Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

"Tái ngộ Mỹ-Việt", bài báo bị kiểm duyệt

Tuấn Thảo / Đức Tâm

Bài "Tái ngộ Mỹ-Việt" của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam. RFI xin giới thiệu bản dịch.

36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ - Việt

Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’, vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹ trong việc đưa quân tham chiến Việt Nam, vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…

* *

Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp nhô cụm sóng trên biển « Hoa Nam » mà người Việt gọi là « Biển Đông ». Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh Việt Nam. Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại. Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.

Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên. Kể từ năm 2003, khoảng một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này, những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang, đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ - với tư các là thượng khách. Mọi chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam. 20 năm xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc chiếm được Sài Gòn, như thể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả viện trợ quốc tế đối với một chú lùn đã đánh bại mình và cấm vận thương mại đã được duy trì cho đến năm 1994.

Khu trục hạm « USS John S. McCain » ghé cảng Đà Nẵng

Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn ra tại Hà Nội. Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩ quan cao cấp của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh tạc cơ, và như vậy bị xem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi tại Việt Nam. Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trở thành một vị anh hùng đối với một bộ phận công luận Mỹ.

Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh…Còn giờ đây, vợ của vị tổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: « Thay vì là cựu thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm mức cao hơn (2) ».

Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm 2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000, trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3 tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần, nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3). Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, - chủ yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm 2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.

Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi, mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ kỹ và viết lại ký ức. Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của thời kỳ 1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn 1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh. (…) Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4). »

Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê. Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồng đô la xanh, mà còn nảy sinh từ « Giấc mơ kiểu Mỹ »: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh - một kỷ lục đối với các nước Đông Nam Á - đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương.

Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự

Miền nam Việt Nam, do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người ta có thể đọc thấy hàng chữ « We are back in Saigon ! » (« Chúng tôi trở lại Sài Gòn »)…

Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền. Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án – vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ nhàng tuyên bố « rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều ».

Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ trong các « cuộc cách mạng mầu » tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ. Phải chăng chính quyền Mỹ sẽ không khuyến khích một kịch bản « diễn biến hòa bình », mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam ?

Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những thù hận trong quá khứ. Thậm chí, năm 2011 có thể sẽ chứng kiến hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quan đến việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW, trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự - trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam, với các điều khoản của bản thỏa thuận Ấn Độ - Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).

Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : « Do Ấn Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy, chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc hội. Trong trường hợp của Việt Nam, nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt. »

Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định : « Hoa Kỳ sử dụng các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết ». Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm « các quốc gia hạt nhân trỗi dậy », đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình hạt nhân dân sự. Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Phải chăng « nhất bên trọng, nhất bên khinh ? » Khi còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói rằng « Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối với từng nước, từng vùng (7) ».

« Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng »

Đối với Washington, việc củng cố các quan hệ quân sự và hợp tác hạt nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình Dương. Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sự cho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải ; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng thủ chung.

Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chế Trung Hoa tất đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc. Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia, Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương còn nói rõ hơn : « Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất » (8). Đối với cường quốc Hoa Kỳ, lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này, không phải để chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từ nhiều thế kỷ qua, Việt Nam xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi sức hút của nó. Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn – nhập khẩu từ láng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy, ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales, Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng « không một nước nào có thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9) ». Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á. Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn : « Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10) ».

Công việc này cũng không phải là dễ dàng đối với Mỹ. Ông Brantly Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc lại rằng « sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu biết về mối quan hệ song phương này ». Phía Trung Quốc cũng đưa ra những mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : « Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp bênh vừa mong manh như vỏ trứng », người ta có thể đọc thấy những dòng này trên Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc (…) « Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào, có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam ».(12)

Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụ vào cuối thế kỷ XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương, « Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào Biển Đông. Đối với Việt Nam, đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»

Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bị bỏ qua

Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớ lại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này, vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục ông đã giải quyết thành công trong 25 năm. Viện trợ của Liên Xô đã biến mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn không thể nào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức, tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.

Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng. Ỏ Hà Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa nhắc lại rằng Việt Nam « là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy, quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14) ». Hiện nay, có nhiều điềm tốt. Thế nhưng « sự hung dữ của vị trí địa lý (15) » có thể vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam.

* *
Chú thích

(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranh ở miền nam Việt Nam

(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy (1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).

(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.

(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.

(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Mối quan hệ không rõ ràng : Những ấn tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 - An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, tập 7, n° 3, Washington, DC, 10/2010.

(5) Đọc Siddharth Varadarajan, « Ấn Độ khao khát được thừa nhận », Le Monde diplomatique, 11/ 2008.

(6) Tác giả của cuốn « Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản », HarperCollins, New York, 2006. Ngoại trừ có chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất phát từ các cuộc trao đổi.

(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, « Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán về công nghệ hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng », Bloomberg, 06/08/2010.

(8) Agence France-Presse, 07/2010.

(9) Carlyle Thayer, « Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ », hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 10/12/2010.

(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.

(11) Brantly Womack, « Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt », The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.

(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nên đùa với lửa », Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.

(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa (Brunei có đòi hỏi chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong « Những thay đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam », Harvard Asia Quarterly, Cambridge (Massachusetts), 12/2010

(14) Hoàng Anh Tuấn, « Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ : Một câu trả lời », Contemporary Southeast Asia, tập. 32, n° 3, Singapour, 2010.

(15) Carlyle Thayer, « Sự hung dữ của vị trí địa lý : Những chiến lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam», International Studies Association, Montréal, 03/2011.

http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20110715-tai-ngo-my-viet

Con rồng “thuộc địa hóa” Trung Quốc gây ra cái chết của thế giới

LTCG (18.07.2011) 

Thâu tóm mọi nguồn tài nguyên – Thao túng thị trường khắp thế giới

“Muốn đánh bại kẻ thù, trước tiên phải làm hắn ta mất cảnh giác; muốn thâu tóm ai đó, trước hết hãy đề nghị giúp đỡ họ” – Tôn Tử

Trong một chuyển động vĩ đại nhất của con người mà thế giới từng chứng kiến, Trung Quốc đang bí mật tích cực làm chuyển đổi toàn bộ lục địa đen Phi Châu thành thuộc địa mới của họ. Đây là sự lặp lại các chiến tích thuộc địa hóa hay chính sách thực dân của các đế chế phương Tây trong thế kỷ 18 và 19 nhưng với một qui mô to lớn và kế hoạch rõ ràng hơn rất nhiều, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc tin rằng Phi Châu có thể trở thành một nhà nước vệ tinh của mình và giúp giải quyết các vấn đề nội tại của Trung Quốc như nạn “nhân mãn” với dân số quá đông và tài nguyên thiên nhiên luôn thiếu hụt chỉ với một cú đánh ngoạn mục” – Daily Mail Online


Trong khi các nhà máy tại Hoa Kỳ ngày càng bụi bặm, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ và các lãnh đạo quân đội tiếp tục tập trung vào cự ly gần ở Trung Đông và khó nhìn thấy được điều gì khác hơn, và các chính trị gia tại Thủ đô Washington đang giấc mơ nồng, Trung quốc đang chuyển động trong một cuộc tuần hành vĩ đại. Một đội quân hàng triệu người đang di chuyển hung hãn xuyên qua Phi Châu và Mỹ La Tinh nhằm thâu tóm các nguồn tài nguyên thiên nhiên chiến lược của các quốc gia, thao túng toàn bộ các thị trường mới nổi, và khóa chặt các quốc gia như Mỹ, Châu Âu, Nhật, và các nền kinh tế khác của thế giới bằng việc xây dựng các chướng ngại nhằm ngăn cản các triển vọng tương lai của các nước này; và đã từ rất lâu rồi, thế giới bắt đầu chú ý sự xuất hiện ngày càng gia tăng của một thể chế “thuộc địa hóa” đang ở giữa chúng ta.

Con rồng “thuộc địa hóa” kiểu Trung Quốc chính là đứa con bị lãng quên được sản sinh từ con rồng “nền sản xuất quá đói kém” của Trung Quốc – riêng các nhà máy sản xuất ở Trung Quốc đã tiêu thụ một nửa lượng xi măng của thế giới, gần một nửa lượng thép của thế giới, một phần ba lượng đồng, một phần tư lượng nhôm, và một lượng rất lớn của mọi thứ nguyên liệu từ antimony, chromium, cobalt tới lithium, gỗ và kẽm. Đó là tất cả nguồn lực và còn hơn thế nữa  đến từ khắp thế giới nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế của mỗi quốc gia và chất lượng cuộc sống – và đó cũng là nguồn nguyên liệu thô để tạo ra tất cả công việc sản xuất và tạo dựng cộng đồng các công nhân lao động. Bauxite và quặng sắt đến từ Guinea và Tanzania để chuyển hóa thành nhôm và thép mà chúng ta cần để sản xuất máy bay ở Seattle, Washington và đóng các chiếc tàu ở Bath, Maine. Đồng đến từ Chile làm thành dây điện sử dụng trong nhà, Cobalt từ Congo giúp chế tạo các máy móc tại các cửa hàng ở Michigan, và chất niobium từ Brazil được sử dụng rộng rãi trong các động cơ đẩy tên lửa cho công tác quốc phòng và cả với các lò phản ứng hạt nhân tạo ra điện năng thắp sáng cho ngôi nhà của chúng ta

Chất Lithium từ Bolivia và Namibia sẽ là nhiên liệu cho các bình ắc quy sử dụng cho các loại xe ô tô lai (động cơ hybrid vừa dùng xăng, vừa dùng nhiên liệu khác), manganese từ Gabon giúp làm khuôn cho hàng tỉ lon có thể tái sử dụng mà chúng ta sử dụng để uống nước giải khát “soft drinks”,và chất Titanium từ những nơi như Mozambique và Madagascar hay Paraguay thì giúp sản xuất bất cứ thứ gì mà yêu cầu sự chắc chắn cao cùng với tỉ trọng nhẹ – từ thế kỷ 21 dùng để chế tạo máy bay Boeing 787 Dreamliner cho tới các khớp hông, khớp gối nhân tạo của công ty Johnson & Johnson.

Đó là các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các quốc gia khác nhau trên thế giới mà Trung Quốc hiện nay muốn có tất cả cho các nhà máy sản xuất của chính nó cũng như tạo ra thêm công ăn việc làm cho Trung Quốc. Và nếu chúng ta lười biếng đứng yên nhìn, bàng quang với các sự việc xãy ra trên thế giới và cho phép điều đó diễn ra, chúng ta sẽ phải sử dụng cái xẻng nạm vàng sản xuất tại Thượng Hải để tự đào nấm mồ chôn chính nền kinh tế của mình.

Nhưng trước khi điều đó diễn ra, tất cả chúng ta cần hiểu rõ chính sách “cây gậy và củ cà rốt”  – hay “mồi câu và chiếc roi” – của Bắc Kinh trong trò chơi “thuộc địa hóa”  kiểu Trung Quốc, nếu chúng ta có thể đối đầu với thể chế độc đoán đang biểu dương sức mạnh này và giải quyết tốt các tình huống phát sinh khẩn cấp cho cả sự sống còn của nền kinh tế và an ninh quốc phòng, chúng ta có thể có một tương lai khác hơn.

Cây gậy và củ cà rốt của con Rồng thuộc địa hóa

“Những con người của lục địa đen huyền bí và xinh đẹp, nơi cái nôi của nhân loại được sản sinh ra từ thung lũng Great Rift, đang tuyệt vọng trông chờ sự tiến bộ và giải thoát khỏi đói nghèo, người Trung Quốc đến đó không phải để giúp, họ đến để cướp bóc và vơ vét” – Daily Mail Online
Chiến lược “Cây gậy và Củ cà rốt” của Trung Quốc luôn bắt bầu với cùng kịch bản bằng việc Chủ tịch, Thủ tướng hay Ngoại trưởng Trung Quốc viếng thăm các quốc gia xa xôi của Phi Châu như Djibouti, Niger, hay Somalia, .v.v. những nơi mà đa số người Mỹ chưa nghe đến và thậm chí không biết cách chỉ ra trên bản đồ thế giới. Họ đến và vẫy tay với những cuốn séc dày cộm với những hứa hẹn và những khoản vay lãi suất ưu đãi hấp dẫn cho các dự án hạ tầng cả dân sự lẫn quân sự như cầu cống, đường cao tốc, bến cảng hoặc những cung điện nguy nga lãng phí cho các nhà cầm quyền quân phiệt hoặc những khẩu súng AK47 dùng để đàn áp những cái đầu bướng bỉnh phải chịu khuất phục đối với thể chế hiện hữu.

Trong sự trao đổi vụ lợi này với Trung Quốc, các thuộc địa thân hữu của Trung Quốc phải chấp nhận hai thứ để đánh đổi. Đầu tiên phải chấp thuận từ bỏ quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên của quốc gia để đổi lấy các khoản vay nợ Trung Quốc, vì vậy, điều này giúp Trung Quốc thâu tóm nguồn tài nguyên của quốc gia thuộc địa cho mục tiêu sử dụng của mình. Thứ hai, kế đến họ sẽ gây áp lực phải mở cửa thị trường của các quốc gia thuộc địa mới này cho các sản phẩm Trung Quốc được làm từ các nguồn tài nguyên thâu tóm được từ các thuộc địa được tự do tung hoành, và như vậy Trung Quốc đã nắm được và thao túng các thị trường mới nổi lên trên khắp thế giới.

Thực tế, kế hoạch gặm cỏ dần của Trung Quốc thông qua việc thâu tóm tài nguyên thuộc địa khác nhau cơ bản với phần còn lại của thế giới mà chủ yếu dựa vào các thị trường toàn cầu hóa để phân phối năng lượng và nguyên liệu thô thông qua hệ thống giá. Như vậy, kế hoạch dựa trên thị trường cung-cầu để phân bổ tài nguyên thiên nhiên là cần thiết đối với nền kinh tế toàn cầu vì dựa trên lợi ích của toàn thể cộng đồng. Tuy nhiên, thay cho việc tích lũy tư bản có tính hợp tác, các nhà tư bản thuộc địa hóa ở Bắc Kinh đã không làm như vậy mà đặt một dấu chấm thang to tướng tạo ra sự thuộc địa hóa đối với bàn cân lợi ích các quốc gia nghèo đói ở Phi Châu.

Một thực tế khác cho thấy, thỏa thuận hay thương lượngg với con Rồng thuộc địa hóa này đang diễn ra như một cú đấm sấm sét lan tỏa từ Phi Châu tới Châu Mỹ La Tinh và hầu hết vùng Trung Á, với cùng công thức:  tịch thu và giành lấy quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên tiêu biểu cho mức độ giàu có thực sự của nước sở tại sau khi đã biến họ thành thuộc địa kiểu mới. Xuất khẩu các tài nguyên này về Trung Quốc mà không cho các quốc gia bị thuộc địa kiểu mới này được sử dụng tài nguyên của chính mình cho việc phát triển kinh tế bản địa. Kế đến Trung Quốc sẽ bán các nguyên liệu chế biến dưới dạng các sản phẩm hàng hóa hoàn chỉnh và được sản xuất ở Trung Quốc ngược lại cho các thuộc địa mới. Và điều này dễ dàng tạo ra thêm công ăn việc làm và lợi nhuận lớn cho các xí nghiệp, công ty bên trong Trung Quốc, và dĩ nhiên sẽ làm kéo dài thêm chuỗi các thất nghiệp và nghèo đói tại các quốc gia thuộc địa mới này.

Các quốc gia bị thuộc địa kiểu mới này chỉ nhận được các công việc thuộc loại nguy hiểm, lương thấp trong các ngành công nghiệp khó nhọc trong khi các công việc sản xuất có hàm lượng giá trị cao được chuyển đến các nhà máy ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu. Tất cả những thứ tốt sẽ được dành cho Trung Quốc, tất cả các thứ tệ hại được chuyển cho các quốc gia thuộc địa kiểu mới này.

Nền ngoại giao “vung tiền mua chuộc” của Trung Quốc

“Khi chúng ta trở về với thực tại, chúng ta thấy rằng Trung Quốc giống như đang xâm lược vào Lục địa Phi Châu”  -  Ngoại trưởng Lybia – Musa Kusa
Hiện tại, chính sách thuộc địa hóa dùng cây gậy và củ cà rốt của Trung Quốc đang áp dụng đối với mọi nơi trên toàn cầu. Thế chấp gán nợ về dầu hỏa của Angola đối với Trung Quốc đã hơn 10 tỉ đô la và vẫn còn đang tiếp diễn. Cộng hòa dân chủ Công-gô vướng vào một trao đổi hạ tầng với Trung quốc lấy mỏ đồng trị giá hàng tỉ đô la đầy thiệt hại. Ghana thì trao đổi hạt ca cao trong khi Nigeria thì bán khí đốt tự nhiên cho Trung Quốc và Sudan gia tăng trang bị quân sự qua việc thanh toán phí tổn và gánh nợ bằng dầu hỏa. Không quốc gia nào trong số các quốc gia kể trên nhận được kết cục tốt đẹp trong bất cứ các thương vụ nào.

Trong khi đó, tại Peru, một quốc gia ở Mỹ Châu, Trung Quốc hiện đang sở hữu toàn bộ một quả núi có chứa quặng mỏ đồng; và trong thương vụ mua núi Toromacho, các nhà thực dân kiểu mới ở Bắc Kinh đã sử dụng một triết lý phổ biến nhất của người Mỹ là “Đừng bao giờ cho đối phương dù là một phút lơi lỏng”. Thực tế cho thấy, thương vụ hời cho Trung Quốc về mỏ đồng đã mang lại cho họ khoảng tài sản mỏ đồng tương đương 3 tỉ USD mà có lãi hơn 2000% (20 lần) riêng cho việc đầu tư này. Điều đó cũng có nghĩa là nạn đói kém, bệnh dịch, lạc hậu và các tại nạn liên quan đến hầm mỏ và tàn phá môi trường trên thực tế sẽ tiếp tục diễn ra cho người dân trong vùng núi Peru này.

Tệ hại cũng không kém là vụ việc dễ dàng thấy, liên quan đến nhà độc tài đang chạy trốn Robert Mugabe của Zimbabwe, nhà chuyên chế độc tài già nua và run rẩy này, người đang vận hành đất nước giàu tài nguyên và thiếu trầm trọng việc làm, đã gán hơn 40 tỉ đô la trử lượng kim loại quý Platium của Zimbabwe để nhận lấy chỉ khoảng 5 tỉ USD. Sau đó, ông ta dùng tiền này để xây các cung điện mới, để mua trực thăng chiến đấu, các chiến đấu cơ, súng tiểu liên ám sát và cả giày ống sản xuất tại Trung Quốc trên nổi thống khổ của người dân xứ sở Zimbabwe này.

Chỉ duy có Trung Quốc mới có thể so sánh và làm cho Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid và thời kỳ khốn khó Apartheid mới trông còn dễ chịu hơn!

“Sẽ ra sao nữa, rồi sao nào?”, bạn sẽ hỏi. Trung Quốc không chỉ nhắm vào các nguồn tài nguyên này như Mỹ, Châu Âu và Nhật đã từng ư? Và tại sao công dân Mỹ phải quan tâm nếu Trung Quốc chỉ xé xác vài quốc gia với các nhà độc tài tham nhũng ở Phi Châu hoặc vài nhà nước chịu ảnh hưởng đói nghèo vùng Nam Mỹ? Nếu như các địa ngục trần gian là các quốc gia trong thế giới thứ 3 mà các nhà lãnh đạo tại đây lại quá tham lam và ngu dốt thì cứ việc để họ phải chịu sự tra tấn của Trung Quốc vậy. Điều gì khả dĩ có thể ảnh hưởng đến đời sống của nhân viên tại các công ty và nhà máy sản xuất đá graphite tại Bensenville, Illinois, hay thủy tinh nhuộm màu tại Kokomo, Indiana, hoặc đồ nội thất gỗ tại Asheboro, North Carolina? Và làm thế nào vài chính sách thuộc địa hóa kiểu Trung Quốc lại có thể ảnh hưởng đến triển vọng công ăn việc làm của một chàng trai trẻ vừa tốt nghiệp đại học ngành hóa trường Cal-Berkeley hay một phụ nữ trẻ có bằng kỹ sư vừa rời trường George Tech? Vậy thì ít nhất nên có một câu trả lời về việc này.

Bằng cách thiết lập mối quan hệ thuộc địa xuyên qua các châu lục như Châu Phi, Châu Á, và cả sân sau của nước Mỹ là Châu Mỹ La Tinh, Trung Quốc đang ngày càng nắm giữ nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới bên cạnh các tài nguyên hiện có của thị trường toàn cầu và tất cả đều trong tầm ngắm của họ. Chiến lược khóa chặt và sở hữu “thuộc địa hóa” các nguồn tài nguyên thiên nhiên khiến cho Trung Quốc có thể sử dụng các tài nguyên này khi cần với chi phí rẻ nhất và do vậy họ dễ dàng có lợi thế về giá thành cạnh tranh với Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.

Trong thực tế, để thấy rõ điều Trung Quốc đang làm và để hiểu thêm chính sách muốn khóa chặt và thôn tính nguồn tài nguyên thì không gì rõ ràng hơn việc quan sát cách ngụy trang thô thiển bằng việc cấm vận sử dụng tài nguyên đối với các nước trong phần còn lại của thế giới. Ví dụ, các nhà sản xuất Trung Quốc có thể khóa chặt việc sử dụng bauxite từ Brazil, Equatorial Guinea, và Malawi; Đồng từ Congo, Kazakhstan, và Namibia; quặng sắt từ Liberia và Somalia; mangan từ Burkina Faso, Cambodia, và Gabon; nickel từ Cuba và Tanzania; và kẽm Algeria, Kenya, Nigeria, và  Zambia, và do vậy chắc chắn ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động của các nhà máy tại Cincinnati, Memphis và Pittsburgh hoặc Munich và Yokohama hay Seoul.

Chính sách cấm vận trên thực tế của Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho họ hàng tỉ tấn tài nguyên tự nhiên và là lý do tại sao các nhà máy sản xuất xe ô tô trong tương lai sẽ tập trung ở Lan Châu, Vũ Hán thay thế cho Detroit và Huntsville; Đó là lý do tại sao, các loại máy bay của tương lai sẽ được chế tạo tại Binzhou và Shenyang, Trung Quốc thay cho Seattle and Wichita, Hoa Kỳ; các thế hệ vi mạch máy tính, vi xử lý thế hệ mới sẽ được chế tạo tại Đại Liên và Thiên Tân  thay thế cho Silicon Valley; Các nhà máy cán thép trong thế kỷ 21 sẽ đặt tại Tangshan và Vũ Hán thay cho Birmingham, Alabama và Granite City, Illinois.

Đây không phải là cách thức thị trường tự do vận hành, cũng không phải các quan hệ hợp tác quốc tế thông dụng thường có. Không phải một quá trình lâu dài. Tất cả chúng ta nên nhận thức rõ một sự xúc phạm đối với tất cả với cách làm này. Tuy nhiên, tại các bàn tròn chính trị tại Berlin, Tokyo, và Washington, một thái độ dường như không hơn nhân vật Rhett Butler trong tác phẩm Cuốn theo chiều gió: “ Ồ bạn thân mến, tôi không làm gì nguy hại cả”

Con Rồng “bị quá tải dân số” chạy quá nhanh qua Lục địa đen

“Bất cứ điều gì họ nói, có một sự thật là người Trung Quốc đến Châu Phi không chỉ với các kỹ sư và nhà khoa học. Họ đang đến với cả các nông dân. Đó là chủ nghĩa thực dân mới. Không có chỗ cho đạo đức và giá trị nào” -   Nghị sĩ Ai Cập – Mustafa al-Gindi
Thậm chí là khi Trung Quốc phát triển một cách bùng nổ, các quốc gia sản xuất khác sẽ gặp khó khăn và đi đến phá sản, sự nảy mầm Trung Quốc trong chính các quốc gia thuộc địa mới này, từ Angola tới Zimbabwe, họ duy trì khai khoáng trong sự đói nghèo, đau khổ và các cuộc chiến tranh dân sự đẫm máu thường xuyên. Dù rằng có một thực tế là các quốc gia này đang có một địa vị cao khi đang nắm giữ các tài nguyên thiên nhiên đáng giá nhất của trái đất.

Sự đói nghèo đang diễn ra và các xung đột dân sự là một hệ quả trực tiếp nhất của phần trừng phạt bằng cây roi hay cây gậy của chính sách ngoại giao “dùng tiền mua chuộc” với “cây gậy và củ cà rốt”.

Chính sách trừng phạt diễn ra như thế nào: vào giai đoạn đầu của chính sách quan hệ thuộc địa mới, “củ cà rốt” của Trung Quốc được đưa ra với nhiều hứa hẹn rằng nguồn tiền vay của Trung Quốc sẽ giúp xây dựng hạ tầng cơ sở cho quốc gia bản địa và sẽ có lợi cho số đông dân chúng địa phương bằng cách tạo ra hàng ngàn việc làm mới và sự tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, “cây gậy” được đưa ra khi Trung Quốc hoàn toàn xuất khẩu một đội quân triệu người để giành lấy việc xây dựng hạ tầng này.

Thay cho việc thuê các nhân công địa phương của các ngành về kiến trúc, kỹ sư, công nhân xây dựng, và các công ty vận tải, một “cây gậy” Trung Quốc được sử dụng tối đa tạo điều kiện cho các lao động Trung Quốc tới các thuộc địa mới, sử dụng các điều khoản có lợi nhất cho Trung Quốc đã được ký trong các hợp đồng hợp tác dạng này.

Đây là tình huống bị thuộc địa hóa đáng buồn và đáng tiếc nhất của mảnh đất Sudan mà các tác giả cuốn sách “China Safari” viết:

Nơi đây người Trung Quốc khoan dầu và bơm nó vào các đường ống của Trung Quốc, được bảo vệ bởi một người Trung Quốc mạnh bạo đang trên đường tới một bến cảng cũng được xây dựng bởi người Trung Quốc, nơi mà dầu sẽ được bơm lên những bồn chứa lớn để chở về Trung Quốc. Những người lao động Trung Quốc xây dựng đường xá, cầu cống và những đập chứa nước khổng lồ và làm biến mất quyền sở hữu các mảnh đất nhỏ của hàng chục ngàn nông dân địa phương; Người Trung Quốc phát triển trồng trọt lương thực cho chính họ, đáp ứng nhu cầu ăn uống của chính họ với rau cũng của Trung Quốc và nguyên liệu nhập khẩu cũng từ Trung Quốc; Người Trung Quốc vũ trang cho một chính phủ phạm tội ác chống lại nhân loại; và Người Trung Quốc bảo vệ chính phủ đó và liên kết chặt chẽ với nó trong Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc.

Và đây là bí mật nhỏ với một vết nhơ lớn nhất về tham vọng thực dân mới của Trung Quốc. Trong khi đang thâu tóm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thao túng các thị trường mới là các mục tiêu chiến lược chủ yếu, các nhà hoạch định trung ương Bắc Kinh cũng muốn xuất khẩu có hệ thống hàng triệu công dân Trung Quốc vào các “nhà nước vệ tinh” tại Phi Châu và Mỹ La Tinh để giảm thiểu áp lực tăng dân số quá mức ở Đại Lục. Trong cuốn “China Safari”, một nhà khoa học Trung Quốc mô tả chiến lược di dời dân số này như sau: chúng ta có 600 con sông ở Trung Quốc, 400 trong số này đã bị chết bởi ô nhiễm… chúng ta sẽ phải gửi ít nhất 300 triệu người tới Phi Châu trước khi chúng ta bắt đầu chứng kiến kết cục các vấn đề nghiêm trọng của chúng ta.

Và đây chỉ là một trường hợp nhỏ tại nơi mà có thể giải thích hiện tượng nhập cư mà Trung Quốc đang áp đặt lên Lục Địa Đen:  khi Namibia bị phá sản với hàng tỉ USD nợ vay của Trung Quốc, các con cá mập chủ nợ ở Bắc Kinh đã đòi nợ bằng cách thương lượng một sự chấp thuận cho hàng ngàn gia đình Trung Quốc tới Namibia. Thực tế, bí mật thương vụ này chỉ được phơi bày qua Wikileaks; và có lẽ không cần nói gì thêm, khi các tin tức được tiết lộ, nó đã gây phẫn nộ dữ dội của người dân nước này.

Bạn có thể cũng đã rất phẫn uất rồi, nếu các đôi giày nhập cư đang bước trên đất Mỹ. Chỉ cần nghĩ về điều đó thôi: nếu một ít tỉ đô la tiền nợ của Trung Quốc cho phép họ quyền được gửi hàng ngàn người tới Namibia, bao nhiêu trăm ngàn người nhập cư bạn có thể hình dung Bắc Kinh muốn chính phủ Hoa Kỳ phải chấp nhận để đổi lấy một khoảng nợ hai ngàn tỉ đô la của Trung Quốc? Nhưng mà nè, cũng vẫn còn có rất nhiều đất trống ở Montana và Wyoming đó !

Đối với phạm vi giới hạn của một chiến lược đang gây sửng sốt, chiến lược đồng hóa chủng tộc hay Trung Quốc hóa Châu Phi đen, nhà báo nổi tiếng với nhiều giải thưởng Andrew Malone mô tả sự phát triển rất hung hãn này: với một nhóm nhỏ ban đầu, một cộng đồng Trung Quốc 750 ngàn người gây ngạc nhiên, đã và đang sinh sống tại châu Phi hơn một thập kỷ qua. Những người khác đang trên đường tới. Chiến lược thôn tính này đã được hoạch định cẩn thận bởi các quan chức tại Bắc Kinh, nơi một chuyên gia đã ước lượng rằng Trung quốc sẽ cần gửi 300 triệu người tới Phi Châu để giải quyết các vấn đề dân số quá mức và ô nhiễm môi trường.

Các kế hoạch đang vào guồng. Xuyên qua Phi Châu, cờ đỏ Trung Quốc đang tung bay phấp phới. Các thương vụ sinh lời hấp dẫn đang được mang ra chiêu dụ, đánh đổi để mua bán hàng hóa với Trung Quốc – dầu hỏa, bạch kim, vàng, và khoáng chất. Các đại sứ quán và các đường bay đang mở thêm ra. Các tầng lớp ưu tú của Trung Quốc có thể được nhìn thấy khắp mọi nơi, đang dạo chơi mua sắm tại các cửa hàng sang trọng đắt tiền của chính họ, đang lái những chiếc siêu xe Mercedes và BMW, đang gửi những đứa trẻ con họ tới các trường tư thục độc quyền dành riêng cho họ… băng qua lục địa vĩ đại này, sự hiện diện của người Trung Quốc đang phình to như một cơn lũ … các khu phức hợp kín cổng cao tường và độc quyền, chỉ phục vụ riêng thức ăn Tàu, và là nơi người da đen không được phép đến, đang được xây dựng trên khắp châu lục. “Quần áo kiểu Phi Châu” được bán tại các chợ trong khắp châu lục hiện nay chủ yếu được nhập khẩu, mặt sau luôn ghi lời nguyền “ Made in China”.

Từ những câu chuyện về tổn thất của Malone, bạn có thể tự suy xét và soi sáng thêm rằng đó không chỉ là các nhóm công nhân xây dựng được Trung Quốc xuất khẩu sang Phi Châu, Á Châu, Mỹ La Tinh. Trung Quốc còn mang sang cả nông dân, thương gia, và thậm chí cả gái điếm.

Để đặt chiếc máy xúc đất kiểu Trung Quốc đúng chỗ, giả sử chính quyền Mỹ bỏ qua hai bang Iowa và Nebraska, tịch thu hàng triệu hécta đất hoa màu chủ yếu, chuyển nó qua cho Trung Quốc, và bảo với người nông dân địa phương đi chỗ khác chơi, và chia tách phân biệt chủng tộc giữa những người hàng xóm, và họ thôn tính luôn các nhà xưởng, công sở của Hoa Kỳ. Chỉ thử hình dung mức độ giận dữ của người Mỹ xem?  À, đó chính là điều thực sự đang diễn ra tại Phi Châu, nơi mà hàng triệu người nông dân Trung Quốc đã có mặt. Những người nhập cư Trung Quốc này đang canh tác đất của người châu Phi để sản xuất thực phẩm và xuất khẩu ngược về Trung Quốc đại lục một cách độc quyền cho các bàn ăn của người Trung Quốc – thậm chí cả khi nạn đói nghèo của người dân Phi Châu đang hoành hành xung quanh họ.

Đây chỉ là một vị đắng nhỏ trong thương vụ thôn tính đất đai Sino-African: theo tờ báo The Economist , Trung Quốc đã thâu tóm hơn 7 triệu hécta các cánh đồng dầu cọ chủ yếu của Công Gô và phục vụ cho nhiên liệu sinh học. Tại Zambia, các cánh đồng của Trung Quốc đã sẳn sang cung ứng một phần tư số trứng được bán tại Thủ đô Lusaka. Còn tại Zimabbwe, theo tờ Weekly Standard, thể chế Mugabe đã đi xa hơn khi cho phép các công ty nhà nước Trung Quốc được tự do sở hữu các nông trại của người da trắng trước đây. Trớ trêu thay, con Ngựa Gỗ thành Troy mang tên “Những nông trại hữu nghị” đã được sử dụng tại các quốc gia từ Gabon, Ghana, và Guinea tới Mali, Mauritania,và Tanzania để khóa chặt các vùng đất lớn nhỏ và được đặt dưới sự giám sát và che chở của những chiếc Ra đa theo dõi về chính trị một cách kỹ lưỡng.

Thương vụ mua cả Phi Châu và Mỹ La Tinh
Thêm vào cơn lũ người nông dân Trung Quốc là các làn sóng các thương nhân Trung Quốc càn quét qua cả Phi Châu và Mỹ La Tinh. Một số người đến cùng với cơn lũ hàng hóa Trung Quốc tràn ngập các thành phố lớn như Kinshasha, Kampala, Lagos, Lima, và Santiago.

Số khác là các thương nhân thuộc loại mạo hiểm hơn, họ xếp dỡ hàng xuống từ những chuyến tàu và máy bay và bán cho các thành phố đang phát triển bùng nổ thuộc vùng sâu hơn mà có các dự án xây dựng của Trung Quốc xuyên qua khắp các châu lục cả Phi Châu và Mỹ La Tinh

Khi cả gái mại dâm nhập cư Trung Quốc xuất hiện, thật không phải chuyện đùa ở đây. Và cũng giống như các ông anh bà con của họ đang làm những sản phẩm hàng hóa nhằm thôn tính khu vực này, các quý cô Trung quốc của màn đêm, vào làm cho các quán bar và nhà thổ mọc lên đầy xung quanh các khu thương mại thuộc địa và họ cũng áp dụng chiêu ma mãnh là phá giá để loại các đối thủ địa phương ra. Các tác giả cuốn China Safari phải thốt lên rằng nền kinh tế mại dâm ở quốc gia giàu tài nguyên gỗ rừng Camaroon: “ gái mại dâm Trung Quốc dụng chiêu giảm giá chỉ còn 2000 CFA (khoảng 4,25 USD) tại những nơi mà gái mại dâm người địa phương có giá không thấp hơn 5000CFA”

Và đây là một câu chuyện khôi hài cười ra nước mắt mà chúng tôi có được để hiểu vì sao nền kinh tế chịu nhiều áp lực đã dẫn đến vấn đề nhập cư của Trung Quốc: khi cảnh sát nỗ lực giải cứu một nhóm phụ nữ Trung Quốc được mang đến bởi bọn buôn người để làm mại dâm tại Congo-Brazzaville, những phụ nữ kêu nài được ở lại nước này. Đó là vì tiền và cách xử lý họ có được ở đây hơn hẳn bất cứ điều gì họ nhận được từ quê nhà vùng Tứ Xuyên.

Hiển nhiên, họ chấp nhận thân phận mại dâm tại các nhà thổ Congolese hơn là quay về quê nhà với các nông trại cùng với các cộng đồng thân quen của họ trên vùng đất của rồng.

Trung Quốc xuất khẩu các trần nhà với nguy cơ sụp đổ chết người và các chất thải độc hại

“Các công ty Trung quốc đang trả lương cho người lao động rẻ mạt và bắt họ làm việc nhiều giờ hơn; làm sao có thể kỳ vọng họ làm khác hơn khi ở nước ngoài?  Với hơn 6.700 thợ mỏ Trung Quốc chết vì tai nạn mỗi năm (khoảng 17 người chết/ngày) …. Làm thế nào có thể kỳ vọng các liên doanh Trung quốc có thể làm tốt hơn phần còn lại của thế giới? … Trung Quốc đã phá hỏng hệ sinh thái và môi trường sống của chính họ trong quá trình hiện đại hóa nhanh chóng; làm sao có thể kỳ vọng họ có đủ lương tri để thực hiện các kế hoạch làm ăn thân thiện và bảo vệ với môi trường kiểu phương Tây tại những nơi khác?” -  Wenran Jiang, University of Alberta
Nếu các công nhân xây dựng, thương nhân, gái mại dâm, nông dân hoặc làn sóng hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc làm đóng cửa các cơ xưởng và doanh nghiệp địa phương, Trung quốc đang xuất khẩu một cách có hiệu quả các vấn nạn của chính họ về kinh tế và thất nghiệp vào các thuộc địa mới của họ, trong khi thúc đẩy tiến trình làm cho dân bản địa phải nhận trợ cấp an sinh xã hội của chính phủ như một gánh nặng hoặc phải ăn xin ngay trên đường phố của chính họ.

Nhưng đây không phải là các xuất khẩu độc hại duy nhất.

Trung Quốc còn xuất khẩu cả “sự bất cẩn đầy tai tiếng” mà ngay tại đất mẹ của họ cũng không có cả sự bảo vệ tối thiểu về môi trường làm việc và an toàn lao động cho công nhân. Giáo sư Wenran Jiang đã nhấn mạnh như trên, không ai ngạc nhiên về điều này. Các nhà hoạch định chính sách tại trung ương ở Bắc Kinh thậm chí không bảo vệ các công nhân cùng máu mủ ruột thịt với họ hay tài sản môi trường sống nào, tại sao ai đó lại kỳ vọng Trung Quốc sẽ làm điều tốt hơn và khác biệt hơn tại mỏ than ở Congo, hay các khu rừng ở Gabon, mỏ Bạc ở Peru, hoặc mỏ đồng ở Zambia?

Thực tế, sự vô liêm sỉ của Trung Quốc khi tàn phá đất đai của các thuộc địa mới dường như không có giới hạn, không có biên giới. Chỉ cần xem qua điều đã xãy ra khi tập đoàn nhà nước lớn nhất Trung quốc là Sinopec vào Gabon khai thác dầu hỏa.

Câu chuyện xảy ra vào năm 2002, chính phủ Gabon khi đó với tầm nhìn xa đã qui hoạch hơn một phần tư diện tích quốc gia – hầu hết là rừng nguyên sinh – làm khu bảo tồn tự nhiên. Tuy nhiên, khi thâm nhập vào Gabon, Sinopec đã nhanh chóng thọc sâu vào giữa trung tâm của khu bảo tồn rừng nguyên sinh này. Họ đào và đắp các con đường dang dở xuyên qua các khu rừng trong khi bừa bãi khai thác các vùng đất trong công viên bảo tồn – và chỉ nhận sự phản đối yếu ớt của chính quyền địa phương. Và đầy rẫy những viên “kim cương máu” được khai thác để đổi lại vũ khí Trung quốc ở những nơi như Congo để tàn sát những người dân vô tội và trang bị vũ trang cho cả trẻ em, trong khi tiền bán gỗ của Liberian cho Trung quốc dùng để tài trợ tài chính và vũ khí cho cuộc chiến đẫm máu kinh hoàng trên đất nước này.

Khi bạn cần sự trợ giúp đối phó với những kẻ chà đạp xuyên biên giới, ai có thể giúp?

Tại Namibia, đang phát sinh vấn đề điều trị bệnh, các công nhân được bảo rằng “ráng chịu cực  khổ, sau này các thế hệ tương lai sẽ được hưởng”. Tại Kenya, cộng đồng dân cư đã ngăn chặn các công việc xây dựng đường và yêu cầu cung cấp nước sạch cho nhu cầu nội địa và dân sinh. Đây là nơi có độ cao và hạn hán nghiêm trọng và nhà thầu Trung quốc không cho cộng đồng dân cư được tới gần các giếng khoan nước trong phạm vi làm đường. – African Review
Liên quan đến sức khỏe và an toàn của công nhân, không có gì hơn ngoài nỗi sợ hãi và  lời oán than trong các nhà máy và hầm mỏ mà các ông chủ người Trung Quốc đang vận hành ở Phi Châu và Mỹ La Tinh. Ngay cả tại Trung quốc, đây cũng là câu chuyện dài, lương tiền rẻ mạt, môi trường lao động không an toàn, và những gã chủ mắng nhiếc không thể tin được – cùng với những vấn đề như đánh tráo chất thải khai khoáng để thải lậu vào môi trường lân cận xung quanh.
Bạn cần một chi tiết vấy máu hơn? À, xem qua chuyện đáng khóc, xấu xa gớm ghiếc này:  khi các công nhân tại mỏ than Collum, miền nam Zambia, trình báo khiếu nại về đồng lương thấp và điều kiện làm việc không an toàn, hai trong số những ông chủ đang tràn đầy hạnh phúc của họ đã lập tức dùng súng bắn hạ 11 thợ mỏ. Nơi mà diễn viên điện ảnh gạo cội Clint Eastwood  đóng vai trong phim “The Pale Rider” – anh ta đã ở đâu khi bạn cần anh ta?

Và phát súng không phải là một việc quá xa lạ. Chỉ một ít tháng sau đã có một vụ khác tại hầm mỏ khác ở Zambia, vụ tấn công biến thành cuộc bạo loạn khi một quản đốc người Trung Quốc bắn vào đám đông. Dĩ nhiên, viên chức ngoại giao ở Bắc Kinh lập tức gọi vụ tàn sát này là “một sự cố nhỏ”.  Ui chà, bạn nghĩ sao?

Giải mã sự phi đạo đức của Trung Quốc làm xói mòn niềm tin của Phương Tây

Trong số 640 triệu vũ khí cầm tay vòng quanh thế giới, ước lượng có khoảng 100 triệu được tìm thấy ở Phi Châu “ – Baffour Dokyi Amoa, Pambuzaka News
Mọi người cho rằng tất cả hệ quả thảm khốc đều liên quan đến chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Trung Quốc, một câu hỏi mở là tại sao có quá nhiều các quốc gia Phi Châu, Á Châu, Mỹ La Tinh đều đang mở rộng vòng tay đón chào Trung Quốc. Thực tiễn có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng vài người đặc biệt trả lời dựa trên phân loại quốc gia mà chúng ta đang nói tới. Một kiểu trả lời nhân cách hóa là bởi liên quan đến các nhà nước độc tài ở châu Phi, nơi mà luật lệ được ban hành bởi chính quyền quân sự, những tên sát nhân hàng loạt vô nhân tính, hoặc các nhà lãnh đạo dân chủ được bầu qua những lá phiếu đánh tráo hoặc dưới những họng súng. Các thể chế dân chủ giả mạo tại Angola, Sudan, Zimbabwe luôn đứng đầu danh sách các quốc gia này. Tại các nước châu Phi và Mỹ La Tinh khác, có đặc điểm là nền dân chủ rất yếu hoặc phe quân đội nắm quyền lực mạnh mẽ, nguyên tắc của thực dân Trung quốc đưa ra căn bản là câu khẩu hiệu lạnh lùng được nói đầu tiên bởi chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trước quốc hội Gabon: “ chỉ kinh doanh, không đề cập tới chính trị”.

Thừa hưởng nguyên tắc phi đạo đức này, Trung Quốc làm kinh doanh với bất kỳ chính phủ nước ngoài nào, bất chấp tình trạng thiếu lòng trắc ẩn và tình người, bất chấp sự hà khắc áp chế, bất chấp cả hiện tượng tham nhũng diễn ra tràn lan. Để làm điều đó, họ chìa bàn tay giúp đỡ trong bối cảnh khủng hoảng và đề nghị giúp đỡ với các điều khoản kinh doanh bất chấp tình trạng nhân quyền hay minh bạch tài chính của các nước thuộc địa mới này.

Ngày nay, không khó khăn gì, bạn cũng có thể thấy kế hoạch phi đạo đức của Bắc Kinh đối với chính sách ngoại giao đã mang lại các ưu thế mạnh mẽ vượt qua các quốc gia văn minh thật sự của thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, một cách không thể tin được. Các quốc gia này, hoặc với tư cách cá nhân hoặc thông qua các thể chế như Liên hợp quốc cần cố gắng sử dụng các phương tiện ngoại giao như cấm vận thương mại và phong tỏa tài khoản ngân hàng và hỗ trợ ngoại giao để giám sát và kềm chế các tên bạo chúa tại các quốc gia thuộc địa mới này.

Tuy nhiên, khi các quốc gia dân chủ văn minh cố gắng gây áp lực như vậy, cần đẩy lui con Rồng “thuộc địa hóa” – một cách khéo léo qua cửa sau. Do vậy, Hoa Kỳ cần cắt đứt ngoại giao thương mại với Sudan vì chính quyền quân đội Ả Rập tại đây đang giết chết nhiều người da đen Châu Phi tại Darfur, hoặc khi Liên hợp quốc áp lệnh cấm vận quân sự vào Bờ Biển Ngà hoặc Siera Leone, hoặc khi Châu Âu gây áp lực lên Etriea hoặc Somalia, hay khi toàn thế giới chống lại nhà độc tài Robert Mugabe của Zimbabwe và bắt ông ta phải chia sẻ quyền lực thông qua cuộc tổng tuyển cử, các nhà cơ hội phi đạo đức ở Bắc Kinh đều tranh thủ tìm các hành động mới. Họ đưa ra các đề nghị béo bở đối với các thể chế độc đoán, bất cứ điều gì đối tác mong muốn – từ các vũ khí hạng nhẹ và máy bay chiến đấu tiên tiến đến các máy tính đời mới và hệ thống viễn thông hiện đại.

Đây chỉ là cái bắt tay đầu tiên cho chiến dịch  tàn sát mang tên “vàng và máu” xâm nhập toàn diện vũ trang vào Darfur theo các tài liệu tiết lộ bởi BBC , Tờ The New Killing Fields:

Hàng ngàn phụ nữ và trẻ em đã bị cưỡng bức có hệ thống tại Darfur trong khi những người chồng, anh em, các con trai của họ bị tàn sát trong vũng máu lạnh …. Chính phủ lên kế hoạch ném bom những ngôi làng châu Phi và sau đó gửi lực lượng vũ trang đến trên những con lạc đà, ngựa và xe tải … các ngôi làng bị tấn công hơn năm lần. Một phụ nữ tên là Kalima … đã cố gắng gọi chồng mình khi ngôi làng bị tấn công. Nhưng một tên lính vũ trang đã giết chết ông ta và đứa con đang bám vào người cô ta trong sự sợ hãi tột cùng, cố tháo chạy khỏi bọn người vũ trang Ả Rập và họ đã thiêu sống đứa bé trai chỉ mới 3 tuổi. Kalima sau đó bị hãm hiếp bởi chính những tên đồ tể này.

Theo những cách này, trong khi chúng ta sống trong những quốc gia dân chủ và tự do của thế giới mang những nền tảng đạo đức cao nhất của con người, một nước Trung Quốc nhiều lạc quan đang cày xới tung trên tất cả các cánh đồng thương mại. Thông qua quá trình đào bới này, con Rồng “thuộc địa hóa” đã giúp vũ trang cho hàng ngàn tay súng trẻ em châu Phi với những khẩu AK-47 tại những nơi như Liberia, Nigeria, và Sierra Leone – trong khi đó các thiết bị máy móc xây dựng đang giúp cày xới mảnh đất với hàng trăm ngàn xác chết, dưới những cánh đồng chết chóc không xa lắm ở Darfur.

Kế đến là Australia?  Và sau đó là sự sụp đổ của thế giới

“Công ty năng lượng điện hạt nhân Quảng Đông Trung quốc đề nghị 83,6 triệu đô la Úc … cho việc kiểm soát công ty Energy Metals, đang thêm vào làn sóng đầu tư của Trung Quốc vào tài nguyên thiên nhiên của Úc.  Doanh nghiệp nhà nước CGNPH đề nghị mua 70% cổ phần của dự án Bigrlyi khai thác Uranium vùng lãnh thổ bắc Australia và vẫn là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc muốn tham gia khai thác nguyên liệu hạt nhân Uranium tại một trong những quốc gia sản xuất Uranium lớn nhất thế giới.

Đề nghị tham gia khai thác này xãy đến giữa lúc quan hệ hai nước Trung – Úc không được mặn mà lắm theo sau vụ bắt giữ tháng rồi đối với 4 quan chức của tập đoàn khoán sản Anh – Úc Rio Tinto, bao gồm một công dân Úc, ông Stern Hu bị cáo buộc tội đưa hối lộ và vi phạm bí mật quốc gia. Điều này cũng gây ra nhiều tranh cãi gia tăng giữa các chính khách và các nhà bình luận về số  lượng các đầu tư Trung quốc trong lĩnh vực khai khoáng của Úc”. — The Wall Street Journal
Có lẽ, điều đang gây quan ngại sâu sắc nhất về chủ nghĩa thực dân mới kiểu Trung quốc là làm thế nào các quốc gia, thậm chí là các quốc gia phát triển kinh tế và có nền dân chủ vững mạnh như Úc, Brazil, and Nam Phi vẫn có thể bị quyến rũ bởi chính sách “dùng tiền mua chuộc” của Trung Quốc.

Khảo sát tình huống của Úc như một ví dụ. Đây là quốc gia có dân số được hưởng nền giáo dục tốt, lực lượng lao động có kỹ năng cao, và hầu như có tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nó cần để trở thành một đất nước năng lượng công nghiệp mạnh. Tuy nhiên, thay cho việc phát triển các ngành công nghiệp để xử lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và dùng nó để sản xuất hàng hóa, các nhà lãnh đạo suy nghĩ ngắn hạn cho rằng cứ đơn giản hơn là để Trung Quốc đến và mua các tài nguyên, đào bới các tài nguyên giàu có và chở về các nhà máy Trung quốc với giá rẻ .

Trong ít năm vừa qua, các công ty như Yangzhou Coal Mining, China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, China Metallurgical, và Shanghai Baosteel đã thâu tóm được các hợp đồng hàng triệu tấn nguyên liệu thô. Trong khi đó, đây chính là nguồn lợi của hàng trăm gia đình của các tầng lớp ưu tú ở Úc, nó là một công thức dẫn tới đói nghèo một khi Trung Quốc đã làm trống rỗng các mỏ khai khoáng tại Úc sau một thời gian nữa.

Thậm chí, trong ngắn hạn hơn, Nước Úc phải đón nhận một kết cục nhanh chóng của chính sách thuộc địa hóa này. Đó là bởi vì Trung quốc đang gửi các hàng hóa thành phẩm với các nguyên liệu đầu vào từ Úc quay trở lại chính thị trường này, nước Úc phải đối mặt với thâm hụt ngân sách lớn chưa từng có với Trung Quốc – dù rằng nó sở hữu một nguồn giàu có tài nguyên thiên nhiên rất to lớn vĩ đại.

Cả hai quốc gia Brazil và Nam Phi đều có nhiều điểm tương đồng – thậm chí hơn kém chỉ ít nhiều –  các con thuyền thực dân kiểu mới. Hai quốc gia ngồi trên một chuổi những tài sản đa dạng phong phú không thể tưởng tượng nổi. Cả hai nước này đều có tầng lớp trung lưu đang tăng tiến và có cơ hội rất lớn để gia nhập đội ngũ các quốc gia công nghiệp hóa. Tuy nhiên, cả hai quốc gia này đang từ bỏ quá nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên về tay Trung Quốc – và đang trong tiến trình chạy nhanh tới chổ thâm thủng mậu dịch nghiêm trọng.

Theo :  ait360 – Asian Institute of Technology Community
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/310879

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Khu vực "nhạy cảm" biến thành "khoảng trời bình yên" qua cách viết của bồi bút. Haizz/ http://www.sggp.org.vn/phongsuanh/2011/7/262928/

Cái gì cũng tù mù Nhưng Trấn áp Thì công khai. Bóp cổ , khiêng vác , chửi thề , đánh nóng , đánh nguội Thì Rất minh bạch. Hỡi những người anh em Đánh đồng bào mình có vui không ? Bắt đồng bào mình có sướng không ?

Chúng ta sẽ sẻ chia cùng đồng bào chén cơm manh áo. Trừ…

Đỗ Trung Quân

Rõ rồi nhé.

Rõ mồn một nhé.

Người Việt trấn áp người Việt nhé.

Người Việt đánh đập người Việt nhé

Vì tội tày trời : chống bọn cướp của giết người

Mang tên : BẠN.

Mang tên China.

Rõ rồi nhé.

Nhưng…

Dù gì cũng phải khen một câu

Cái gì cũng tù mù

Nhưng

Trấn áp

Thì công khai.

Bóp cổ , khiêng vác , chửi thề , đánh nóng , đánh nguội

Thì

Rất minh bạch.


Hỡi những người anh em

Đánh đồng bào mình có vui không ?

Bắt đồng bào mình có sướng không ?

Rong tảo Hoàng Sa không xanh nữa

San hô Hoàng Sa đỏ màu máu

Từ một chín bảy tư

Lạng Sơn những rừng đào linh hiển

Hoa cũng đỏ lừ.

Chúng ta

Những con người yêu nước bé mọn

Nhưng không khiếp nhược

cười đau đớn

cười ứa máu mép

cười chảy máu mồm

thở lên vòm trời làn hơi u uất

Giữa nắng mặt trời

 Ngày

 Chủ nhật

 Não nề

Không thể

Não nề

Hơn.

Ta biết những thằng thái thú

 Có đủ lý do ăn mừng

Rượu Mao đài tưới xuống

Biển Đông…

Nhưng chúng ta sẽ nói trong vị mặn của máu

Như vị mặn của máu ngư dân

Ta sẽ sẻ chia cùng đồng bào chén cơm manh áo

Từng chiếc thuyền nan

Nhưng …

Điều này là chắc chắn.

Một –  tấc –  biển – Đông

Cũng

Không !

[ Chủ nhật 17 tháng 7- 2011 ]

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/17/189-chung-ta-s%E1%BA%BD-s%E1%BA%BB-chia-cung-d%E1%BB%93ng-bao-chen-c%C6%A1m-manh-ao-tr%E1%BB%AB%E2%80%A6/#more-20089

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Bao cao su giúp quan chức thoát tội.../ http://nhanam.multiply.com/journal/item/714/714

Cảnh sát Trung Quốc: Không phải là Hãm Hiếp nếu ông ta mang bao cao su

Chuyện khó tin nhưng chỉ thật có ở những xứ thiên đường cộng sản!!! Nhân dân Trung Quốc cũng như Việt Nam phải chịu nhiều sự bất công dưới sự cai trị độc tài, bá đạo, vô dân chủ, vô pháp luật của thể chế CS. Cô giáo Chu Tần cũng như học sinh Hằng, Thúy và nhiều em khác đã phải mang sự ẩn uất suốt cả cuộc đời, vết nhơ cuộc đời không bao giờ tẩy xóa được khi công an CS đã trắng trợn bao che cho quan chức nhà nước, khi lẽ phải vẫn nằm trong tay kẻ có quyền lực! Đốn mạt thay!

MPR đăng ngày 13 Tháng Bảy 2011

Câu chuyện về vụ hãm hiếp giáo viên trung học cô Chu Tần (Zhou Qin), 26 tuổi, đã thu hút nhiều sự chú ý hơn các báo cáo thông thường về sự lạm dụng quyền lực của các quan chức Trung Quốc, bởi vì sự phản ứng tuyệt vời của cảnh sát Trung Quốc cho sự tố cáo của cô Chu Tần: Cảnh Sát Trung Quốc đã bác bỏ trường hợp trên với lý do "đeo bao cao su không tính là hiếp dâm."

Cô Chu Tần giảng dạy tại trường trung học cơ sở Huajuea trong thị trấn Ashi, khu vực Bijie, phía tây nam tỉnh Quý Châu. Vào sáng ngày 17 tháng 5 các lớp học bị hủy bỏ cho một buổi "giáo dục pháp luật." Sau đó là thời gian tiệc tùng cho các công thần địa phương. Cô Chu Tần được lệnh phải dự bữa tiệc của họ và - trong một bầu không khí nữa như cưỡng ép, bản tin gốc của tờ Qianzhong Morning Post (1) cho thấy – cô đã bị ép uống nhiều hơn khả năng của cô.

Wang Zhonggui, trưởng Phòng quản lý đất đai và tài nguyên đất của địa phương và và sau đó bị tố tội hiếp dâm, đã ép cô Chu Tần uống chừng 15 cốc rượu. Sau đó, khi cô khật khưởng đi bộ về nhà, ông đã đón cô bằng xe hơi của mình, đưa cô trở lại văn phòng của ông, và hãm hiếp cô.

Các sự kiện này đã không được thông tin công cộng loan báo cho đến bây giờ bởi vì vụ này nằm trong tay của các quan chức cảnh sát địa phương. Cô Chu Tần đã cho báo chí biết sau khi cảnh sát đưa ra kết luận gây sốc của họ là họ không tính vụ này là hiếp dâm vì kẻ bị cáo có mang bao cao su.

Nhưng cảnh sát ở Trung Quốc có tin như vậy không? Còn gì nữa để nói khi đây không chỉ đơn giản là sự phản bác đầy mỉa mai cay đắng?

Bài này đã được đăng trong mục Nhân Quyền, Xã hội và Hiếp dâm.

(1) http://news.cn.yahoo.com/ypen/20110712/464527.html

Theo trang blog: http://blog.theepochtimes.com/1/china/2011/07/13/chinese-police-it%E2%80%99s-not-rape-if-he-wore-a-condom/

Ghi chú: Tên gọi và tên địa phương của Tàu tôi không biết để dịch.

Độc giả Dân Luận chuyển ngữ từ blog của tờ theepochtimes.com

http://danluan.org/node/9350