Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

Lại không được nhập cảnh Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi “lần cuối” - theo chữ ông thường dùng - tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.

Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một “sứ mệnh” gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: “Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc” (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian - Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc: ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v… Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).

Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: “Theo lệnh trên”. Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[1]

Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.

Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách “thử” thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm “rách việc”, nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng “tham khảo” với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.

Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.

Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.

Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục - sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam - ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: “Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?” Thao đáp: “Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?” Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: “Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.” Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!” Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh.” Tôi ngạc nhiên thực sự: “Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?” Viên công an ấy đáp: “Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc.” Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Lê Thao dành đáp: “Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh.” Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của “khách không đủ điều kiện nhập cảnh” - là tôi.[2]

Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu “nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh” là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.

Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: “Chúng ta đi.” Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Lần tới… là bao giờ!” của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:

mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt
tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai
ngóng dòng sông người và ngó xuống
con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an
mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy
tiếp tục đọc thơ và đái
và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt
mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày
rơi dài dài và nhớ lại
một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu
cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt
nhớ lại đi em
mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai
những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ
chúng ta là bạn tù
một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em
nhớ lại đi em
một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng
thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa
lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi
chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ
chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ
cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?
Nguyễn Hưng Quốc
Lần tới... là bao giờ!
được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ
về hai con nhỏ chân dài
ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn
chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ
hai con nhỏ dâm hết biết đó
tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.
(30/11/2005)

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.

Thật tức.

Thôi, hẹn dịp khác vậy.

Melbourne ngày 7.4.2009

Nguồn: Tienve.org

Cấm nhập cảnh lần 1 (link)

Ảnh: Nguyễn Hưng Quốc (thứ 3 từ phải sang)

_________________________

[1]Xem bài “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!” đăng trên Tiền Vệ ngày 22.11.2005.

[2]Hai trang trên passport với hai lần visa bị huỷ:

Lại không được nhập cảnh Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi “lần cuối” - theo chữ ông thường dùng - tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.

Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một “sứ mệnh” gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: “Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc” (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian - Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc: ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v… Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).

Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: “Theo lệnh trên”. Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[1]

Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.

Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách “thử” thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm “rách việc”, nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng “tham khảo” với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.

Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.

Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.

Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục - sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam - ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: “Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?” Thao đáp: “Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?” Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: “Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.” Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!” Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh.” Tôi ngạc nhiên thực sự: “Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?” Viên công an ấy đáp: “Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc.” Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Lê Thao dành đáp: “Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh.” Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của “khách không đủ điều kiện nhập cảnh” - là tôi.[2]

Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu “nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh” là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.

Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: “Chúng ta đi.” Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Lần tới… là bao giờ!” của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:

mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt
tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai
ngóng dòng sông người và ngó xuống
con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an
mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy
tiếp tục đọc thơ và đái
và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt
mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày
rơi dài dài và nhớ lại
một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu
cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt
nhớ lại đi em
mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai
những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ
chúng ta là bạn tù
một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em
nhớ lại đi em
một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng
thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa
lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi
chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ
chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ
cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?
Nguyễn Hưng Quốc
Lần tới... là bao giờ!
được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ
về hai con nhỏ chân dài
ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn
chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ
hai con nhỏ dâm hết biết đó
tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.
(30/11/2005)

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.

Thật tức.

Thôi, hẹn dịp khác vậy.

Melbourne ngày 7.4.2009

Nguồn: Tienve.org

Ảnh: Nguyễn Hưng Quốc (thứ 3 từ phải sang)

_________________________

[1]Xem bài “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!” đăng trên Tiền Vệ ngày 22.11.2005.

[2]Hai trang trên passport với hai lần visa bị huỷ:

Lại không được nhập cảnh Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi “lần cuối” - theo chữ ông thường dùng - tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.

Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một “sứ mệnh” gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: “Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc” (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian - Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc: ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v… Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).

Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: “Theo lệnh trên”. Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[1]

Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.

Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách “thử” thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm “rách việc”, nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng “tham khảo” với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.

Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.

Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.

Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục - sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam - ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: “Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?” Thao đáp: “Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?” Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: “Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.” Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!” Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh.” Tôi ngạc nhiên thực sự: “Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?” Viên công an ấy đáp: “Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc.” Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Lê Thao dành đáp: “Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh.” Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của “khách không đủ điều kiện nhập cảnh” - là tôi.[2]

Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu “nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh” là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.

Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: “Chúng ta đi.” Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Lần tới… là bao giờ!” của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:

mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt
tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai
ngóng dòng sông người và ngó xuống
con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an
mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy
tiếp tục đọc thơ và đái
và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt
mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày
rơi dài dài và nhớ lại
một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu
cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt
nhớ lại đi em
mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai
những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ
chúng ta là bạn tù
một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em
nhớ lại đi em
một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng
thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa
lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi
chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ
chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ
cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?
Nguyễn Hưng Quốc
Lần tới... là bao giờ!
được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ
về hai con nhỏ chân dài
ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn
chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ
hai con nhỏ dâm hết biết đó
tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.
(30/11/2005)

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.

Thật tức.

Thôi, hẹn dịp khác vậy.

Melbourne ngày 7.4.2009

Nguồn: Tienve.org

Ảnh: Nguyễn Hưng Quốc (thứ 3 từ phải sang)

_________________________

[1]Xem bài “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!” đăng trên Tiền Vệ ngày 22.11.2005.

[2]Hai trang trên passport với hai lần visa bị huỷ:

Lại không được nhập cảnh Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi “lần cuối” - theo chữ ông thường dùng - tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.

Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một “sứ mệnh” gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: “Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc” (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian - Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc: ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v… Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).

Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: “Theo lệnh trên”. Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[1]

Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.

Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách “thử” thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm “rách việc”, nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng “tham khảo” với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.

Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.

Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.

Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục - sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam - ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: “Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?” Thao đáp: “Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?” Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: “Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.” Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!” Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh.” Tôi ngạc nhiên thực sự: “Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?” Viên công an ấy đáp: “Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc.” Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Lê Thao dành đáp: “Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh.” Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của “khách không đủ điều kiện nhập cảnh” - là tôi.[2]

Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu “nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh” là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.

Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: “Chúng ta đi.” Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Lần tới… là bao giờ!” của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:

mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt
tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai
ngóng dòng sông người và ngó xuống
con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an
mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy
tiếp tục đọc thơ và đái
và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt
mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày
rơi dài dài và nhớ lại
một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu
cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt
nhớ lại đi em
mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai
những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ
chúng ta là bạn tù
một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em
nhớ lại đi em
một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng
thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa
lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi
chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ
chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ
cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?
Nguyễn Hưng Quốc
Lần tới... là bao giờ!
được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ
về hai con nhỏ chân dài
ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn
chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ
hai con nhỏ dâm hết biết đó
tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.
(30/11/2005)

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.

Thật tức.

Thôi, hẹn dịp khác vậy.

Melbourne ngày 7.4.2009

Nguồn: Tienve.org

Ảnh: Nguyễn Hưng Quốc (thứ 3 từ phải sang)

_________________________

[1]Xem bài “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!” đăng trên Tiền Vệ ngày 22.11.2005.

[2]Hai trang trên passport với hai lần visa bị huỷ:

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

Nguyễn Hưng Quốc bị Công an Nội bài cấm nhập cảnh

QUẬN CAM (NV) – Một lần nữa, ông Nguyễn Hưng Quốc đã bị Cộng Sản Việt Nam trục xuất ngay sau khi ông đặt chân xuống phi trường. Theo các nguồn tin của Nhật Báo Người Việt, ông Quốc chỉ có mặt tại phi trường Nội Bài khoảng hơn một tiếng đồng hồ vào sáng Chủ Nhật 5 Tháng Tư vừa qua.

Chiếu khán nhập cảnh của ông bị công an đóng dấu “Hủy” (Cancelled) và rồi ông bị ép buộc phải lên một chuyến bay khác để rời Việt Nam ngay lập tức. Một cán bộ của Việt Nam đã áp giải ông đến Thái Lan. Ông chỉ được trả lại sổ thông hành khi về đến Úc.

Ông Nguyễn Hưng Quốc, 53 tuổi, là một nhà phê bình văn học nổi tiếng tại hải ngoại, có tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn, từng là chủ bút tạp chí Việt trong khoảng thời gian 1998-2001, đồng chủ bút trang mạng Tiền Vệ từ 2002 cho đến nay. Trong gần 20 năm qua, ông đã dạy các môn ngôn ngữ, văn học, văn hóa và chiến tranh Việt Nam tại Victoria University. Đây cũng là nơi ông đã tốt nghiệp tiến sĩ văn chương.

Giáo sư này đã được mời tham dự một cuộc hội thảo quốc tế về đề tài “The role of language and multi-cultural education in educating local communities in global economies: perspectives from Asia” (Quan điểm từ Á Châu: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hóa trong việc hướng dẫn các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu).

Chương trình Hội Nghị Ngôn Ngữ Học này do trường Monash University của Úc và Đại Học Mở Hà Nội (Hanoi Open University) cùng tổ chức vào ngày 7 và 8 Tháng Tư, 2009 tại Hà Nội. Theo chương trình trước khi có lệnh trục xuất, ông Quốc trình bày bài tham luận vào sáng Thứ Tư, 8 Tháng Tư. Bài của ông Quốc có nhan đề: “Vietnamese Language Maintenance in Australia: A Perspective from cross-language Australian-Vietnamese Families” (Duy trì tiếng Việt ở Úc: Một quan điểm từ những gia đình giao ngôn Úc gốc Việt). Ông Quốc là một trong các thuyết trình viên chính của hội nghị. Trong thời gian chờ chiếu khán tại Melbourne, ông từng dự định đề cử một người khác thay thế trong trường hợp ông không được cấp visa nhập cảnh Việt Nam. Người được đề cử là Tiến Sĩ Lê Quỳnh, một phụ tá nghiên cứu của ông tại trường đại học.

Sự việc ngăn chặn tại phi trường Nội Bài đã xảy ra bất ngờ vì ông Nguyễn Hưng Quốc đã được Đại Sứ Quán CSVN tại Canberra cấp chiếu khán. Chính quyền Hà Nội chưa cho biết lý do tại sao ông Quốc bị hủy chiếu khán tại sân bay Nội Bài và rồi bị yêu cầu phải rời Việt Nam.

Trên biên bản được sao lại và cung cấp cho Nhật Báo Người Việt ngày Thứ Ba vừa qua, ông Nguyễn Hưng Quốc bị trục xuất với lý do được đánh dấu vào ô “Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của khách.” Ô này được viết vắn tắt bằng tiếng Anh “Unallowed to enter Vietnam.” Ký tên trên biên bản là bà Nguyễn Thị Thùy Linh, một đại diện của đồn CACK Nội Bài (Immigration officer). CACK là chữ viết tắt của Công An Cửa Khẩu. Người thứ nhì ký tên trên biên bản là Lã Thảo, đại diện hàng không Thai Airlines

Biên bản đã viết mấy dòng như sau: “Tiến hành lập biên bản với nội dung: Hàng không thái đã chở 01 khách không đủ điều kiện nhập cảnh Việt Nam. “Hàng không Thái phải đưa trở lại nơi xuất phát 01 khách nêu trên. Theo chuyến bay gần nhất ngày 5/4/2009.”

Ông Nguyễn Hưng Quốc rời Melbourne vào đêm Thứ Bảy 4 Tháng Tư, ghé Bangkok, rồi đáp chuyến bay TG980 từ Bangkok đến sân bay Nội Bài vào lúc 9:30 sáng Chủ Nhật hôm sau. Ngay sau khi ông Nguyễn Hưng Quốc xuất trình visa, công an liền bắt giữ ông và đóng dấu “Hủy” trên visa. Đến 10 giờ 45 sáng, ông bị buộc quay ngược về Bangkok trên một chuyến bay của Hàng Không Thái Lan. Như vậy ông đã có mặt tại sân bay Nội Bài 1 tiếng 15 phút.

Đây là lần thứ nhì ông Nguyễn Hưng Quốc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường mà không có lý do nào rõ ràng được đưa ra từ phía CSVN.

Thế nhưng đối với những ai từng biết và đọc nhiều bài biên khảo của Nguyễn Hưng Quốc, họ hiểu tại sao ông bị CSVN ngăn chặn tại phi trường.

Ngoài tính cách phát biểu tự do và có khuynh hướng đấu tranh cho tri thức dân chủ tại Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc còn bị CSVN căm ghét qua sách nghiên cứu “Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản” (Vietnamese Literature under Communism) do Văn Nghệ xuất bản năm 1991 và tài bản năm 1996. Cuốn sách này vạch trần toàn bộ chế độ tuyên truyền của cộng sản, phơi bày toàn bộ hệ thống văn nô cũng như bày ra tính chất vô giá trị của nền văn học Bắc Việt được chính trị hóa dành cho mục tiêu xâm lược miền Nam Việt Nam.

Trước đây, vào Tháng Mười Một, 2005, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã bị công an ngăn chặn tại phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Lúc đó ông bị tách riêng với nhóm sinh viên. Cuối cùng, trước sự phản đối mạnh mẽ của ông, công an cho một đại diện sinh viên được vào phòng để nghe ông dặn dò về việc tiếp tục chuyến du khảo mà không có sự hướng dẫn của ông.

Nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc chào đời tại miền Trung Việt Nam, từng vượt biên đến Pháp vào giữa thập niên 1980. Vào giữa thập niên 1990, ông được trường đại học Victoria mời qua giảng dạy về văn học Việt Nam, và sau đó ông được trường này đề cử làm chủ nhiệm khoa Việt học. Vốn là người gắn bó với văn học Việt Nam, ông Nguyễn Hưng Quốc đã về thăm quê hương nhiều lần và hầu như lần nào cũng bị mời “làm việc” với công an văn hóa. Một chuyến đi vào Tháng Mười Hai năm 2004 là chuyến đi duy nhất ông không bị công an quấy nhiễu.

Theo một nguồn tin từ Hà Nội, vào trưa 5 Tháng Tư ông Nguyễn Hưng Quốc bị bốn công an áp giải lên máy bay, và một cán bộ của CSVN đã đi theo ông đến Bangkok. Theo yêu cầu của CSVN, Hàng Không Thái Lan đã tạm giữ sổ thông hành của ông Nguyễn Hưng Quốc và chỉ trả lại khi ông về đến Úc. (h.d.)

Nguyễn Hưng Quốc bị Công an Nội bài cấm nhập cảnh

QUẬN CAM (NV) – Một lần nữa, ông Nguyễn Hưng Quốc đã bị Cộng Sản Việt Nam trục xuất ngay sau khi ông đặt chân xuống phi trường. Theo các nguồn tin của Nhật Báo Người Việt, ông Quốc chỉ có mặt tại phi trường Nội Bài khoảng hơn một tiếng đồng hồ vào sáng Chủ Nhật 5 Tháng Tư vừa qua.

Chiếu khán nhập cảnh của ông bị công an đóng dấu “Hủy” (Cancelled) và rồi ông bị ép buộc phải lên một chuyến bay khác để rời Việt Nam ngay lập tức. Một cán bộ của Việt Nam đã áp giải ông đến Thái Lan. Ông chỉ được trả lại sổ thông hành khi về đến Úc.

Ông Nguyễn Hưng Quốc, 53 tuổi, là một nhà phê bình văn học nổi tiếng tại hải ngoại, có tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn, từng là chủ bút tạp chí Việt trong khoảng thời gian 1998-2001, đồng chủ bút trang mạng Tiền Vệ từ 2002 cho đến nay. Trong gần 20 năm qua, ông đã dạy các môn ngôn ngữ, văn học, văn hóa và chiến tranh Việt Nam tại Victoria University. Đây cũng là nơi ông đã tốt nghiệp tiến sĩ văn chương.

Giáo sư này đã được mời tham dự một cuộc hội thảo quốc tế về đề tài “The role of language and multi-cultural education in educating local communities in global economies: perspectives from Asia” (Quan điểm từ Á Châu: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hóa trong việc hướng dẫn các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu).

Chương trình Hội Nghị Ngôn Ngữ Học này do trường Monash University của Úc và Đại Học Mở Hà Nội (Hanoi Open University) cùng tổ chức vào ngày 7 và 8 Tháng Tư, 2009 tại Hà Nội. Theo chương trình trước khi có lệnh trục xuất, ông Quốc trình bày bài tham luận vào sáng Thứ Tư, 8 Tháng Tư. Bài của ông Quốc có nhan đề: “Vietnamese Language Maintenance in Australia: A Perspective from cross-language Australian-Vietnamese Families” (Duy trì tiếng Việt ở Úc: Một quan điểm từ những gia đình giao ngôn Úc gốc Việt). Ông Quốc là một trong các thuyết trình viên chính của hội nghị. Trong thời gian chờ chiếu khán tại Melbourne, ông từng dự định đề cử một người khác thay thế trong trường hợp ông không được cấp visa nhập cảnh Việt Nam. Người được đề cử là Tiến Sĩ Lê Quỳnh, một phụ tá nghiên cứu của ông tại trường đại học.

Sự việc ngăn chặn tại phi trường Nội Bài đã xảy ra bất ngờ vì ông Nguyễn Hưng Quốc đã được Đại Sứ Quán CSVN tại Canberra cấp chiếu khán. Chính quyền Hà Nội chưa cho biết lý do tại sao ông Quốc bị hủy chiếu khán tại sân bay Nội Bài và rồi bị yêu cầu phải rời Việt Nam.

Trên biên bản được sao lại và cung cấp cho Nhật Báo Người Việt ngày Thứ Ba vừa qua, ông Nguyễn Hưng Quốc bị trục xuất với lý do được đánh dấu vào ô “Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của khách.” Ô này được viết vắn tắt bằng tiếng Anh “Unallowed to enter Vietnam.” Ký tên trên biên bản là bà Nguyễn Thị Thùy Linh, một đại diện của đồn CACK Nội Bài (Immigration officer). CACK là chữ viết tắt của Công An Cửa Khẩu. Người thứ nhì ký tên trên biên bản là Lã Thảo, đại diện hàng không Thai Airlines

Biên bản đã viết mấy dòng như sau: “Tiến hành lập biên bản với nội dung: Hàng không thái đã chở 01 khách không đủ điều kiện nhập cảnh Việt Nam. “Hàng không Thái phải đưa trở lại nơi xuất phát 01 khách nêu trên. Theo chuyến bay gần nhất ngày 5/4/2009.”

Ông Nguyễn Hưng Quốc rời Melbourne vào đêm Thứ Bảy 4 Tháng Tư, ghé Bangkok, rồi đáp chuyến bay TG980 từ Bangkok đến sân bay Nội Bài vào lúc 9:30 sáng Chủ Nhật hôm sau. Ngay sau khi ông Nguyễn Hưng Quốc xuất trình visa, công an liền bắt giữ ông và đóng dấu “Hủy” trên visa. Đến 10 giờ 45 sáng, ông bị buộc quay ngược về Bangkok trên một chuyến bay của Hàng Không Thái Lan. Như vậy ông đã có mặt tại sân bay Nội Bài 1 tiếng 15 phút.

Đây là lần thứ nhì ông Nguyễn Hưng Quốc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường mà không có lý do nào rõ ràng được đưa ra từ phía CSVN.

Thế nhưng đối với những ai từng biết và đọc nhiều bài biên khảo của Nguyễn Hưng Quốc, họ hiểu tại sao ông bị CSVN ngăn chặn tại phi trường.

Ngoài tính cách phát biểu tự do và có khuynh hướng đấu tranh cho tri thức dân chủ tại Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc còn bị CSVN căm ghét qua sách nghiên cứu “Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản” (Vietnamese Literature under Communism) do Văn Nghệ xuất bản năm 1991 và tài bản năm 1996. Cuốn sách này vạch trần toàn bộ chế độ tuyên truyền của cộng sản, phơi bày toàn bộ hệ thống văn nô cũng như bày ra tính chất vô giá trị của nền văn học Bắc Việt được chính trị hóa dành cho mục tiêu xâm lược miền Nam Việt Nam.

Trước đây, vào Tháng Mười Một, 2005, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã bị công an ngăn chặn tại phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Lúc đó ông bị tách riêng với nhóm sinh viên. Cuối cùng, trước sự phản đối mạnh mẽ của ông, công an cho một đại diện sinh viên được vào phòng để nghe ông dặn dò về việc tiếp tục chuyến du khảo mà không có sự hướng dẫn của ông.

Nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc chào đời tại miền Trung Việt Nam, từng vượt biên đến Pháp vào giữa thập niên 1980. Vào giữa thập niên 1990, ông được trường đại học Victoria mời qua giảng dạy về văn học Việt Nam, và sau đó ông được trường này đề cử làm chủ nhiệm khoa Việt học. Vốn là người gắn bó với văn học Việt Nam, ông Nguyễn Hưng Quốc đã về thăm quê hương nhiều lần và hầu như lần nào cũng bị mời “làm việc” với công an văn hóa. Một chuyến đi vào Tháng Mười Hai năm 2004 là chuyến đi duy nhất ông không bị công an quấy nhiễu.

Theo một nguồn tin từ Hà Nội, vào trưa 5 Tháng Tư ông Nguyễn Hưng Quốc bị bốn công an áp giải lên máy bay, và một cán bộ của CSVN đã đi theo ông đến Bangkok. Theo yêu cầu của CSVN, Hàng Không Thái Lan đã tạm giữ sổ thông hành của ông Nguyễn Hưng Quốc và chỉ trả lại khi ông về đến Úc. (h.d.)

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Hiệu trưởng trường ĐH ví mình với ngựa

Báo Tuổi Trẻ hôm nay (03/4) đã phỏng vấn và đăng những lời trần tình của ông Nguyễn Mạnh Hùng, hiệu trưởng Trường ĐHDL Hồng Bàng. Đọc những lời sám hối của ông hiệu trưởng mà cảm thấy thật tội nghiệp: "Tôi xin lỗi xã hội vì những sai sót bất ngờ mà không thể nào biết hết được. Con ngựa bốn chân đi còn vấp, huống hồ tôi gánh vác một cái trường to lớn thế này làm sao mà không vấp". Hic! Làm thân hiệu trưởng có 2 chân của một trường "to lớn thế" mà phải ví mình với con ngựa 4 chân thì quả là đau xót. Dĩ nhiên ngựa nhiều chân hơn thì vấp ít hơn ông. Dù sao, cũng nên biểu dương tinh thần sám hối chân tình và hết sức thật thà của ông Hùng. Điều gì đã khiến ông hạ mình như vậy?

Ai cũng nhớ, hai tuần trước, hàng trăm sinh viên ĐH Hồng Bàng đã biểu tình chống việc nhà trường đột ngột tăng học phí. Sự kiện này đã khiến ông hiệu trưởng trường phải bỏ ngay việc tăng học phí trong quý II năm 2009. Đọc bài báo còn thấy ông liên tục nhận nhiều lỗi: "Tôi rất vô ý và rất sai lầm vì đã không được báo trước"; về việc sinh viên phê phán cơ sở trường xập xệ ông nói: " các em sinh viên nói đúng" ; Về việc tùy tiện trong lịch học, ông cũng công nhận luôn: "Cái đó có. Bởi... do... việc sắp xếp lịch các môn học"; Sinh viên đến lớp nhưng không ai dạy phải bỏ về thì: “Cái đó có, bởi vì…”; Lớp thiếu chỗ cho sinh viên ngồi thì:Bởi vì lớp (có số chỗ ngồi) hạn chế. Nhiều khi các em vô dư năm mười người thì không thể nào chen vô được…”. Thế nhưng khi hỏi đã thiếu chỗ ngồi học mà còn tăng số lượng tuyển sinh, ông Hiệu trưởng hồn nhiên: “Có những lớp quy mô hơi nhỏ một chút nhưng năm nay quy mô tuyển sinh tăng thêm 10% thì nó chật thêm một tí”. Rõ ràng là rất nhiều vấn đề tối thiểu, liên quan trực tiếp đến việc học hành của sinh viên – những người đang phải trả học phí – mong đợi thì ông hiệu trưởng không thể đáp ứng nổi.

Thương cho ông hiệu trưởng 2 chân thì ít mà thương cho biết bao nhiêu sinh viên đang theo học trường của ông thì nhiều. Chuyện ngoài lề: Cuối năm 2007, khi sinh viên học sinh, thanh niên Sài Gòn yêu nước xuống đường phản đối TQ chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, người ta thấy ông hiệu trưởng Hùng chạy đôn chạy đáo ra lãnh sự quán Tàu tìm sinh viên trường mình để bắt họ về nhà. Sao không thấy ông Hùng sám hối về hành động ấy của mình nhỉ?