ở trong guồng máy như ông, nay đã thoát khỏi vũng nhơ nhớp. Ông là một chứng nhân. Tiểu thuyết Mạt Lộ của ông là một lời chứng không khó để kiểm nghiệm. Hãy nhìn sâu, nhìn kỹ để thấy như ông.

VÀ ÁNH SÁNG SẼ XUA TAN TĂM TỐI

VÀ ÁNH SÁNG SẼ XUA TAN TĂM TỐI

Nhã Nam

Phiên tòa đã kết thúc. Hồi kết của một vở kịch "công lý" nhiều người đã dự đoán là "vẫn như cũ" thôi. Và quả tình là như vậy, công lý vẫn chưa có cho những người mưu tìm công lý và sự thật.

Nhìn những hình ảnh được ghi lại trên trang nhà của DCCT, Vietcatholic và các trang điện tử như BBC, RFA, VOA, AP, AFP, Reuter... đưa tin, ai cũng thấy khát vọng công lý và sự thật đang được bày tỏ một cách tuyệt đẹp. Vâng, phải nói là tuyệt đẹp vì chưa bao giờ ở đất nước này dân chúng thể hiện khát vọng chính đáng của mình một cách tưng bừng và ôn hòa như vậy. Chân, Thiện, Mỹ vốn luôn hài hòa khắng khít với nhau, thiếu một yếu tố thì những yếu tố kia không thể tồn tại. Xem những hình ảnh, đọc những thông tin suốt chặng đường đi tìm Công lý và Sự thật của giáo dân Công giáo hẳn ai cũng dễ nhận ra Công lý đang đứng về phía nào giữa nhà cầm quyền và giáo dân. Chỉ trừ những người cố giả mù, giả điếc, cố bưng bít, cố lập lờ "đánh lận con đen" mới không thấy.

Con đường đến Công lý còn dài. Tất nhiên dài hơn rất nhiều lần quảng đường cả chục cây số từ Thái Hà đến Hà Đông. Nhưng với khát vọng cháy bỏng, giáo dân Công giáo đang từng bước thu ngắn lại con đường đó. Thiên tuế thì ngàn năm vẫn xanh tươi, bất chấp nắng hạn hay bão giông. Tôi tin rằng trong lòng mỗi giáo dân, trong lòng mỗi một con người tìm công lý đều có những nhành thiên tuế trong tim. Điển hình là giáo dân Thái Hà và luật sư Lê Trần Luật. Tôi cũng tin rằng, ngày càng có nhiều người đang tự giơ cao nhành thiên tuế để khẳng định rằng Công lý và Sự thật rồi sẽ chiến thắng gian trá và hung tàn.

Đức Giêsu đã nói: "không ai thắp một ngọn đèn rồi giấu nó vào thùng, một ngọn đèn đã thắp lên phải để nó trên bục cao để ánh sáng lan tỏa". Công lý phải được phơi bày để gian trá bị dập tắt. Những âm mưu trong phòng kín rồi sẽ bại lộ, những toan tính của bóng đêm sẽ bị ánh sáng của Sự thật phơi bày. Vở kịch kệch cỡm mà nhà cầm quyền dàn dựng với sự thủ vai đồng ca, đồng diễn của đủ loại công cụ: báo chí, truyền hình, tư pháp, hội đoàn nhà nước, du thủ du thực, côn đồ lưu manh, trí thức giả danh... càng bộc lộ cho dân chúng thấy sự ti tiện và hèn hạ của họ.

Ngày mai đây, khi trở lại cuộc sống bình thường, 8 giáo dân Công giáo "bị hại" và toàn thể giáo dân Thái Hà sẽ tự hào vì chí ít là họ đã chiến thắng trong Sự thật. Họ đã giương cao nhành lá thiên tuế - biểu tượng của chiến thắng - cho những kẻ ác thấy rằng họ không lui bước, không cúi đầu trước bóng tối.

http://dcctvn.net/news.php?id=2597

Thư gửi Hội đồng Nhân quyền Niên Hiệp Quốc

Thưa quý ngài, Tôi là Vũ Dũng, Đại sứ, Trưởng phái đoàn của lước Việt Lam tại LHQ. (ảnh đính kèm)
Tôi xin bày tỏ cùng quý ngài về tâm trạng hết sức ngỡ ngàng kèm chút rối bời tâm can của tôi về những cáo buộc của một tổ chức nhân quyền Việt Lam ở Hải ngoại về tình hình nhân quyền của Việt Lam. Hic, nàm sao mà quý ngài nại để chuyện ấy xảy ra ngay tại thành phố Geneva xinh tươi lày? Tôi cứ ngỡ lước tôi nghìn năm văn hiến, đảng tôi sáng suốt, tài tình, đỉnh cao trí tuệ noài người, nương tri của nhân noại cơ mà. Hôm lay, khi nghe những nời cáo buộc hết sức đanh thép của Ủy ban Nhân quyền cho Việt Lam tôi đã tối tăm mặt mũi, xiêu hồn lạc phách, bủn rủn chân tay, xây xẩm mặt mày. Hic, tôi cho rằng họ đã nợi dụng sự tự do quá đáng để công khai bôi nhọ đảng tôi trước toàn thể noài người. Hic, tôi cho rằng họ đã vu cáo chúng tôi thậm tệ, họ đã cố tình phớt nờ biết bao nhiêu thành tích rực rỡ mà đảng tôi mang nại cho nhân dân. Họ đã nên án chúng tôi có những hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhá, rồi đã gây áp nực không thể chịu đựng nổi đối với những người bất đồng chính kiến và gia đình của họ trong cuộc sống hàng ngày nhá... rồi lào nà mọi hoạt động bất đồng chính kiến ôn hoà bị bóp nghẹt một cách có hệ thống, rồi lào nà đàn áp dã man những cuộc biểu tình của lông dân và công nhân hồi tháng 9 lăm ngoái và nhiều người bị bắt trong những cuộc biểu tình đó vưỡn còn bị cầm tù trong điều kiện hết sức cực khổ, trong khi các blogger và nuật sư cũng đã bị bắt giữ nhá, với nại quản thúc Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người nãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nghiêm nhặt nhá...
Ối giời cao đất dày ơi, ngó xuống mà coi. Ối bác Mác, bác Nê, bác Mao, bác Hồ ơiiiiii. Bao nhiêu thành tích huy hoàng mà đảng tôi đã nàm chẳng ai thấy sao? Cứ nhăm nhăm vào cái thứ gọi nà nhân quyền với nại nhân kiếc. Lày nhá, những người bất đồng chính kiến vưỡn sống thoi thóp trong sự quan tâm sâu sắc và hết sức chu đáo của công an, an linh chúng tôi. Cứ vài ngày hay vài giờ chúng tôi nại hỏi thăm, vấn an một nần. Gia đình của họ cũng thế, chúng tôi no âu cho sự an tòan của họ nên cắt cử bố trí an linh, mật vụ canh gác ngày đêm. Lông dân oan ức nên thành phố khiếu kiện thì chúng tôi bố trí cho nguyên một góc vỉa hè, chung quanh có xe cam nhông che cho khỏi trúng gió, đi một bước chúng tôi no âu một bước. Thấy họ ở nâu không có chỗ đi tè, đi ị thì chúng tôi bồng bế họ nên xe đưa về bổn quán cho đỡ bức bách tâm can. Công nhân đình công nàm mất nòng nhà đầu tư thì chúng tôi nhẹ nhàng bày cho giới chủ bỏ đói, hay sa thải ngay thế nà đâu nại vào đấy. Giáo dân đi đòi đất thì chúng tôi mời họ ra tòa vừa đỡ rách việc vừa có ný do thuyết phục họ tin vào công ný. Ra tòa thì chúng tôi cắt cử hàng ngàn công an, súng ống, dùi cui, hơi cay, noa rè, xe chữa cháy, vòi rồng để che chở họ.
Báo chí cũng được chúng tôi chỉ đạo để tất cả đều đồng ca theo đúng giọng "nề bên phải", chỉ có vài nhà báo hơi có khuynh hướng đi chệch nề phải là chúng tôi mau chóng kịp thời đưa vào nề cho ngay ngắn đội hình. Dĩ nhiên bọn quấy rối đáng ngán ngẩm nhất nà bọn "bờ nốc gơ", bọn lày niên kết với nhau trên mạng gây ra trăm lỗi no toan từ cấp chính quyền cao nhất. Để uốn lắn, chúng tôi đã mời một số bờ nốc gơ vào nghỉ mát trong cơ sở nghỉ dưỡng dài hạn của công an. Não Điếu Cày nà một ví dụ, ai đời nà một cựu chiến binh đã không hết nòng bảo vệ đảng, não ta nại niên tục khiếu kiện từ báo công an, chính quyền cơ sở, chưa hết chuyện, não ta nại biểu tình chống thiên triều Trung Quốc. Thế nà chúng tôi cũng dùng chính công an, tòa án, báo chí cho não ấy nghỉ mát nhằm quảng cáo về nhà nghỉ Chí Hòa để bọn bờ nốc gơ tham khảo. Não Quảng Độ chúng tôi hết sức quan tâm nhá, thực sự chúng tôi cũng muốn não ấy được nhận một giải Lô Ben hòa bình nắm chứ, chỉ mỗi một yêu cầu nà lếu nhận giải thì trước tiên phải cám ơn đảng một phát cho thơm. Thế mà nghe chừng não lày cứng cổ, nại cầm noa hô hào nàm noạn. Thế có noạn không cơ chứ.
Cơ mà lước Việt Lam vưỡn còn may có đảng nuôn nuôn chỉ đạo để không ai có thể nàm noạn. Đơn giản nà giới nuật sư, hầu hết đều nghe theo đường nối sáng suốt tài tình. Bảo gì nghe lấy, vì nuật mà nơ tơ mơ nà hỏng hết. Tên nuật sư lào muốn yên ổn nàm ăn thì phải hiểu cái nuật bất thành văn lày. Cũng có vài tên nuật sư chưa lắm được điều ấy, cứ noạn cào cào đòi hỏi phải nàm đúng nuật, có mà giời sập! Não nuật sư Nê Trần Nuật bi giờ nà tắt đài rồi, mọi thứ chúng tôi đã bố trí, cần báo có báo, cần thuế có thuế, cần người nàm chứng cũng có ngay, cơ sở nghỉ mát cũng đã dọn chỗ... Cứ vào chung buồng với não Điếu Cày cho vui nà yên chuyện.
Tóm nại, chúng tôi cực nực nên án tất cả các cơ quan, tổ chức lào nói xấu lước chúng tôi. Chúng tôi cho rằng quý ngài Hội đồng Nhân quyền Niên Hiệp Quốc không nên cho phép bất cứ ai nập nại nời nẽ xúc phạm đảng và Việt Lam như thế. Bằng không, chúng tôi sẽ đếch thèm dự phiên họp điều trần lào lữa. Lóng mũi nắm. Bằng không đảng và nhà lước chúng tôi đếch thèm chơi với thằng lào, con lào sất.
Chấm hết

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009

Thượng thư bộ Binh VN ngợi ca quan thầy Tàu Khựa


24/03/2009

Binh bộ Thượng thư của Việt Nam Phùng Quang Thanh và Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Nghiên đã yết kiến Ngài Trần Bỉnh Đức, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Thiên triều Trung Quốc và bá cáovề việc tăng cường hợp tác giữa quân đội hai nước.

Bản tin hôm thứ hai của Tân Hoa Xã, cho biết Thượng tướng Trần Bỉnh Đức, Ủy viên Quân ủy Trung ương của đảng Cộng Sản Trung quốc tay cầm thượng phương bảo kiếm, dẫn theo một đoàn thuộc hạ gươm giáo sáng ngời, nhung phục nai nịt đầy đủ với một chiếu chỉ thượng khẩn hạ giá đến Việt Nam.

Theo Tân Hoa Xã, trong lễ nghi khấp đầu nhận chiếu tại Hà Nội, Đại tướng Phùng Quang Thanh thượng thư bộ Binh của Việt Nam nói rằng quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc là mối quan hệ 'vừa là đồng chí vừa là anh em'. Dĩ nhiên quan thầy Tàu Khựa là anh, VN chỉ là em út ít, nếu không muốn nói là lâu la thuộc hạ.

Thượng thư Thanh nói thêm rằng Việt Nam hết sức chú ý coi trọng việc phát triển các mối liên hệ giữa quân đội hai nước vốn đã như môi với răng, (dĩ nhiên thầy Tàu là răng, có thể cắn môi bất cứ lúc nào) và hy vọng thiết tha rằng sư phụ Tàu cho phép tăng cường chỉ bảo cặn kẽ và giáo huấn thêm để củng cố tình hữu nghị truyền thống Việt-Trung. Thượng thư bộ Binh VN bá cáo tình hình an ninh trị an của nhà cầm quyền với dân đen VN như thế nào, đã tạo điều kiện cho thuộc hạ quan thầy lên Tây Nguyên triển khai ra sao, bắt bỏ tù bao nhiêu người to mồm, bịt miệng bao nhiêu kẻ... Sau khi nghe bá cáo, sứ thần Tàu Khựa tỏ ý đắc chí, xoa đầu thượng thư Thanh và ban lời răn dạy cho tình hình sắp tới.

Thượng thư bộ Binh Việt Nam còn cho biết những vấn đề còn tồn đọng trong mối quan hệ song phương đang được toàn bộ triều đình VN cúc cung giải quyết thỏa đáng, quan thầy cứ yên tâm. Dĩ nhiên sẽ nói là thông qua đường lối ngoại giao và chính trị và tất nhiên không thể tác động tới mối quan hệ Việt-Trung và tình hữu nghị đời đời giữa hai triều đình.

Về phần mình, Thượng tướng Trần Bỉnh Đức nói rằng Trung quốc muốn làm việc thêm với Việt Nam để chỉ đạo kịp thời hòng xây dựng một biên giới hòa bình, hòa hợp và thịnh vượng, tránh tình trạng dân chúng VN kêu la mất đất và TQ muốn tiếp tục là láng giềng lớn, bạn bè hữu hảo, và "đồng chí" rất tốt của nhau.

Sau đó, Tể tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng đã yết kiến sứ thần Tàu để bá cáo toàn cục, những việc đã làm được, đang làm tốt và chắc chắn sẽ làm để thỏa nguyện ý chỉ của Thiên triều Trung Quốc. Sứ thần Thiên triều âu yếm vò đầu, vỗ mông tể tướng Dũng, hứa sẽ khỏan đãi trọng hậu tể tướng VN khi phụng mạng sang Tàu sắp tới.

Tổng hợp theo Tân Hoa Xã, Cổng TTĐT Chính Phủ và báo nước ngoài

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2009

Thiên An Môn qua câu chuyện của người lính dự trận

Tengzhou (Tân Châu), China – Cho dù đã 20 năm trôi qua, tiếng súng đạn cùng những hổn loạn, chết chóc trong trận tổng tấn công ở Thiên An Môn vẫn in rõ mồn một trong trí nhớ của cựu quân nhân Zhang Shijun. Cho đến bây giờ, ông là một trong rất ít người dám công khai lên tiếng biểu lộ sự ân hân của mình trong trận chiến đó.

Để chấp nhận làm nhân chứng về vai trò của mình trong việc quân đội đàn áp các sinh viên biểu tình ở Bắc Kinh vào năm 1989, Zhang nói rằng ông hy vọng sẽ thêm đà cho việc kêu gọi một sự điều tra và tái thẩm định lại phong trào đấu tranh – và để đẩy mạnh thêm cái mục tiêu tối hậu của nó, đó là cho một Trung Hoa dân chủ.

Ông Zhang, 40 tuổi, trong buổi phỏng vấn ở nhà ông ta tọa lạc ở phía bắc của thành phố Tengzhou đầy bụi bậm, nói rằng: “Tôi cảm thấy như linh hồn của tôi bị kẹt lại ở đó vào cái đêm ngày 3 tháng 6,” ám chỉ ngày mà cuộc tổng tấn công đã bắt đầu vào năm 1989.

Những kỷ niệm đầy thống khổ, ray rức của Zhang đã đạt được đối tượng trên toàn cầu giữa các cộng đồng người Hoa đối kháng cả mấy tuần liền kể từ khi ông cho đăng tải một lá thơ ngỏ trên mạng (online) gởi đến Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), chủ tịch đảng và nhà nước Trung Cộng. Trong đó, ông đã liên hệ một số những gì mà ông đã thấy khi đang thi hành nhiệm vụ trong đêm 3 và 4 tháng 6 với những khủng bố ngược đãi mà ông đã gánh chịu sau khi xin phép được giải ngũ sớm, và ông tin tưởng là trước sau gì thì Trung Hoa cũng phải làm sáng tỏ lương tâm người dân về các biến cố bi thảm đó.

Zhang nói” “Chúng ta không thể chỉ đổ trách nhiệm cho quân đội, đó là trách nhiệm chung của mọi người Hoa.”

Zhang chỉ có 18 tuổi khi ông gia nhập đơn vị quân đội thiện chiến 54 của Sư Đoàn 162 Thiết Giáp (Motorized Infantry Division), trụ sở tại trung tâm thành phố Anyang. Chưa đầy ba năm sau, do sự gia tăng chống đối chính quyền cầm đầu bởi giới sinh viên học sinh, đơn vị của Zhang được lệnh phải đến Bắc Kinh vào ngày 20 tháng 4 năm 1989. Tại đó, họ đã cắm quân ở mé tây nam thủ đô và cũng trong lúc đó dân chúng đã dựng lên những hàng rào để cản bước tiến của họ về Thiên An Môn, một quảng trường rông lớn ở ngay trung tâm thành phố nơi mà các sinh viên đã thiết lập tổng hành dinh của họ.

Vào ngày 3 tháng 6, lệnh thi hành của họ đã được ban ra: Hảy tiến thẳng vào quảng trường và quét sạch mọi chướng ngại.

Đông tiến về hướng quảng trường, Zhang và các bạn đồng đội của ông đã phải rời bỏ chiến xa của họ trước những đe dọa của gạch đá và những lằn đạn không biết do ai bắn từ các tầng lầu cao của khu gia cư đang tới tấp bay về hướng họ. Zhang nói là những người lính trong đơn vị của ông đã nổ súng trên đầu người dân để đe doa họ, ông còn cho biết là riêng phần ông thì chỉ là một lính cứu thương và không được trang bị vũ khí trong trận tổng tấn công đó.

Zhang nói ông biết là không có ca tử vong nào gây ra bởi quân lính của quân đoàn 54 - một luận điêu không thể nào bác bỏ được khi mà những tài liệu, hồ sơ chính thức về các sự kiện đó vẫn còn bị che đậy. Đa số những bài tường trình sau biến cố Thiên An Môn đã cáo buộc hàng trăm người tử vong, có thể lên tới hàng ngàn, kể cả dân sự và sinh viên, với hai đơn vị quân đội khác, đó là quân đoàn 27 và 28 đồn cứ bên ngoài Bắc Kinh.

Đến rạng sáng ngày hôm sau, Zhang nói là đơn vị của ông đã dựng lên một hàng rào dọc theo bờ phía nam quảng trường khoảng giữa tiệm ăn KFC và lăng tẩm của người sáng lập ra Cộng Sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông.

Zhang nói là các chi tiết khác thì quá nhậy cảm để nói ra, ý nói những hành động tàn bạo như bắn vào lưng các sinh viên và thường dân không mang vũ khí. Trong khi các nhân chứng khác có cáo buộc tương tự, họ vẫn không thể nào xác nhận riêng rẽ được.

Sau khi họ rút lui, Zhang nói rằng ông yêu cầu và cuối cùng thì được chấp thuận giải ngũ sớm, không bao giờ có dự kiến sẽ được gởi đến chống lại công dân bình thường. Sau khi trở về Tengzhou, ông lập một nhóm thảo luận nhằm đề xướng kinh tế thị trường và chính trị, nhưng bị bắt vào ngày 14 tháng 3 năm 1992 và bị kết án tù ba năm trong một trại lao động dành cho các tù nhân chính trị. Rồi thì bây giờ ông xem bản án đó như là một sự bày đặt để trừng phạt việc ông sớm rời bỏ đơn vị của mình.

Sau khi được thả ra, Zhang nói là ông đã đi khắp nơi để kiếm việc làm, trở về Tengzhou vào năm 2004 để buôn hàng mỹ thuật và đồ cổ và để nuôi nấng cô con gái 13 tuối của ông. Trong căn phòng làm việc cáu bẩn được trang hoàng bởi các bức thảo ngữ và đồ cổ mà ông đã sưu tầm, ông ngồi hàng giờ trước bàn chữ của cái máy điện toán cũ kỹ của ông để liên lạc với các nhà bất đồng chính kiến khác và để lướt tìm các nhóm thảo luận chính trị trên mạng tin điện

Zhang, vẫn giữ mái tóc hớt cua và dáng vẻ nghiêm nghị của một quân nhân, nói ông đứng ra một phần là để làm cho rỏ cái hạn tù cải tạo của ông, nhưng mục tiêu chính của ông vẫn là nhìn lại biến cố Thiên An Môn.

“Lúc đó, chúng tôi nghĩ rằng việc này sẽ được bàn đến trong một tương lai gần. Nhưng dân chủ dường như mỗi lúc một xa dần”, Zhang nói khi đang hút những điếu thuốc Trung Quốc hiệu ”General”.

Zhang hy vọng là trường hợp của ông sẽ giúp khuyến khích các cựu quân nhân khác bước ra và tạo thành một mạng lưới, nhưng ông có vẻ ngại đóng vai điều hợp viên có lẽ vì Đảng có xu hướng nhắm vào các lãnh đạo đối lập để trừng phạt nặng nề hơn.

Quả là như vậy, những hoạt động của ông đã gây nên sự chú ý của chính quyền. Các khách đến thăm viếng đều bị cảnh sát theo dõi. Zhang nói là nhà chức trách đã triệu tập ông hôm thứ Tư, một ngày sau khi hảng thông tấn AP phỏng vấn ông, ra lệnh ông phải lánh xa các cơ quan truyền thông nước ngoài.

Cựu giáo sư Ding Zilin, một người ủng hộ nạn nhân của Thiên An Môn vốn là cha mẹ của các thiếu niên bị giết trong trận đàn áp đó, nói rằng Zhang là một trong số rất ít binh sĩ dám nói thẳng về biến cố năm 1989. Nhiều người đã tham dự cuộc đàn áp đó vẫn tiếp tục che giấu dính dáng của họ, từ chối không đeo cái đồng hồ kỷ niệm đặc biệt dành cho các toán quân thi hành thiết quân luật.

“Hai mươi năm đã trôi qua, nhưng nếu các chiến sĩ vẫn còn có lương tâm, có thể có những người khác đứng dậy,” Ding nói.

Nicholas Bequelin, nhà nghiên cứu Á Châu cho cơ quan Giám Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) trụ sở ở New York, nói rằng lời khai từ những người tham dự cuộc đàn áp thật là vô giá để hình thành quan điểm về các sự kiện.

Sự việc Zhang đã tự nguyện bước ra như thế, Bequelin nói, chỉ làm gia tăng sự tin chắc trong số rất nhiều người rằng “sau này, việc tái thẩm định lại những sự kiện đó là điều không thể tránh được.”

Ảnh: Thiên An Môn, 05 tháng 6 năm 1989

Nguồn:

http://news.yahoo.com/s/ap/20090318/ap_on_re_as/as_china_crackdown_veteran