Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Kỷ niệm 20 năm Bức Tường Berlin sụp đổ – Cái giá của tự do

Phần I: Ngược dòng Lịch sử

Vào lúc 1 giờ 11 phút, sáng 13 tháng Tám năm 1961, người Nga và chính quyền Đông Đức đã ngăn chia châu Âu, nước Đức và thành phố Berlin bằng một vành đai “Vạn lý Tường thành”, đánh dấu giai đoạn khắc nghiệt mới của nhân loại sau Đệ nhị Thế chiến: thời kỳ chiến tranh lạnh giữa phe cộng sản và thế giới tự do.

Walter Ulbrich, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Đức (SED) trước đó đã đề nghị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Chrushchev “cho thực hiện các biện pháp mạnh” nhằm ngăn chặn làn sóng chuyên gia giỏi chạy sang Tây Đức. Walter Ulbrich cũng giao cho Erich Honecker, ủy viên Trung ương Đảng (giữ chức Chủ tịch Đảng và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ 1971 đến 1989) chỉ đạo kế hoạch mang tên “Vạn lý Tường thành Trung Hoa”. Ngày 5/08/1961, Moscow chấp thuận đề nghị của Đông Berlin. Chrushchev tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn “con đường chạy trốn tiện lợi” qua Tây Berlin.

Trong một đêm, hơn 50 ngàn người Đông Đức làm việc ở phía Tây thành phố bị khoanh giữ lại trên phần đất xã hội chủ nghĩa.

Sau 28 năm, vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 bức tường bị sụp đổ, mở đường tái lập nước Đức, thống nhất châu Âu và đào huyệt cáo chung hệ thống cộng sản tồn tại suốt hơn 70 năm siêu thực và đẫm máu.

“Freedom is not free”

“Chúng tôi, dân chúng Berlin, ngày hôm nay là những người hạnh phúc nhất thế giới” – Thị trưởng Berlin Walter Momper đã nói như thế trong ngày 9/11/1989.

Berlin ngày 10/11/1989 - Ảnh: WPK

Berlin ngày 10/11/1989 - Ảnh: PWN

Lúc bấy giờ máy bay của Tây Đức chưa được phép đậu trên đất Berlin, Thủ tướng Đức Helmut Köhn bỏ dở chuyến công du Ba Lan, lập tức bay qua Hamburg, kịp về Berlin vào ngày 10, trước khi kết thúc cuộc vui mừng của dân chúng trước Schöneberg City Hall. Người ta ôm nhau, nhảy múa, ca hát. Rượu sâmpanh Đông Đức “Khăn quàng đỏ” (Rotkäppchen) nổ liên hồi và bắn lên trời thành vòi đan chéo nhau. Xe hơi “Trabant” tràn đầy trên các đại lộ. Những hình ảnh này được truyền đi khắp thế giới. Không ai biết cái gì sẽ tiếp tục, nhưng đều chung cảm tưởng rằng, một điều gì đó vĩ đại của lịch sử đã xảy ra.

Kể cũng nên nhắc lại chiếc xe hơi hiệu “Trabant”, biểu tượng của “chủ nghĩa xã hội hiện thực” trên đất nước Cộng hòa Dân chủ Đức.

Trabant 601 Combi - Ảnh: Wikimedia

Trabant 601 Combi - Ảnh: Wikimedia

“Trabant” là loại xe rẻ và nhỏ, đạt tốc độ tối đa 125 km/giờ, tiếp tục cải tiến từ model P-70 cũ, được sản xuất trong những năm 1957-1991 tại nhà máy Automobilwerk VEB Sachsenring, ở Zwickau. Từ năm 1955, lần đầu tiên thân xe “Trabant” được làm bằng hợp chất dẻo với tác dụng chống ăn mòn, chịu lửa tốt, có độ nóng chảy gần với độ nóng chảy của nhôm. Ngược lại, khi bị đụng mạnh, xe có thể dễ dàng vỡ toang như một thứ đồ chơi bằng nhựa. Tên “Trabant” được gọi chính thức vào năm 1957 với model P-50, chào mừng Liên Xô phóng thành công vệ tinh đầu tiên “Sputnik” lên quỹ đạo trái đất.

Cấu trúc của “Trabant” được thay đổi theo thời gian, có lúc bắt chước cả dáng xe “Ford” Mỹ.  Các phiên bản “Trabant” cuối cùng được sản xuất vào 1990-1991. Tổng số xe “Trabant” xuất xưởng là 3.051.485 chiếc, trong đó tại thời điểm thống nhất nước Đức có khoảng 2 triệu chiếc. Chính nhờ “Trabant” mà Đông Đức được xem là nước cơ giới hóa nhất trong khối phương Đông (năm 1989 tính ra cứ 4 người có 1 xe).

Ở Ba Lan người ta gắn cho “Tranbant” những nhãn hiệu hài hước khác nhau: “Sputnik bốn bánh”, “Ford Các-tông”, “Đòn thù của Honecker”, “Hộp đựng xà phòng”… Rất nhiều chuyện tiếu lâm về “Tranbant”. Ví dụ, “Cần bao nhiêu người để sản xuất Trabant? – Hai người! Một người giữ, một người dán”; “Ôi, khoa học chính xác của Đức! Trước khi cung cấp xe thực, họ gửi cho tôi cái mẫu bằng nhựa”; “Ông bán cho tôi 60 mét băng keo – Một người nói trong trong hiệu thuốc.  – Chỉ cần 40 mét là đủ ông ạ. Tôi cũng có Trabant mà!”; hoặc “Tại sao dưới kính hậu của Trabant được lắp hệ thống sưởi? – Để tay không bị cóng khi đẩy xe”; v.v…

Người ta giữ bí mật thời điểm đóng cửa thành phố Berlin đến giờ chót. Mặc dù các thành viên của Liên minh Quân sự Vác-sa-va được thông báo, nhưng chỉ lãnh đạo Liên Xô và một số ít ủy viên Bộ chính trị đảng Cộng sản Đông Đức nắm được ngày cụ thể.

Đại diện các đảng anh em được mời ăn tiệc vào tối thứ Bảy và lúc đó họ mới thực sự biết rằng, kế hoạch được xúc tiến vào ngày Chủ nhật. Trong ngày này dân chúng không đi làm, sẽ không tạo ra phản kháng tập thể. Chính quyền Đông Đức chỉ chọn những người có vợ con làm công việc lắp đặt bức tường với mục đích đảm bảo họ không chạy trốn.

Bức tường chia Berlin ngăn phía Tây Brandenburg của Đông Đức dài 155 km, trong đó có 107 km tường bê tông, phần còn lại là giây kẽm gai và tường của các ngôi nhà dọc biên giới.

Trong 28 năm tồn tại, bức tường đã trở thành cái nền vĩ đại cho các tác phẩm hội hoạ dân gian, nghiệp dư cũng như chuyên nghiệp và là đề tài của văn hóa, nghệ thuật. Năm 1984, trong một cuộc thi tại Berlin, nữ nghệ sĩ, tiến sĩ mỹ thuật trường phái khái niệm Ba Lan Ewa Partum, trưng bày tác phẩm “Ost-West Schatten” (Bóng Đông-Tây). Đó là tấm hình chụp tác giả đứng khỏa thân phía bên Tây, đi giày cao, dang hai tay với chữ O (trong lòng bàn tay phải) và chữ W (trong lòng bàn tay trái), minh họa sự trâng tráo, lộ liễu và đầy ô trọc của bức tường mà con người tạo nên. Khi bức tường bị phá bỏ, chính quyền sử dụng xà bần để xây dựng đường phố, một số mảnh có các hình vẽ được đưa vào bảo tàng và tặng khách nước ngoài. Những miếng nhỏ được người ta bày bán như món hàng lưu niệm. Hiện 1200 mét tường được giữ lại, gọi là “East Side Gallery”.

Tác phẩm "Ost-West Schatten" của nghệ sĩ Ewa Partum - Ảnh: Ewa Partum

Tác phẩm "Ost-West Schatten" của nghệ sĩ Ewa Partum - Ảnh: Ewa Partum

Hàng ngàn binh lính của hai bên canh giữ bức tường, riêng phía Đông được bổ sung thêm cả ngàn con chó, cùng các bãi mìn trên vùng đệm gọi là “vùng đất cháy”, cách chân tường từ 30 đến 100 mét. Bắt được một người chạy trốn, tùy theo cấp bậc, nhà nước Đông Đức thưởng 150 đến 1000 đồng Mác Đông Đức, quà cáp, cho đi nghỉ phép và cả huy chương.

Công việc canh giữ tường khá nguy hiểm, vì thế để không bị điều động làm nhiệm vụ này lính Đông Đức phải chạy chọt hoặc có ưu đãi. Ai từ chối lệnh sẽ bị đưa đi trại tù khắc nghiệt nhất ở Bautzen. Thông tin của Đông Đức cho biết có 25 lính biên phòng bị “bọn đế quốc” bắn chết. Tuy nhiên, theo hồ sơ được bạch hóa sau này, chính những đồng đội của họ đã bắn lúc chạy trốn hoặc để cứu người vượt biên, chỉ một vài trường hợp súng bắn từ phía Tây.

Bức tường và biện pháp cai quản được củng cố liên tục từ năm 1962 đến 1975. Vào năm 1975 bức tường được hiện đại hóa với “thế hệ 3”, có chiều cao 3,6 mét, rộng 1,5 mét, chân tường nằm sâu dưới đất 2 mét, bao gồm 45 ngàn tấm bê tông cốt thép, chi phí mất 16 triệu Mác Đông Đức. Không loại xe hơi nào có thể ủi sập được nó.

Hệ thống trang thiết bị điện cảm tự động bắn vào bất cứ mục tiêu di động nào dọc tường thành được nhà cầm quyền Đông Đức tháo bỏ năm 1984, đổi lại hai khoản tiền lớn vay của Tây Đức.

Hai năm đầu bức tường Berlin được kiểm soát rất nghiêm ngặt. Vào mùa lễ Chúa Giáng sinh năm 1963, Đông Đức cho phép công dân từ phía Tây sang thăm gia đình. Chỉ từ ngày 19 tháng 12 đến ngày 5 tháng 1 đã có khoảng 1,2 triệu người Tây Đức nhận được giấy phép qua cửa khẩu, mỗi người phải đổi bắt buộc 10 Mác Tây Đức (DM) sang Mác Đông Đức và không được mang trở lại. Đến năm 1966 đã có 5 lần như vậy, nhưng sau đó ngưng lại do hai bên không đạt được thỏa thuận. Từ tháng 7 năm 1972 việc thăm viếng được nối lại từ từ. Trong giai đoạn 1972-1989 có từ 2 đến 2,4 triệu người Đức từ Tây sang Đông thăm thân, để lại số tiền khổng lổ cho “thiên đường cộng sản”.

Tại Berlin hiện nay có bức tượng tưởng nhớ cái chết của Peter Fechter. Chàng trai trẻ sau khi tốt nghiệp đại học ở Đông Berlin xong muốn trở về với gia đình ở Tây Berlin. Ngày 17/08/1962, vượt qua được tuyến phòng vệ đầu tiên, anh bị phát hiện. Lính biên phòng nhả đạn vào lưng và bụng anh. Bi kịch xảy ra gần Check-Point-Charlie, cửa ngõ Đông Tây dành cho người nước ngoài và binh lính đồng minh. Biên phòng Đông Đức chờ lệnh cấp trên, bỏ mặc chàng trai bị thương chảy máu cho đến chết trước con mắt của hàng ngàn người Đức và lính Mỹ tập trung phía bên Tây. Ai cũng biết rằng, lính Mỹ phải dằn nỗi đau, giữ dòng máu lạnh trong những trường hợp như vậy để người Nga không tạo cớ rút các cam kết trách nhiệm chung, tức là sự kiểm soát của đồng minh đối với Berlin.

239 người chết vì vượt tường trái phép theo thống kê chính thức, nhưng người ta cũng nói đến con số không chính thức vào khoảng 800. Người Đông Đức đã vận dụng vô số cách khác nhau để ra khỏi “biên giới hòa bình chống phát xít”: theo đường cống ngầm, bằng xe hơi, khí cầu, cho đến đánh đu theo giây cáp nối cửa sổ các ngôi nhà gần nhau. Những dụng cụ này giờ đây được trưng bày tại bảo tàng không xa Check-Point-Charlie.

Nạn nhân đầu tiên của cuộc vượt tường là Rudolf Urban, bị chết do nhảy từ cửa sổ trên đường phố Bernauer Straße trong ngày 19/08/1961. Một ngày sau đó, bà Ida Siekmann, 58 tuổi, chết vì bị chấn thương nặng, cũng do nhảy từ của sổ xuống mái dù của binh lính phía bên kia. Sau các biến cố này, Đông Đức cho bịt hết cửa sổ lầu một của các ngôi nhà dọc biên giới.

Lính biên phòng Đông Đức nổ súng vào người chạy trốn lần đầu vào ngày 24/08/1961, còn người chết vì đạn bắn đầu tiên là Bernd Lünser, trong ngày 4/10, cũng tại đường phố Bernauer Straße. Chris Gueffroy là người bị bắn chết cuối cùng vào ngày 5/02/1989, hai tuần trước khi nhà cầm quyền Đông Đức hủy bỏ lệnh bắn người vượt tường. Nhưng nạn nhân cuối cùng lại là Winfried Freudenberg. Một tháng sau đó, khí cầu bay do anh tự thiết kế đã nổ tung, vĩnh viễn phá tan giấc mơ nhìn thấy tự do của mình, mặc dù xác anh rơi xuống khu Zehlendorf, thuộc đất Tây Berlin.

Nguời ta ước tính trong 28 năm có khoảng 40 nghìn người chạy trốn. Giống như vào những năm 80 có chiến dịch “bán bãi đổi vàng” “vượt biên bán chính thức” ở Việt Nam, dịch vụ chuyển người sang phía Tây trở thành mối lợi lớn của xã hội đen cũng như của nhà nước cộng sản Đông Đức.

Hãng Aramco của Thụy Sĩ  lấy 20 – 25 ngàn DM cho một đầu người (được giảm nếu đi cả gia đình). Gần 400 công dân của Đông Đức đã tìm được tự do nhờ Aramco. Chủ nhân Aramco bị bắn chết năm 1979 tại dinh thự riêng. Người ta nghi ngờ có bàn tay dính máu của Stasi. Những công ty dịch vụ như Aramco không ít.

Các nhà ngoại giao, chủ yếu những người có cương vị cao thuộc Thế giới Thứ Ba, tận dụng quyền ưu đãi miễn trừ để chở khách trong cốp hành lý với giá hàng chục ngàn Mác mỗi người. Ước tính có hàng ngàn người đã vượt qua Tây Berlin theo phương pháp này. Nhà cầm quyền Đông Đức có lần tóm quả tang ngài đại sứ nước Cuba anh em. Ông ta định chở hai phụ nữ với giá 50 ngàn DM. Ngài đại sứ bị trục xuất về nước nhưng không ai biết số phận ông ta ra sao.

Dịch vụ buôn bán tự do của Đông Đức phát triển từ năm 1963, khi lần đầu tiên nhà cầm quyền nhận được số tiền đáng kể nhờ phóng thích ba tù nhân chính trị qua phía Tây. Thấy có thể khai thác dịch vụ béo bở này dễ dàng, các nhà lãnh đạo Đông Đức đưa ra tín hiệu rằng, họ có thể trả tự do thêm nhiều tù nhân nếu được nhận khoản tiền thích ứng. Ban đầu giá một tù nhân 40 ngàn DM, sau tăng lên 100 ngàn DM, có thể trả bằng hàng hóa. Người ta nói rằng, Honecker đã đặc biệt quan tâm tới thương vụ này và cho tăng danh sách tù nhân chính trị vô tội vạ nhằm thu được nhiều tiền nhất từ Tây Đức. Trong một số trường hợp Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức đã bị lừa, thay vì tù chính trị thì bị đánh tráo tù hình sự. Trong cuốn sách “Check-Point-Charlie và bức tường Berlin”, Werber Sikorski và Rainer Laabs viết rằng “vì lợi ích của công việc, Chính phủ Liên bang không làm ầm ĩ chuyện này”.

Tổng số tù nhân CHLB Đức mua lại của Đông Đức là 33.755 người. Hai ngàn trẻ em bị giữ lại Đông Đức vì lý do an ninh được trả lại cho bố mẹ và 250 ngàn trường hợp sum họp gia đình. Tây Đức đã bỏ ra cho dịch vụ này 3,5 tỷ DM và ngây thơ tin rằng, dù sao tiền sẽ giúp cho việc cải thiện đời sống của người dân Đông Đức. Khi bức tường sụp đổ, nghiên cứu các tài liệu lưu trữ, người ta mới té ngửa rằng, phần lớn số tiền dùng để nuôi dưỡng tầng lớp đặc biệt của đảng qua việc cung cấp hàng hóa sang trọng cho đặc khu ở Wandlitz. Một phần khác dành hỗ trợ cho đảng cộng sản ở Tây Đức, cho tình đoàn kết với Nicaragoa, mua 160 xe hơi Citroën loại sang cho các vị lãnh đạo đảng và chi cho lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức. ■

Warsaw, 1/11/ 2009

Kỷ niệm 20 năm Bức tường Berlin sụp đổ – Bão táp của khát vọng tự do

Phần II : Bão táp của khát vọng tự do

Bão táp của khát vọng tự do - Biên giới Hungary -Áo 11/09/1989 - Ảnh: Chris Niedenthal/Time & Life Pictures

Bão táp của khát vọng tự do - Biên giới Hungary - Áo 11/09/1989 - Ảnh: Chris Niedenthal/Time & Life Pictures

Vào mùa Thu năm 1989 – “Mùa Thu Của Các Dân Tộc”, một chuỗi biến động nổ ra dồn dập trong tất cả các nước cộng sản Đông Âu.

Phong trào tranh đấu của Công đoàn Đoàn kết Ba Lan phát triển cao độ, dồn Đảng Cộng sản vào chân tường, buộc phải chấp nhận chia quyền lực qua “Hội nghị Bàn tròn” và bầu cử tự do vào ngày 4/06/1989.

Ở Tiệp Khắc, từ tháng 1/1989, phong trào “Hiến chương 77” do giới trí thức thành lập trong những năm 70, huy động quần chúng xuống đường rầm rộ đòi cải cách chính trị.

Tại Hungary, giữa tháng 6/1989, một cuộc đàm phán mang tên “Bàn Ba Góc” được tiến hành giữa Đảng Cộng sản Hungary, phe đối lập và các tổ chức thân cộng sản.

Ngày 14/08, Tây Đức phải đóng cửa Đại sứ quán ở Hungary vì có 130 người Đông Đức vào xin tị nạn, nhưng vẫn không ngăn được người ta leo tường để vào phía trong. Hai đại sứ quán Tây Đức ở Tiệp Khắc và Ba Lan cũng bị tình cảnh tương tự. Biên phòng Áo thấm mệt vì liên tục đối phó với các nhóm người Đức vượt biên trái phép. Budapest làm ngơ đề nghị của Honecker đòi trục xuất công dân Đông Đức trở lại. Cuối cùng, ngày 10/09, được Vienna và Bonn chấp thuận, Hungary mở cửa biên giới với Áo. Hàng ngàn người tập trung sẵn và giữa đêm 11 qua ngày 12/09 kéo nhau băng qua biên giới. Sâmpanh được mở ra với những tiếng hô: “Cám ơn các bạn Hungary!”. Bên kia nước Áo, dân chúng đứng hai bên đường, những ai qua bằng xe hơi được cấp bản đồ, thực phẩm mang theo; người đi bộ chờ những “con tàu tự do” chở họ về xứ sở của mơ ước.

con tàu tự do - Ảnh: AP

Con tàu tự do - Ảnh: AP

Ngày 6/10/1989, Michail Gorbachev thăm Berlin. Thanh niên Đông Đức biểu dương lực lượng, hô lớn: “Gorby, hãy cho chúng tôi tự do!”. Gorbachev lúc bấy giờ đưa ra tín hiệu cho Đảng Cộng sản Đông Đức (SED) rằng, họ không thể nhờ cậy quân đội Liên Xô can thiệp để giải quyết công việc nội bộ của mình.

Ngày 7/10, lễ 40 năm quốc khánh Đông Đức, tại Lepzig, hơn 70 ngàn dân chúng tràn ra đường bất chấp lệnh của Honecker đe dọa dùng vũ lực trấn áp. Cuộc biểu tình lan rộng ra nhiều thành phố khác của Đông Đức, dân chúng đòi dân chủ, đa nguyên chính trị và thống nhất đất nước.

Sáng 17/10 Bộ Chính Trị nhóm họp, Honecker bàng hoàng khi các đồng chí của mình buộc từ chức Bí thư thứ nhất và Chủ tịch Hội đồng nhà nước. Honecker không cầu cứu được ai xung quanh, ngay cả người thân cận nhất là tướng Erich Mielke, sếp an ninh Stasi.

Bộ Chính Trị mới với Krenz đứng đầu cũng không kìm hãm được các diễn biến đang như những con đô-mi-nô đổ rạp. Cứ mỗi sáng thứ Hai lại dấy lên đợt sóng biểu tình đòi tự do ngôn luận, tự do đi lại và bầu cử dân chủ. Vào ngày 4/11, trên quảng trường Alexanderplatz có khoảng 1 triệu người tham gia.

Kinh tế của Đông Đức nằm trong đống đổ nát. Thủ tướng Helmut Köhl cam kết cho vay 13 tỷ DM với điều kiện các tổ chức đối lập được hoạt động công khai và thực hiện bầu cử tự do. Bản thân Helmut Köhn cũng chưa muốn mở biên giới hoàn toàn vì trên đất Tây Đức đã có hơn 220 ngàn người Đông Đức tị nạn, không dễ dàng ngay một lúc lo cho họ các điều kiện sống đầy đủ. Sẽ ra sao nếu con số lên đến hàng triệu?

Trước áp lực của tình hình, Bộ Chính Trị Đông Đức quyết định nới lỏng thủ tục cấp giấy phép và cho có hiệu lực từ từ. Cá nhân nào có nguyện vọng sang phía Tây sẽ được đồng ý tức thì nhưng với điều kiện phải có hộ chiếu, chỉ khước từ những trường hợp rất đặc biệt. Bằng cách này lãnh đạo Đông Đức muốn câu giờ, bởi vì thời gian đợi cấp hộ chiếu là sáu tuần lễ.

Thế nhưng số phận của Bức tường Berlin kết thúc nhanh hơn toan tính của nhà cầm quyền, của cả Helmut Köhl, cũng như nhiều người khác. Nó ập đến bất ngờ.

Bí thư Thành ủy Berlin Güenter Schabowski thông báo chương trình nới lỏng thủ tục của chính phủ trong cuộc họp báo quốc tế vào tối ngày 9/11/1989. Mọi thứ đã có thể khác đi, nếu không có người đột ngột đưa ra câu hỏi bao giờ có hiệu lực. Guenter Schabowski lúc ấy rất có thể chưa ý thức thật rõ ràng hoặc cũng có thể vì lúng túng, buột miệng nói: “Ngay lập tức”. Nội dung họp báo theo đúng kế hoạch sẽ phát lên ăng-ten hôm sau, nhưng đài truyền hình Đông Đức MDR “vội vã” xé rào, loan tin ngay: “Biên giới Đông Đức mở cho tất cả mọi người. Đường sang phía Tây tự do!”.

Thế là giữa đêm ấy, ngày 9/11/1989, hàng ngàn người kéo nhau đến sát tường đòi qua phía Tây. Không có lệnh từ thượng cấp, binh lính biên phòng nhìn nhau không biết phải làm gì. Cuối cùng, vào lúc 23 giờ 20 phút, chỉ huy trưởng B. Brücke tuyên bố mở cửa biên giới vì sợ dẫn tới xung đột đổ máu. Tin được truyền đi nhanh như chớp dọc theo tường thành. Tất cả các cửa khẩu cùng mở toang. Người ta tràn qua Tây Đức như sóng trào. Binh lính biên phòng cũng nhập theo dòng chảy. Sức mạnh của khát vọng tự do tạo nên bão táp, xô đổ tất cả mọi chướng ngại. Đông Đức như một núi tuyết, sụt lở ầm ầm. Güenter Schabowski chạy ra quan sát và nói rằng, Đông Đức vỡ vụn….

Mới đó thôi, vào ngày 18/01/1989, trên tờ báo Đảng Neues Deutschland, Erich Honecker hứa hẹn rằng “Bức tường Berlin sẽ còn tồn tại tiếp 50 năm, thậm chí 100 năm nữa”. Mới đó thôi, trong cuộc bầu cử tháng 5, tới 99% cử tri đã “sáng suốt chọn lựa” Đảng Cộng sản Đông Đức tiếp tục lãnh đạo đất nước!

Ngay cả các nhà chính trị và báo chí phương Tây cũng không nghĩ tình hình thay đổi nhanh như vậy. Trên Newsweek của Mỹ ngày 6/03/1989 nhà báo Michael Meyers dự đoán “dường như có một nhóm bảo thủ hơn sẽ lên nắm quyền. Thế nhưng sẽ xuất hiện một nhân tố quan trọng hơn, tác động vào hai nước Đức riêng rẽ, đó là áp lực kinh tế từ việc thiết lập thị trường chung Tây Âu”.

Một tuần tiếp theo sau đêm lịch sử 9/11 đã có hơn 4 triệu người Đông Đức qua Tây Đức. Họ vui mừng và kinh ngạc nhìn cuộc sống thịnh vượng của đồng hương ở phía bên kia bức tường. Họ giương biểu ngữ “Dân tộc chúng ta là một” và đòi thống nhất đất nước. Vài tháng sau, ngày 3/10/1990, với chính sách khôn khéo của Thủ tướng Helmut Köhl, không một hỗn loạn nào xảy ra, cùng với sự đồng ý của các tất cả các cường quốc, Đông Đức sát nhập vào CHLB Đức.

Tất cả bắt đầu từ Ba Lan

Sau 20 năm đã có sự đồng nhận định rằng, cuộc cách mạng dân chủ mùa Thu năm 1989 khởi đầu từ Ba Lan, nhưng Bức tường Berlin sụp đổ là tổng hợp kết quả của nhiều yếu tố.

Arnold Vaatz, cựu thành viên tổ chức đối lập Đông Đức Neue Forum, nghị sĩ quốc hội Đức, thuộc đảng CDU, nói: “Những biến động và thay đổi ở Ba Lan, Moscow, cũng như hoạt động của các tổ chức đối lập Đông Đức có ý nghĩa to lớn nhưng không mang tính quyết định. Công lao trước hết thuộc về 4 triệu người Đức phía Đông đã đệ đơn lên nhà cầm quyền xin ra khỏi nước vĩnh viễn. Lòng khao khát tự do của họ đã quyết định”. Stephan Hilsberg, nghị sĩ của đảng SPD bổ sung: “Không đơn giản như thế. Không có những người đã dám mạo hiểm với tù tội, sẽ chẳng có sự thay đổi nào hết”.

Tháng 06/2009, ông Steimeir, Ngoại trưởng Đức bấy giờ, trong chuyến công du quảng bá cuộc triển lãm “20 năm tự do tại châu Âu. Người Đức cám ơn”, nói tại Cracow, Ba Lan: “20 năm trước đây, lòng dũng cảm vươn tới tự do đã chiến thắng ở Ba Lan, sau đó ở Hungary và Tiệp Khắc. Từ đây đã mở đường cho sự thống nhất nước Đức và châu Âu. Những người Đức chúng tôi không bao giờ quên điều này”. Tham gia cuộc triển lãm này có bức tranh của họa sĩ Ba Lan Truscinski vẽ chiếc xe hơi mang biển số thành phố Gdansk “GDA 1970” và người công nhân cầm chiếc búa đập vào thành lũy cộng sản.

Bức tranh của Trucinski - Ảnh: GW

Bức tranh của Truscinski - Ảnh: GW

Cũng trong tháng 6, trước tòa nhà Reichstag, Berlin đã khánh thành bức tường tượng trưng tường Cảng Gdansk, nơi sinh ra Công đoàn Đoàn kết Ba Lan (Solidarność) với dòng chữ: “Để  tưởng nhớ cuộc tranh đấu của Công đoàn Đoàn kết vì tự do và dân chủ, cùng với sự đóng góp của Ba Lan vào việc thống nhất nước Đức và châu Âu”.

Vào dịp này, Thị trưởng Berlin Klaus Wowereit đã tặng cựu Thủ lĩnh Công đoàn Đoàn kết Lech Walesa huân chương cao nhất, Huân chương mang tên Reuter, hôm 8/06/2009. Nhắc lại cảnh quần chúng mừng vui trong ngày 9/11/1989, ông phát biểu: “Sự kiện này không tách biệt. Nó xảy ra từ vô số sự kiện khác. Và ở đây, chúng ta nhìn sang Ba Lan – tất cả bắt đầu từ Gdansk, tại xưởng đóng tàu mang tên Lenin. Một con người đã đi ra từ bóng đêm lịch sử và đối đầu với nhà nước cộng sản. Không ai lúc ấy nghĩ rằng, con người này, một thợ điện, lại có thể làm thay đổi Ba Lan và châu Âu. Với lòng biết ơn, chúng ta nhắc lại những gì mà những người anh em láng giềng của chúng ta đã làm. Lech Walesa thuộc danh sách những người quan trọng nhất tạo nên thống nhất Berlin và nước Đức. Ông đã góp phần quyết định vào việc xây dựng tương lai hòa bình”.

Tham dự lễ trọng thể năm nay có nguyên thủ của tất cả 27 quốc gia thành viên Liên hiệp châu Âu, Hoa Kỳ, Nga, Tổng thư ký NATO Rasmussen, Chủ tịch Nghị viện châu Âu Buzek, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Barroso. Lech Walesa là người sẽ xô đổ tấm panô đầu tiên trong gần một ngàn tấm biểu trưng cho Bức tường Berlin – tạo hiệu ứng đô-mi-nô làm nên ngày 9/11/1989.

Trước buổi lễ, ngày 31/10/2009, ba kiến trúc sư, hay là cha đẻ – theo cách nói của người Đức – của công trình thống nhất nước Đức gồm Helmut Köhl (79 tuổi), Mikhail Gorbachev (78 tuổi) và George W. Bush Senior (85 tuổi), đã đến Berlin tham dự hội thảo “Bức tường sụp đổ, thống nhất nước Đức – Chiến thắng của tự do” tại Nhà hát Berlin Friedrichstadtpalast.

Trong cuộc hội thảo, Helmut Köhl nói: “Người Đức không có nhiều lý do để tự hào về lịch sử của mình. Nhưng các sự kiện cách đây 20 năm đã cho phép họ như vậy. Tôi không có lý do nào tốt hơn là sự thống nhất nước Đức để tự hào. Nước Đức đã giành được thành đạt chung với lòng dũng cảm và phương pháp hòa bình”. Nhìn Gorbachev và W. Bush ngồi bên cạnh, ông nói thêm rằng, ông “đã may mắn được làm việc với họ” và “coi họ là đối tác quan trọng nhất trên thế giới, mặc dù có nhiều bất đồng”. “Các ngài yên tâm rằng, nước Đức sẽ tuân thủ các cam kết của mình cho tương lai” – Ông khẳng định.

George W. Bush Senior cho rằng, niềm vui thống nhất nước Đức không chỉ nằm ở thủ đô Berlin, mà còn trong con trái tim, khối óc của những người từ lâu đã tranh đấu cho quyền lợi mà Thượng Đế ban cho họ” và “không có bức tường nào có thể ngăn chặn được giấc mơ tự do của con người trong khối cộng sản”.

Gorbachev xác nhận ngay từ mùa hè năm 1989 ông đã tin rằng sự thống nhất của Đức mang tầm vóc của thế kỷ 21, “vài tháng sau đó, người ta đã mở đường cho sự thống nhất của Đức”. Rút ra bài học lịch sử từ các sự kiện, ông nói “các dự án châu Âu sẽ không mang lại kết thúc tốt đẹp, nếu nó dựa trên tư tưởng bài Nga và chống Mỹ”.

Ba nhà kiến trúc sư công trình thống nhất nước Đức, Berlin 31/10/09 - Ảnh: Reuters

Ba nhà kiến trúc sư của công trình thống nhất nước Đức, Berlin 31/10/09 - Ảnh: Reuters

20 mươi năm, vết thương chưa lành?

Từ năm 1991 Berlin trở thành thủ đô của nước Đức thống nhất, vô số công trình mới mọc lên ở phía Đông, trên cả những nơi bức tường đã đứng trước đây.

20 năm với nhiều thay đổi lớn lao, nhưng vết cắt nước Đức vẫn chưa lành lặn hết. Dân tộc Đức là một, nhưng đâu đó vẫn còn hai gam màu khác nhau. Nỗi luyến tiếc quá khứ (nostalgia) vẫn hiện hữu.

Thăm dò dư luận ngày 16/09/2009 của tuần báo Đức Stern và đài truyền hình Đức RTL cho thấy, 16% người phía Tây nhớ tới bức tường và muốn đất nước bị phân chia như cũ, trong khi khoảng 10% người phía Đông có ý nghĩ tương tự (phân nửa số này có bằng học nghề và quá khứ liên đới với chế độ cộng sản cũ).

Mặc dù khái niệm mang màu sắc miệt thị “Wessis” và “Ossis” ít ai dùng trong những cuộc gặp gỡ nghiêm túc, danh sách sự khác nhau về tâm lý giữa người bên Đông và bên Tây còn khá dài, căn cước, quyền sở hữu, luật pháp, ngôn ngữ và thậm chí tín ngưỡng. Trong khi đa số người Đức sống theo chuẩn mực giá trị của Cơ đốc giáo, thì sau 40 năm với ý thức hệ cộng sản, toàn bộ phía Đông gần như thế tục và phải hội nhập vào một xã hội đa văn hóa.

Người ta oán trách các nhà chính trị hiểu quá ít về nền kinh tế của Đông Đức, nên đã không báo trước cho dân chúng biết cần bao nhiêu tiền để cân bằng mức sống hai bên. Khi bức tường dựng lên, 167 tuyến giao thông của Berlin bị chặt đứt và nhiều cầu bị phế bỏ. Thu bộn số tiền quá cảnh tới 6 tỷ DM, Đông Đức cho phép các phương tiện công cộng của Tây Đức chạy trên lãnh thổ mình, nhưng không được dừng lại và dưới sự giám sát chặt chẽ của binh lính. Chỉ riêng tái thiết mạng lưới giao thông của Berlin, xây dựng các nhà ga, thay toa tàu, Tây Đức đã chi ra 40 tỷ DM.

Trong khối xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Đức có mức sống cao nhất, là niềm mơ ước của cả phần còn lại. Sinh viên miền Bắc Việt Nam đi du học xếp “nhất Đức, nhì Nga, thứ ba Tiệp Khắc” theo giá trị hàng hóa mang về nước. Còn công nhân Việt Nam lao động ở Đông Đức thuộc loại giàu có nhất vì kết thúc hợp đồng, thùng hàng đóng gửi về có thể thu cả chục lạng vàng.

Vậy mà, tính đến cuối năm 2006, tiền rót cho phía Đông khoảng 1100-1250 tỷ Euro, thu nhập đầu người của dân phía Đông hiện nay mới chỉ đạt 67,3% mức phía Tây. Thế  mới biết hệ thống cộng sản đã kéo lùi sự tiến hóa với sức mạnh khủng khiếp ra sao.

Người Đức phía Tây cảm thấy thua thiệt, bị mất một phần thu nhập. Họ chẳng ngại khi nói rằng, chính phủ lấy quá nhiều tiền thuế (đoàn kết) nuôi dân phía Đông lười biếng, nhưng hay ca thán và thậm chí vô ơn, vì bỏ phiếu ủng hộ các đảng hậu cộng sản…

Trong khi đó, người phía Đông có lý riêng của mình. Họ thấy bị phía Tây áp đặt. Người Đức phía Đông lẽ ra đã có thể là nhân tố tốt hơn cho sự phát triển nước Đức thống nhất, họ đã từng chống lại nền kinh tế kế hoạch. Sự cởi mở đón nhận cải cách của họ không được khai thác đúng mức. Người phía Tây đã không coi trọng kinh nghiệm của người anh em, không chịu hiểu rằng, di sản kinh tế tồi tệ của Đông Đức không xuất phát từ con người mà từ thể chế. Tất cả mọi thứ, các định chế, luật pháp đều mang từ bên kia sang…

Dân Ba Lan nói rằng, xây dựng cơ cấu dân chủ là tiến trình khó khăn và gian khổ, người Đông Đức thì có sẵn hết. Nhưng người Đông Đức phải ghen với người Ba Lan, vì có thể gặp sai lầm, phải trả giá đắt nhưng người Ba Lan tự do và có thể tự mình lo toan. Người Đông Đức thì không.

Một số người bi quan nhớ lại cuộc sống Đông Đức cũ không có người vô gia cư, với những kỳ nghỉ phép miễn phí, mọi người giúp đỡ nhau, có cái gì đó ấm cúng, của mình. Bây giờ, họ có thể trả tiền nhà ở vài ngàn Euro mỗi tháng so với 150 Mác trước đây, tiện nghi đầy đủ, hiện đại, nhưng nhịp sống quá nhanh, không còn thời gian cho bè bạn, đất nước bị quản trị bởi những người sẵn sàng làm mọi thứ vì lợi nhuận. Thế nhưng nói quay lại thời đó thì ít ai muốn.

Sau 20 năm, đề án xây dựng Tượng đài Thống Nhất, biểu tượng tính liên tục của nước Đức từ cuộc chiến với đế quốc La Mã hai ngàn năm trước tới ngày Bức tường Berlin sụp đổ, vẫn xếp trong ngăn kéo. Đã có tới 536 mẫu nhưng chưa thiết kế nào được chấp nhận vì thiếu đồng thuận.

Dù sao, so với kết quả thăm dò 10 năm trước, tỷ lệ nhỏ số người không hài lòng với nước Đức thống nhất đã giảm đi rõ rệt. Đông Berlin vươn lên sáng sủa hơn, văn minh hơn. Miền đất phía Đông mở ra cơ hội. Người Đức tiếp tục di chuyển nhưng dường như theo hành trình ngược lại, từ Tây qua Đông.

Nước Đức chưa thống nhất hoàn hảo về vật chất cũng như lòng người, nhưng không một chút nghi ngờ gì rằng, nó sẽ tới đích.■

Warsaw 5/11/2009

Chú thích: Toàn bộ số liệu và trích dẫn lời trong bài viết được sử dụng từ các nguồn sau: Pl.Wikipedia; nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza ngày 4/11/1999, 5/06/2009; 31/10/2009; PAP 16/09/2009, Tuần báo Polityka số 2710, 20/06/2009; Newsweek Poland số 45, 8/11/2009.

Bài viết cho nhật báo Người Việt – © 2009 by Người Việt.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

Những bất ngờ của lịch sử

Phạm Toàn dịch

Václav Havel là Cựu Tổng thống Cộng hòa Czech, nhà văn và kịch tác gia. Sinh ở Praha năm 1936, ông là học trò của nhà triết học Jan Patocka và đi theo nghề sân khấu mặc dù các kịch bản của ông đều bị kiểm duyệt gắt gao. Sau khi là đồng sáng lập viên của Hiến chương 77 và nhiều năm bị giam cầm, cuộc “Cách mạng Nhung” năm 1989 đã đẩy ông vào nghiệp chính trị. Ông làm Tổng thống Cộng hòa Czech từ 1993 tới 2003.

___________________

Vào cái thời mà tôi còn thuộc số những người được gọi là “bất đồng chính kiến”, đôi khi tôi tiếp các nhà báo từ phương Tây đến. Các câu hỏi của họ cho thấy họ vô cùng ngạc nhiên trước sự kiện là chúng tôi, những người bất đồng và chống đối – khi đó chỉ chiếm một tỷ lệ vô cùng bé nhỏ trong dân chúng – hoạt động công khai đòi thay đổi cơ bản tình hình, nhưng thoạt nhìn thì ai cũng thấy là chẳng khi nào chúng tôi có thể thu được kết quả gì to tát hết.

Ngược lại, hình như mọi nỗ lực của chúng tôi chỉ dẫn tới kết quả là những cuộc bức hại mới. Do chỗ chẳng có chút gì quyền lực để mà dựa vào, do thiếu một sự ủng hộ rõ rệt từ một bộ phận rất quan trọng của xã hội, những khát vọng của chúng tôi như thể là vô vọng. Bạn tính sẽ thành tựu tới đâu khi bạn không được sự ủng hộ của giai cấp công nhân, của giới trí thức hoặc của một phong trào nổi dậy, của một chính đảng hoạt động hợp pháp hoặc một lực lượng xã hội có tầm quan trọng nào khác nữa? Dó là những câu hỏi thời đó của các nhà báo, và chúng tôi cũng có sẵn cho họ mọi câu trả lời.

Những người nêu câu hỏi bộc lộ sự ngạc nhiên của mình như thế đều xuất phát từ ý nghĩ rằng họ đã hiểu rõ mọi cơ chế của lịch sử, và do đó mà họ cũng biết được tỏ tường những gì sẽ xảy ra hoặc có khả năng xảy ra, họ biết được đâu là điều có cơ may nổ bùng và đâu là không có những khả năng ấy, họ biết được cái gì là hợp lý, là có tính thực tiễn, và cái gì là thuần túy điên rồ. Trong các cuộc chuyện trò, tôi đều hơn một lần nhấn mạnh rằng trong một chế độ cực trị, thật khó mà nhìn thấu ruột gan của xã hội khi nhìn quanh chỉ thấy sự vật là một khối nguyên vẹn và đâu đâu cũng chỉ thấy một sự trung thành với chế độ.

Trước hết có nỗi sợ đào luyện con người, nên cái vẻ ngoài thống nhất vẹn nguyên như thế thực ra lại là vô cùng yếu đuối. Không một ai có khả năng tiên báo rằng một ngày nào đó chỉ một nắm tuyết con con tình cờ sẽ tạo ra cả một trận lở núi tuyết. Cái trạng thái tinh thần này hiển nhiên không phải là duy nhất và cũng chẳng hề là động lực cho hành vi của chúng tôi thời đó, nhưng tình cảm của chúng tôi khi đó là như vậy. Bài học ta có thể rút ra từ đó thật hiển nhiên: ta không bao giờ nên cho rằng mình đã nắm bắt được toàn bộ các quy luật của lịch sử, và do đó, ta cũng không tài nào tiên báo được những gì rồi sẽ xảy ra.

Cách đây hai chục năm, ở Tiệp Khắc có một nắm tuyết con con xuất hiện dưới hình thù một cuộc đàn áp sinh viên hung bạo, và nắm tuyết đó đã biến thành trận lở núi tuyết. Thế rồi toàn bộ hệ thống cực trị đã lung lay, rồi nó sụp đổ như thể một tòa lâu đài ghép bằng giấy bồi. Chuyện này có căn nguyên là vô số nhân tố, trong đó có cuộc khủng hoảng nội tại sâu xa của toàn chế độ, là những biến cố xảy ra ở các nước láng giềng hoặc một hoàn cảnh quốc tế thuận lợi.

Bất kể thế nào thì khi đó chúng tôi đều ngạc nhiên vì tình hình quay ngoắt nhanh đến thế và dễ dàng đến thế. Đứng trước sự kiện, thấy rõ là các nhà bất đồng chính kiến cũng sững sờ chẳng kém gì các nhà báo và các nhà nghiên cứu chính trị phương Tây. Đến lượt mình, chúng tôi cũng thấy mình không có khả năng định ra được giải pháp đúng trước tình hình, và cuối cùng có thể đủ sức tiên báo những hệ quả. Khi đó chúng tôi đã tìm cách ứng xử như những con người tự do, chúng tôi nói ra sự thật, chúng tôi đưa ra chứng cứ về tình hình đất nước mình. Khi đó chúng tôi chẳng có tham vọng nắm quyền lực.

Do không có phương án khác, chúng tôi đã phải lúng túng chấp nhận quyền lực đó. Và cũng vào thời điểm đó còn có một sự kiện thú vị khác nữa: vô số người trong nhiều năm đã chịu lặng câm mà đi đều bước với chế độ, có cả vô số những người đã lên án những nỗ lực vô vọng của chúng tôi, những người này khi đó lại lớn tiếng chê trách chúng tôi kém chuẩn bị tiếp nhận vai trò của mình trong lịch sử. Ngay cả hôm nay đây, vẫn có những người lớn tiếng bêu ra những điều lẽ ra chúng tôi đã phải làm nhưng lại chẳng làm, cả những điều lẽ ra chúng tôi chẳng nên làm, và cả những gì chúng tôi đã làm nữa.

Đến nơi sau khi trận mạc đã xong xuôi, những vị tướng lĩnh giờ thứ hai mươi lăm đó đã trách cứ chúng tôi về những phát biểu trước đây đáp lại những quan sát hoài nghi từ bên ngoài, trách chúng tôi chẳng có cách gì tiên lượng hết mọi điều có thể xảy ra, trách cả việc chúng tôi không tiên liệu được đầy đủ những vận hành huyền bí của lịch sử cùng những gì có thể xảy ra trong tương lai. Trách cứ cả chúng tôi là đã không chấp nhận cái khả năng xảy ra một sự kiện mà tới khi đó chúng tôi vẫn cho là khó có thể xảy ra.

Đúng thế, trong những người bất đồng chính kiến có cả các giáo sư, họa sĩ, nhà văn và công nhân chạy lò sưởi cho thành phố, nhưng tịnh không có nhà chính trị nào hết. Vả lại, dưới chế độ cực trị, chúng tôi biết tìm ở đâu một thế hệ nhà chính trị để thay ê-kíp kia chứ? Số lượng lớn những chuyện đặt ra như vậy là chẳng có gì đáng ngạc nhiên nữa.

Tuy vậy, tôi nghĩ rằng việc chúng tôi không có ý định lãnh trách nhiệm lịch sử hoặc nói cho đúng hơn là trách nhiệm trong cuộc chạy nước rút của lịch sử cũng là tốt thôi. Nói chung, tôi không tin lắm vào mọi điều gì được chuẩn bị quá kỹ càng. Nhưng trong cái nhiệt tình của đông đảo mọi người trước một cuộc cách mạng diễn ra không đau đớn và khi mọi người đều góp tay vào một cách không vị lợi, thì hình như việc phục hồi một nền chính trị dân chủ và việc phi nhà nước hóa nền kinh tế phải được trống rong cờ mở mà tiến hành thôi.

Mặc dù vậy, tình hình đã không như thế. Thấy rõ là không thể nào trong vài ba giờ đồng hồ hoặc trong vài ba ngày mà nghĩ đủ, mà chuẩn bị đủ và tiến hành đủ các cải cách thiết yếu. Những ngày đó, biết bao nhiêu lần tôi đã nổi nóng vì mọi sự đều chận trễ và mọi sự đều không diễn ra như ý mình. Có lẽ điều ngạc nhiên nhất đối với tôi, ấy là sự khám phá ra rằng có lẽ tôi không phải là người duy nhất trong chừng mực nào đó đã có thể tác động vào lịch sử, nhưng lại không thể tác động đột ngột vào nó được.

Ngay từ khởi đầu, và lý do đều chính đáng cả, nước chúng tôi cũng như các nước khác trong khối Xô-viết cũ, đã triển khai toàn bộ để mở ra cho mình các cánh cửa của những thiết chế kiểu Tây phương, nhất là của tổ chức hiệp ước Đại Tây dương (NATO) và Liên hiệp châu Âu. Và đó là điều đã diễn ra. Tiến trình gia nhập đã chiếm mất vô khối thời gian và phải vượt qua vô số mạch đá ngầm. Tôi cho rằng bây giờ đây chúng tôi đã neo đậu được rồi vào cái không gian đã là của chúng tôi đó và chúng tôi đã giành giật mạnh mẽ mới được. Dẫu sao, tôi không tin chắc rằng những nền dân chủ “lâu đời” của phương Tây đôi khi lại không tiếc rằng đã thả cho chúng tôi dễ dàng xuôi thuyền vào không gian to rộng ấy. Và nếu như để đến bây giờ họ mới có quyết định, thì tôi không tin tưởng lắm là họ đã chấp nhận cho chúng tôi vào đó với họ.

Nếu đúng như vậy thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Nhưng đồng thời, và hẳn là bạn sẽ hiểu tôi muốn nói gì ở đây, sự kiên trì lại phải trả giá. Chúng tôi đã thử thách sự kiên trì khi chúng tôi ở trong phòng trào bất đồng và chống đối và cả trong khi chúng tôi vất vả dựng xây một nhà nước dân chủ. Không phải là cứ cầm cỏ mà nhấc lên thì cỏ mọc đẹp đâu ạ.

Đôi khi cứ muốn điên tiết lên, nhưng hình như cứ đến rằm thì trăng sẽ tròn. Suy nghĩ rằng châu Âu mãn kiếp chia rẽ là một ý tưởng bệnh hoạn. Nghĩ như thế, như ở vùng của tôi, có thể đi tới chỗ dấy lên cao trào dân tộc chủ nghĩa và tạo ra những kẻ dân tộc hung hăng, điều đó ta thấy ở khắp nơi khi nền tảng không ổn định. Và điều đó đã từng tạo điều kiện cho biết bao nhiêu bước ngoặt ở phương Tây và cuối cùng là cho cả thế giới như những chuyện rắc rối chúng ta đang gây ra. Chưa kể là ổ dịch thì không thiếu, chỉ chờ để mà bùng phát thôi.

Như thế, việc chúng ta phải tỏ ra kiên nhẫn thật hết sức có ý nghĩa. Mất kiên nhẫn có thể dẫn tới sự cao ngạo, và cao ngạo lại dẫn tới mất kiên nhẫn. Tôi hiểu “cao ngạo” là niềm tin kênh kiệu cho rằng chỉ riêng mình là biết đủ thứ, riêng mình hiểu được lịch sử, mà hậu quả là dễ dàng đoán định lịch sử. Và khi sự việc và sự kiện diễn ra khác hẳn những gì mình định liệu, thì chỉ còn biết một giải pháp là bắt tay vào can thiệp. Can thiệp bằng sức mạnh nếu cần. Cộng sản vẫn hành động như vậy.

Sự quá tự tin của các lý thuyết gia và các nhà kiến tạo lý thuyết như thế đã dẫn tới hệ thống trại cải tạo kiểu gulag. Từ lúc xuất phát, họ đã tin chắc rằng họ hiểu thấu các bí ẩn trong những quy luật lịch sử và do đó mà họ biết rõ cách xây dựng ngay tắp lự một thế giới công bằng hơn. Nghĩ như vậy rồi thì còn cần gì mất công giải thích nữa cho những con người đã biết cách xây dựng ngay một thế giới tốt đẹp hơn cho nhân loại, bất kể nhân loại đó nghĩ gì. Đối thoại chỉ làm mất thì giờ, và muốn gì thì muốn, đã định làm đĩa trứng rán thì phải đập trứng rồi.

Khi tấm màn sắt bị hạ và kết thúc việc phân chia thế giới theo hai cực, điều cho tới lúc đó vẫn được coi là nguồn gốc mọi tệ hại, rõ ràng là đã tạo nên một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng. Một hình thức bạo hành đối với thế giới đã chấm hết, nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ ba tiêu tan. Ban đầu, vô khối người đã nghĩ chính lịch sử đã chấm dứt và một thời kỳ đẹp tươi mới mẻ đã bắt đầu.

Cả điều đó cũng biểu hiện sự thiếu khiêm nhường trước những huyền vi của lịch sử, hoặc đơn giản là biểu hiện của sự thiếu đầu óc tưởng tượng. Và quả thực là ở chân trời xa chẳng thấy lịch sử chấm hết ở chỗ nào cả. Đúng là vô số nguy cơ to lớn đã lùi xa, nhưng vô vàn đe dọa với vẻ ngoài không đáng sợ mấy đã xuất hiện khi cái vòng kim cô hai cực bị phá vỡ. Nhưng chúng ta đã coi thường nguy cơ nào trong thời toàn cầu hóa? Xưa kia, các cuộc thế chiến được khởi động từ châu Âu, từ cái lục địa từ lâu đời vẫn là trung tâm của thế giới văn minh. Liệu chúng ta có tin chắc là sự thể cứ như vậy mãi mãi?

Giờ đây, khi mà bất kỳ tên độc tài nào cũng có thể có được bom nguyên tử, liệu có chăng khả năng một xung đột địa phương rồi sẽ tàn phá toàn thế giới? Bọn khủng bố từ nay đã chẳng có thêm vô số khả năng trong tầm tay mà thời xưa chúng không có nổi đó sao? Cái nền văn minh vô thần đầu tiên trong lịch sử này, nó chưa bao giờ tuyên bố là sẽ sống lâu muôn tuổi, song liệu nó có thấy chăng sự xuất hiện vô số đe dọa trầm trọng mà đơn giản chỉ vì nó thiếu sáng suốt? Liệu rồi có ra đời những thế hệ mới gồm những kẻ bị ám ảnh, những kẻ cuồng tín và luôn luôn hằn thù và lại là những kẻ được thời đại chúng ta cung cấp cho những khả năng làm hại to rộng hơn rất nhiều so với xưa kia? Liệu chúng ta hàng ngày có phạm chút lỗi lầm nào gây hại cho hành tinh này với những hậu quả không chỉ là bi thảm mà còn là những hậu quả vô phương cứu chữa?

Tôi cảm thấy hình như điều vô cùng quan trọng hôm nay – và những trải nghiệm riêng của tôi không ngừng làm tôi hết tin tưởng như vậy – có lẽ là nên có một thái độ khiêm nhường đối với cuộc đời rộng lớn, biết tôn trọng những gì vượt quá sức chúng ta, biết quan tâm đến sự tồn tại những điều huyền vi mà chúng ta không bao giờ hiểu nổi, và nên biết rằng chúng ta cần chịu trách nhiệm mà không dựa trên niềm tin là chúng ta đã biết hết mọi điều, đặc biệt là niềm tin về cách thức sự vật sẽ diễn ra và chấm hết. Chúng ta chẳng biết gì ráo. Nhưng hy vọng thì lại là cái không một ai trong chúng ta được vứt bỏ. Vả chăng, một cuộc đời mà chẳng có chút gì để mà ngạc nhiên thì cũng thật là ngán ngẩm.

Zuzana Tomanova cùng Maxime Forest dịch từ tiếng Czeh sang tiếng Pháp

Nguồn: Le Monde 31/10/2009

Bản tiếng Việt © 2009 Phạm Toàn

Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Chuyện về Philipp Rösler: Thưa bà, bà có nhận ra đứa trẻ mồ côi trong ảnh này không?


http://www.x-cafevn.org/node/2334

Bums, X-Cafe chuyển ngữ
BAMS (Báo Tấm ảnh ngày chủ nhật-Bild am Sonntag, CHLB Đức) có mặt ở Khánh Hưng, một thị trấn tại Nam Việt nam, nơi tân Bộ trưởng y tế của chúng ta khi còn nhỏ đã từng sống trong một trại trẻ mồ côi.Con đường trở về với quá khứ của Rösler quả là khó khăn. Hít thở không khí bụi bặm, tiếng còi xe máy đinh tai nhức óc, cái nóng ngột ngạt oi bức tạo nên một lớp mồ hôi bao bọc thân thể tôi.
Bảy giờ đồng hồ chạy taxi từ Sài gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh, bị nhồi lên nhồi xuống bởi những ổ gà trên con lộ của miền Nam Việt nam, qua những gánh hàng cơm bụi những ngôi nhà được lợp bởi là dừa. Cuối cùng khoảng 11 giờ trưa tôi cùng với người phiên dịch Bình (34 tuổi) cũng đã tới được thành phố Sóc Trăng thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây, một thành phố lớn, cho đến trước khi Việt Cộng tiến vào năm 1975 có tên là Khánh Hưng, năm 1973, có nghĩa là trước đây 36 năm, tân bộ trưởng y tế của chúng ta đã chào đời. Một đứa trẻ khi ấy chưa mang tên là Philipp, và với chỉ 9 tháng tuổi đã được một cặp vợ chồng người Đức nhận làm con nuôi.
Chúng tôi tìm đến nhà thờ công giáo tại số 190 Tôn Đức Thắng. "Ở đây có Xơ nào tên là Mary-Marthe và Sylvie không?", phiên dịch của tôi hỏi thăm người quản gia. Những cái tên này của các bà Xơ đã được Rösler, mới chỉ có một lần trở Việt nam (do hối thúc của vợ), nhắc đến trong một lần phỏng vấn trước đây. Ngoài ra không có thông tin gì thêm. Ông ta cũng chưa hề về thăm các Xơ, và cho đến nay Rösler cũng vẫn không cảm thấy có đòi hỏi phải đi tìm kiếm cội nguồn của mình: "Có lẽ ông cũng vậy, ông sẽ chỉ đi tìm những cái gì mà ông cảm thấy thiếu", ông ta nói vậy, "và tôi không hề cảm thấy mình thiếu cái gì đó."
Người quản gia chỉ đường cho chúng tôi tới hai ngôi nhà khác, "ở đó là chỗ của các bà Xơ", ông ta nói. Vào trong sân, một bà Xơ già người Việt tiến về phía chúng tôi. "Bà có thể cho chúng tôi biết các Xơ ngày ấy bây giờ ra sao?", "Xơ Sylvie đã qua đời", bà ta nói, "bây giờ chỉ còn có mình tôi, Xơ Đỗ Thị Suôn."
"Thế còn Xơ Mary-Marthe? Người đàn bà mỉm cười. "Chính là tôi, đó là tên thánh của tôi."
 
Xơ Mary-Marthe với tấm hình bộ trưởng Philipp Rösler trong tay. Bà Xơ 78 tuổi tin chắc: "Anh ta khi còn nhỏ đã sống trong Cô Nhi Viện của chúng tôi, sau đó được đưa về Sài gòn để bay sang Đức."
Lạy chúa, chúng tôi đã tìm thấy bà ta! Tôi kể cho bà ta về Philipp Rösler, năm 1973 đã được nhận làm con nuôi, và giờ đây đã trở thành một người đàn ông quyền lực tại nước Đức. Chúng tôi đưa cho người đàn bà 78 tuổi một tấm hình của Bộ trưởng. Một cách trìu mến bà ta nâng nưu tấm ảnh trong đôi bàn tay khẳng khiu lốm đốm tàng nhang dấu ấn của tuổi già, và bắt đầu kể: "Philipp chắc chắn đã từng ở chỗ chúng tôi", bà ta nói. "Xơ Sylvie và tôi khi đó đã chăm sóc khoảng 100 trẻ mồ côi và cùng với tổ chức "Terre des Hommes" chúng tôi tiến hành tìm kiếm cha mẹ nuôi cho chúng. Chúng tôi đã thành công, tất cả mọi đứa trẻ đều có được cha mẹ nuôi. Phần lớn tụi chúng được đưa đi Pháp hoặc Hoa Kỳ, số sang Đức nhiều lắm cũng chỉ vào khoảng 30 cháu."
Chúng tôi đứng trước ngôi nhà Cô Nhi Viện thủa ấy, một ngôi nhà quét vôi màu vàng với những cửa sổ ô kính khung gỗ. "Đây là nơi chúng tôi khi đó đã chăm sóc nuôi nấng các cháu", Xơ Mary kể và đưa ngón tay run rẩy chỉ, "các cháu trai ngủ ở tầng một còn các cháu gái ngủ ở tầng 2. " Một giai đoạn kinh khủng khi đó trong chiến tranh Việt nam.
"Những người mẹ chạy trốn khỏi những xóm làng rực lửa, nhấn vào tay chúng tôi những đứa trẻ gần như chết đói", Xơ kể lại, "hoặc có khi có những người lính họ đến chỗ chúng tôi và trao lại những đứa trẻ mà họ tìm thấy ở một nơi nào đó."
Chỗ này, chỉ một vài mét sau hàng rào, những bà Xơ theo đạo công giáo đã chăm sóc hồi phục sức khỏe những đứa trẻ-cho dù không phải lúc nào họ cũng có thể cứu sống được tất cả bọn chúng.
"Tụi trẻ nằm chật khắp tất cả các gian, nhiều cháu mang bệnh, bị tiêu chảy, giun sán hoặc viêm phổi", Xơ Mary kể lại, "tất cả những gì chúng tôi có thể đem lại cho các cháu là một chút gì đó để ăn, thỉnh thoảng cũng có thuốc men, còn lại là tình yêu của chúng tôi."
1975, sau chiến thắng của Việt Cộng, nhà nước đã tịch thu cơ sở của dòng tu "Oder of Providence", hiện nay những tòa nhà này được sử dụng làm khu nội trú của một bệnh viện trẻ em. Chúng tội không được phép ở đó. Ở một góc trong sân có những chú heo đang ủn ỉn và những chú chó chạy qua chạy lại. "Khi xưa chúng tôi cũng có một chỗ chăn nuôi heo và một vườn rau", Xơ Mary kể, "cái này cho đến tận bây giờ vẫn vậy."
Chúng tôi len lỏi tiếp tục đến một trường học bên cạnh. Trên cái bàn cạnh lối vào có một bình hoa giả màu vàng, các cháu gái tóc tết đuôi sam cười khúc khích. Xơ Mary ngồi vào chỗ. Xơ sang Pháp khi tuổi mới 22 để học tiếng, giờ đây Xơ là chứng nhân duy nhất còn lại ở Khánh Hưng, người có thể kể về ngày xa xưa ấy: "Xơ Sylvie luôn tháp tùng lũ trẻ về Sài gòn, đưa chúng đến những Sứ quán của các nước nơi hoàn tất thủ tục nhận con nuôi", Xơ kể, "sau khi nắm quyền những người Cộng sản đã tiêu hủy chứng chỉ khai sinh của rất nhiều cháu nhỏ trai và gái đã được môi giới làm con nuôi ở các nước phương Tây."
Lũ trẻ được đưa về Sài gòn, còn Xơ Mary thì ở lại Cô Nhi Viện. "Bởi vì tôi là giáo viên, tôi phải dạy học", Xơ kể, nhưng người ta cũng cảm nhận được, nỗi lòng của Xơ trước mỗi cuộc chia tay. Xơ lại ngắm nhìn tấm hình Philipp: "Chúng tôi biết, rằng cuộc sống của những đứa trẻ này ở một nơi nào khác sẽ tốt hơn là ở tại quê hương chúng", Xơ nói, "để cho tất cả chúng ra đi đó là một điều đúng đắn."
Việc các con "của Xơ" ngày nay "bằng lòng và hạnh phúc", đó là điều duy nhất mà Xơ Mary cầu mong cho tương lai. "đối với tôi không còn mong muốn gì hơn nữa", Xơ nói và cười. "hay là còn một điều", Xơ như sực nhớ ra, "có thể chỉ là một mong muốn rất nhỏ: Liệu tôi có được phép giữ lại tấm hình của Philipp?"
Nguồn:
www.bild.de

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009

Nghĩ về em cũng buồn bằng nghĩ về đất nước này[*]/ Anh thì khác/ Nghĩ về đất nước này không vui bằng nghĩ về em/ Nghĩ về em không bất trắc, nghĩ về em không âu lo, nghĩ về em cùng lắm là hồi hộp. ... [đỗ trung quân] http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=F393BDEA889A7CBD9756E67495BA0D75?action=viewArtwork&artworkId=9413

Cô gái “cát” gây sửng sốt trên Ukraine's Got Talent [YouTube]

 

Ngôi sao mới trên YouTube là cô gái người Ukraina - Kseniya Simonova, 24 tuổi, vừa giành giải nhất cuộc thi Ukraine's Got Talent. Nước mắt hàng triệu khán giả đã rơi khi cô thể hiện câu chuyện của mình bằng… cát.

Kseniya Simonova đã trở thành một hiện tượng trên YouTube khi kể lại những câu chuyện qua tranh cát. Tờ Guardian của Anh đã không tiếc lời khen có ý rằng có Simonova rồi thì ai còn cần Susan Boyle (“giọng ca thiên thần” giành vị trí thứ hai trong cuộc thi Britain’s Got Talent 2009) nữa?

Sử dụng một hộp ánh sáng, âm nhạc đầy cảm xúc, trí tưởng tượng và tài năng vẽ tranh trên cát, Simonova kể lại câu chuyện bi tráng thời chiến tranh vệ quốc Thế chiến II.

Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh một cặp đôi ngồi nắm tay nhau trên chiếc ghế dài dưới bầu trời đầy sao. Rồi chiếc máy bay chiến đấu xuất hiện và cảnh tượng hạnh phúc không còn nữa. Thay vào đó là khuôn mặt một phụ nữ đang khóc, và rồi một em bé xuất hiện và người phụ nữ lại mỉm cười. Một lần nữa chiến tranh lại trở lại với những cảnh tượng hỗn loạn. Khuôn mặt trẻ trung của người phụ nữ nhanh chóng trở thành một khuôn mặt người góa phụ già nua đầy những nếp nhăn và vẻ buồn bã. Sau đó hình ảnh ấy lại biến thành đài tưởng niệm của một người lính vô danh.

Cảnh tượng này được đóng khung trong một chiếc cửa sổ như thể người xem đang ngồi trong nhà nhìn ra đài tưởng niệm. Cảnh cuối cùng là hình ảnh một bà mẹ và em bé ngồi bên trong, bên ngoài là người đàn ông ấn tay vào tấm kính nói lời tạm biệt để ra trận.

Với câu chuyện được kể lại bằng cát của mình, cô gái sinh năm 1985 đã chiếm giữ con trái tim khán giả. Màn trình diễn dài 8 phút rưỡi của Simonova như thể một tác phẩm bậc thầy làm lay động sâu sắc những người dân Ukraina. Khán giả không kìm được những tiếng thổn thức khi theo dõi cát biến ảo dưới bàn tay tuyệt vời của cô..

Gần như hầu hết trong số 13 triệu người xem Simonova trình diễn trực tiếp qua truyền hình trong cuộc thi Ukraine's Got Talent đều khóc thổn thức. Ban giám khảo cũng như những khán giả tại studio cũng không thể ngăn những dòng nước mắt tuôn rơi.

Và không chỉ người Ukraina mới yêu thích những câu chuyện của Simonova.

Đến nay, video trình diễn của Simonova thu hút hơn 4 triệu lượt xem trên YouTube.. Con số này là một hiện tượng khác thường cho một clip của một nghệ sĩ ở một nước ngoài Anh và Mỹ, đặc biệt là khi rất ít người xem có thể hiểu được những dòng thông điệp được viết bằng tiếng Ukraina.

Những bức tranh cát của Simonova mang đến sự bình lặng, rồi những xung đột. Một cặp đôi ngồi bên nhau trên chiếc ghế tựa bỗng chốc hóa thành một khuôn mặt phụ nữ. Một cuộc đi dạo êm ả bỗng trở thành một thảm họa. Một góa phụ đang khóc thổn thức bỗng chuyển thành chiếc đài tưởng niệm một người lính vô danh... Simonova đã giữ cho câu chuyện kể của mình liền mạch bằng bàn tay khéo léo "làm phù thủy" với cát...

Thành công ùa đến khiến Simonova vô cùng ngạc nhiên. Người mẹ trẻ này cho biết cô hạnh phúc được sống với chồng và cậu con trai nhỏ ở Evpatoria (một thành phố nhỏ ở Ukraina) và sẽ không đi đến các nước khác để kiếm lợi từ lượng fan khổng lồ khắp toàn cầu của mình.

“Tôi tham gia cuộc thi bởi vì tôi muốn giúp một em bé đang cần làm phẫu thuật. Tôi không định làm cả nước tôi phải khóc", Simonova tâm sự về quyết định tham dự cuộc thi Ukraine's Got Talent.

Simonova đã dùng khoản tiền thưởng gần 120.000USD để mua một căn nhà nhỏ và lập một quỹ từ thiện cho trẻ em..