Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Lý Công Uẩn dời đô sang Tầu?

Ngô Nhân Dụng

Ðại lễ Ngàn Năm Thăng Long sắp khai mạc chính thức. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản cho mở hội đúng ngày quốc khánh của Trung Cộng, với một bộ phim dài về Lý Thái Tổ trong đó ông vua khai sáng nhà Lý mặc y phục kiểu Tầu, bảnh bao như tài tử Hồng Kông. Bộ phim thực hiện ở bên Tầu, các vai phụ tuyển toàn dân Trung Quốc, phim do người Tầu sửa chữa kịch bản và dàn dựng, đạo diễn toàn bộ!

Người không hiểu nổi tại sao quý quan cộng sản lại chọn bắt đầu kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Cộng. Lý Công Uẩn đã chính thức dời đô trong tháng 7 âm lịch, chứ không phải đầu tháng 10.

Nhà toán học Ngô Bảo Châu tháng 5 năm ngoái (2009) đã viết một bức thư gửi cho các đại biểu Quốc Hội Việt Nam, về chuyện cho Trung Quốc khai thác mỏ bô xít ở nước ta. Trong thư có đoạn: “Trung Quốc thực hiện chính sách ‘thực dân mới’... Trong trường hợp của Việt Nam, ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc có thể kéo thêm hệ quả nguy hiểm sau đây: quan hệ hữu cơ vốn có của văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam trở thành đô hộ văn hóa. Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn, thì ta chỉ nhận phần thiệt thòi, còn bản sắc ta thì tồn tại được bao lâu. Vấn đề độc lập văn hóa, giữ gìn bản sắc vô cùng hệ trọng, xin quý vị lưu ý...”

Những nhận định của ông Ngô Bảo Châu về vấn đề “quan hệ hữu cơ vốn có” giữa Việt Nam và Trung Quốc và việc “giữ gìn bản sắc dân tộc” đang là một chuyện thời sự nhân vụ Lý Công Uẩn sang Tầu đóng phim. Thế kỷ 18, ông Lê Quýnh từ chối không chịu kết tóc bím và bỏ đồ Việt Nam để mặc y phục Tầu, dù chịu áp lực của nhà Thanh. Ông nói: “Ðầu tôi có thể chặt nhưng tóc tôi không thể đổi; da tôi lột ra được nhưng tôi không đổi áo.” Ngày nay, cộng sản Việt Nam đưa vua Lý sang Tầu mặc y phục, mũ mão giống y như tài tử đóng vai Tần Thủy Hoàng! Một dân tộc mất quặng mỏ, mất rừng, mất gỗ và mất môi trường sống trong lành cũng không nguy hiểm bằng mất cả linh hồn, khi bản sắc dân mình không còn nữa.

Trước khi coi đầy đủ cuốn phim Lý Công Uẩn này, cả nước đã uất lên vì giận. Ðây là âm mưu cho Lý Công Uẩn dời đô một lần nữa, từ Việt Nam sang Trung Quốc! Một nhà giáo trong nước phê bình: “Từ trang phục cho đến cảnh quan, từ áo mão cho đến búi tóc, hình ảnh toát ra cho ta thấy: Ðây là một phim Trung Quốc; chẳng khác gì những phim lịch sử Trung Quốc khác mà đông đảo người Việt Nam quen xem.” Trên Blog Gốc Xậy, trích dẫn nhận xét của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên: “Ðây là một bộ phim Trung Quốc, không có gì để tranh cãi. Ðạo diễn Trung Quốc, biên kịch Trung Quốc.” Một độc giả góp ý trong blog: “Họ đã bôi nhọ lịch sử nước ta và coi thường dân trí” của người Việt Nam! Có người tố cáo ông Trịnh Văn Sơn, một người bỏ tiền làm phim, ngoài đời “rất tôn sùng Trung Quốc, toàn chê ngoài Việt Nam thôi.” Tên ba bố con ông ghép lại thành tên Tôn Trung Sơn, quốc phụ nước Tầu từ năm 1911. Tên công ty của ông Sơn là “Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành.” Hình logo của công ty này là cảnh “Ðông phương hồng, mặt trời lên” trên ngọn núi. Những lời tố giác này cũng hơi quá đáng. Bao nhiêu lãnh tụ cộng sản Việt Nam đã lấy tên Trung Hoa và đề cao thành tích của người Trung Hoa. Ông Ðặng Xuân Khu chẳng hạn. Việc ông đề cao cuộc Vạn Lý Trường Chinh khi chọn bí danh có khác gì việc ông Sơn chọn tên Trường Thành?

Những người làm cuốn phim Lý Công Uẩn đã bênh vực các quan chức trong đảng, biện hộ rằng việc thực hiện cuốn phim này hoàn toàn là do sáng kiến tư nhân, đảng và nhà nước không can dự. Nếu cuốn phim có vẻ “Tầu” quá thì những người bỏ tiền làm phim chịu trách nhiệm, còn đảng cộng sản vô can. Các bộ trưởng, phó thủ tướng chỉ ủng hộ đem phim lên chiếu ti vi sau khi nhận được quá cáp mà thôi!

Nhưng nếu điều này là sự thật thì cũng chính là mối nguy hiểm lớn hơn nữa! Người ta tự động ỷ lại vào Trung Quốc không cần Bộ Chính Trị yêu cầu. Vì người ta đã tập nhiễm thói quen ỷ lại, hướng về Bắc Kinh từ thời 60 năm nay rồi!

Khi các nhà kinh doanh văn hóa tính làm một cuốn phim biểu hiện tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam, mà họ chấp nhận giao phó cuốn phim đó cho người Trung Hoa làm hộ một cách không dè dặt, không do dự, thì trong đầu óc họ nghĩ ngợi thế nào? Họ phải quen sống với một nếp suy nghĩ nào đó, thì mới tự nhiên, không ngần ngại, nhờ ngay các nhà đạo diễn, những nhà viết kịch bản Trung Hoa làm giúp việc biểu hiện tinh thần dân tộc Việt Nam! Phải chăng họ coi người Trung Hoa và người Việt cũng vậy, không có gì khác nhau cả? Phải chăng vì họ đã nghe quen những câu hát “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” từ bao nhiêu năm nay rồi? Phải chăng vì họ vẫn thuộc lòng những câu thơ Hồ Chí Minh “Mối tình thắm thiết Việt Nam-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em” đọc khi tiễn đưa Lưu Thiếu Kỳ? (Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76). Ðã là đồng chí lại là anh em thì còn lo gì mà không nhờ “ông anh đồng chí” làm phim hộ? Mấy thế hệ người Việt Nam đã được huấn luyện từ khi là học sinh mẫu giáo là phải học tập Mao chủ tịch, noi gương Mao chủ tịch, ghi nhớ công ơn Mao chủ tịch, vân vân. Cái tinh thần đó đã được thấm nhuần trong các đồng chí như Trịnh Văn Sơn.

Trên mạng Tuyên Quang Online, một bạn trẻ tên là Bạch Văn Cơ viết, từ năm 2007,

xem lại lịch sử các phim ảnh thịnh hành, anh thấy: “Ðầu những năm 90: điện ảnh Ðài Loan. Giữa những năm 90: điện ảnh Hồng Kông, Hàn Quốc. Từ đó đến nay: điện ảnh Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Ðài Loan cùng ‘tổng tấn công.’”

Khán giả Việt Nam có coi phim Ðài Loan, Nam Hàn, Hồng Kông cũng chỉ để giải trí, có thể vô hại. Nhưng khi một nước Việt Nam muốn làm cuốn phim kỷ niệm một năm đại lễ của dân tộc, mà lại phải đi cầu viện năng khiếu nghệ thuật của người Trung Quốc, giao khoán cho họ kể chuyện tổ tiên mình, thì đó là quốc sỉ. Nó cho thấy tinh thần nô lệ về văn hóa đã nhiễm vào đầu óc nhiều người quá rồi, đã thành một phản xạ, một tập quán tự nhiên.

Từ khi Hồ Chí Minh tái lập đảng Cộng Sản năm 1950, 51, ông nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông, cho vào cương lĩnh của Ðảng Lao Ðộng. Quá trình nô lệ văn hóa bắt đầu. Ðây là một giai đoạn nô lệ mới, khác với thời kỳ 1000 năm từ thế kỷ thứ nhất khi Mã Viện sang chiếm nước ta, vì do một đảng lãnh đạo nước Việt Nam tự nguyện theo người Hán. Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, còn Hồ Chí Minh dời bộ óc người Việt Nam sang bên Tầu, để được nhuộm đỏ theo tư tưởng Mao! Câu thơ Chế Lan Viên viết: “Bác Mao không ở đâu xa - Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” được lưu truyền, cho thấy Hồ Chí Minh rất hãnh diện được ví như một ông “Mao nội hóa,” một ông “Mao con.” Nếu không đồng ý với Chế Lan Viên thì chắc Hồ đã cấm không cho phổ biến hai câu thơ này!

Mối họa đồng hóa từ giữa thế kỷ 20 bắt đầu với ông Hồ, người đã không ngần ngại tuyên bố không cần viết sách nào về chủ nghĩa Mác nữa, vì tất cả những gì cần nói đã có bác Mao viết hết rồi!

Nhưng “Tư tưởng Mao Trạch Ðông” là gì? Ðó không phải chỉ là việc khai thác và áp dụng lý thuyết Mác xít mà thôi. Ðó chính là một sản phẩm của nền văn hóa độc đáo Hán tộc. Như Ngô Bảo Châu nhận định: “Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn,” thì ta sẽ mất hết bản sắc của mình. Nói vậy chưa đủ. Phải nói: Nếu rập khuôn theo mô hình Mao chủ tịch thì người Việt Nam sẽ tự tiêu diệt bản sắc của nước mình. Vì Mao là một sản phẩm của văn hóa người Hán. Hai dân tộc Việt và Hán sống trong những điều kiện địa lý, lịch sử khác nhau, các kinh nghiệm, truyền thống văn hóa khác nhau nhiều lắm. Họ không thể bắt chước mình mà mình cũng không thể theo họ được.

Tư tưởng chính trị Trung Hoa, mà Mao Trạch Ðông là một đại biểu sáng chói, thích hợp với một chế độ cường quyền tập trung, áp dụng trên một quốc gia quá rộng lớn và quá đông dân, so với nước Việt Nam ta. Việt Nam sống trên một “bán đảo” giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Ðộ. Từ 3000 năm trước dân mình lại sớm hòa nhập với nền văn minh của các sắc dân Nam Á và Nam Ðảo. Người Việt Nam có thể chấp nhận quyền bình đẳng Nam Nữ vì ảnh hưởng văn minh Nam Ðảo; có thể bao dung chế độ xã thôn tự trị; sống với nhau vừa tình vừa lý, vua quan và dân chúng gần gũi nhau. Người Trung Hoa không thể “linh động,” “xuề xòa” hoặc “chín bỏ làm mười” như vậy.

Thời Nguyễn Ánh đã lầm lớn, khi Nguyễn Văn Thành sao chép bộ luật nhà Thanh soạn thành luật Gia Long, áp dụng ở nước ta. Những luật lệ đó khắc nghiệt, coi khinh phụ nữ, dọa nạt, đàn áp dân, để củng cố chế độ tập trung quyền hành của người Mãn trên nước Trung Hoa. Áp dụng lối cư xử đó vào Việt Nam, khiến dân chúng oán thoán, nhất là dân Bắc Thành, nơi trước đó chỉ áp dụng đạo luật Hồng Ðức nhà Lê. Cho nên, hơn nửa thế kỷ sau khi người Pháp sang xâm chiếm, dân ngoài Bắc đã hờ hững không ai muốn chết để bảo vệ vua quan nhà Nguyễn. Một tên “gác dan tu viện” như Nguyễn Văn Phụng được các cố đạo Pháp đưa từ Ma Cao về, đổi tên là Lê Văn Phụng, cũng thu hút được nhiều người theo, vì dân đang chán chế độ và còn tưởng nhớ nhà Lê. Việc Hồ Chí Minh nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông vào dùng ở nước ta, ghi trong cương lĩnh đảng Lao Ðộng từ năm 1950, cũng sai lầm y như luật Gia Long vậy. Nó bắt người Việt Nam sống như lối người Tầu, gây căm thù, chia rẽ dân tộc, đối xử với nhau theo đường lối của các cố vấn Trung Quốc.

Những cuốn sách gối đầu giường của Mao không phải là sách của Karl Marx. Mao thường mang bên mình bộ Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang, bộ lịch sử các triều đại Trung Hoa diễn tả theo quan điểm Tống Nho tôn quân quyền tuyệt đối. Tư tưởng Mao Trạch Ðông thích hợp với nước Trung Hoa lúc đó đang chờ một bạo chúa ra tay “bình thiên hạ” bằng cách “sát nhất nhân vạn nhân cụ.” Nhưng chính sách, đường lối đó hoàn toàn trái ngược với phong tục, tập quán, nền nếp văn hóa của người Việt Nam. Hậu quả là sau khi học tập, bắt chước theo Mao Trạch Ðông người Việt sẽ bỏ mất bản sắc dân Việt. Cảnh nô lệ văn hóa bắt nguồn từ đó. Trong bài tới sẽ trình bày một hiện tượng nô lệ văn hóa rùng rợn: Cộng Sản Việt Nam đã học cách giết người theo Mao Trạch Ðông như thế nào. Từ đó, người Việt Nam không còn đối xử với nhau như trước nữa.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=120210&z=7

NHỤC QUÁ! GIỮA THỦ ĐÔ MÌNH MÀ NÓ BẢO MÌNH LÀ KHÁCH



Trên đây là hình ảnh cổng chùa Vân Hồ (tên chữ là Linh Thông tự), nằm trên đường Lê Đại Hành.
Ngôi chùa mới được trùng tu lớn trong thời gian gần đây.
Cổng chùa có những mái cong rất Việt Nam, trông tựa như cổng chùa Kim Liên ở quận Tây Hồ.




Cổng chùa có biển ghi: Chùa Vân Hồ - di tích lịch sử văn hóa, cấm vi phạm.
Có một cặp sư tử đá, kiểu Tàu đứng chầu ở cửa. Hai cửa phụ ở hai bên đề chữ Tả nghi, Hữu nghi - những chữ thường thấy ở các đền.



Cánh cửa (và cả núm kéo cửa) ở đây giống như cánh cửa cung điện ở Tử Cấm thành Bắc Kinh.
Hai con vật bằng đá ở cửa không rõ là con vật gì?
Nhưng chắc chắn đây không phải là rồng Việt.


Và tôi thực sự choáng khi đọc đôi câu đối ở cửa chính của chùa.
Một đôi câu đối chữ Nôm hẳn hoi.
Nhìn những chữ Nôm đó, thấy rằng nó là những chữ viết tay
chứ không phải chữ từ máy tính.



Vế thứ nhất: Chốn am thiền rộng mở cửa từ sẵn lòng tế độ



Vế thứ hai: Nơi thành thị thiếu gì khách Việt mặc sức vãng lai

Như vậy, đôi câu đối là:

Chốn am thiền rộng mở cửa từ sẵn lòng tế độ
Nơi thành thị thiếu gì khách Việt mặc sức vãng lai


Đọc câu đối này, cứ tưởng mình đang đứng giữa đất Tàu, giữa thủ đô Tàu, ở một khu có đông Việt kiều cư trú.

Xin lưu ý, chữ chỉ có thể đọc là "Việt". Vì Cửa Từ (bi) đối với Khách Việt (Nam). Không thể đọc là "Vượt" được, vì không thể lấy "cửa từ" đối với "khách vượt".

Bọn họ thật thâm hiểm quá! Ngay giữa thủ đô ta mà lấy ngay cái chữ Nôm (một sáng tạo của cha ông ta) để chửi chúng ta, bảo rằng: Bọn bay chỉ là khách thôi!

Thật kinh hoàng! Đề nghị ngành văn hóa TW và Hà Nội ra lệnh dỡ ngay đôi câu đối này trước Đại lễ Thăng Long, nếu không thì nhục lắm các ông các bà ạ!

Bài và ảnh: Nguyễn Xuân Diện
http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/09/nhuc-qua-giua-thu-o-minh-ma-no-chui.html?spref=fb

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010

Phải chăng đây là “bản sắc” của Thăng Long 1000 năm... văn vật?

A picture is worth a thousand words

Một bức hình có giá trị bằng một ngàn chữ

 

Dạo này giới “trí thức” Hà thành đang xôn xao tranh nhau khoe bao nhiêu lời châu ngọc để mô tả cái “bản sắc” của Thăng Long 1000 năm... văn vật.

 

Tại hạ không phải là người Hà Nội, chẳng dám lạm bàn, chỉ trộm nghĩ: để thấy rõ cái “bản sắc” ấy, có lẽ không gì cụ thể bằng xem người Thăng Long – Hà Nội ăn mặc, đi đứng, biểu hiện ra sao trong cái “đại lễ 1000 năm Thăng Long” cực kỳ hoành tráng, tốn kém đến hàng tỉ đô-la sắp diễn ra vào ngày 1.10.2010 tại Hà Nội. Một cái ĐẠI lễ như thế thì chắc chắn là một cơ hội cực kỳ quan trọng để khoe cái “bản sắc”.

 

Thế nhưng, lạ thay, cái ngày 1.10.2010 ấy cũng đúng y là ngày quốc khánh 61 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc! Vì thế nên thiên hạ cũng đang xôn xao bàn tán về cái sự bí ẩn này.

 

Tại hạ ngẫm nghĩ: liệu cái “bản sắc” của Thăng Long 1000 có dính dấp gì với cái “bản sắc” của Trung Quốc hay không?

 

Dưới đây là những hình ảnh thấy trên báo chí. Tại hạ xem đi xem lại, và đang thử ngẫm nghĩ lan man. Xin mời chư vị độc giả cùng xem và so sánh, thử có cao kiến gì nẩy ra chăng:

 


Dân Quảng Châu rước hồng kỳ dưới thời Đại Cách mạng Văn Hoá của Mao Trạch Đông


Dân Hà Nội thời bây giờ đang diễn tập rước hồng kỳ chào mừng 1000 năm Thăng Long (sẽ diễn ra nhằm ngày 1.10.2010, tức là ngày quốc khánh 61 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung quốc!)

Công nhân Bắc Kinh dưới thời Đại Cách mạng Văn Hoá của Mao Trạch Đông

Công nhân Hà Nội thời bây giờ trong lúc tập diễn hành chào mừng 1000 năm Thăng Long (sẽ diễn ra nhằm ngày 1.10.2010, tức là ngày quốc khánh 61 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung quốc!)

Lính Bắc Kinh diễn hành chào mừng ngày quốc khánh 60 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (1.10.2009)

Lính Hà Nội tập diễn hành để chào mừng 1000 năm Thăng Long (sẽ diễn ra nhằm ngày 1.10.2010, tức là ngày quốc khánh 61 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung quốc!)

Nữ quân nhân Bắc Kinh diễn hành chào mừng ngày quốc khánh 60 năm của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (1.10.2009)

Nữ quân nhân Hà Nội tập diễn hành chào mừng 1000 năm Thăng Long (sẽ diễn ra nhằm ngày 1.10.2010, tức là ngày quốc khánh 61 năm của Cộng hoà Nhân dân Trung quốc!)

 

Vân vân và vân vân...

 

“Bản sắc” của Thăng Long – Hà Nội kể ra cũng... độc đáo nhỉ!

 

 

Nguyễn Tôn Hiệt

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Phải chăng bản chất của Hà Nội là cái thói baaa hoaaa để "tự xướng"?

Ngô Huy Liễn - Tiền Vệ

Hôm 23.9.2010, tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam, 42 Yết Kiêu, Hà Nội, đã diễn ra một “Hội thảo về Bản sắc Văn hóa Hà Nội trong Văn học Nghệ thuật thế kỷ XX”.

Lẽ dĩ nhiên hội thảo này quy tụ toàn là các “trí thức Hà Nội” với hàng chục bản tham luận. Hội thảo để làm gì? Để xác định cái “bản sắc” của Hà Nội, nhằm lấy trớn cho vụ 1000 năm Thăng Long sắp diễn ra.

Bản sắc của Hà Nội là gì? Thử nghe vài ví dụ:

Họa sĩ kiêm nhà phê bình Nguyễn Quân nói: “Văn hóa Hà Nội sâu sắc, thâm trầm hơn những nơi khác... Hà Nội khéo léo, tế nhị, tinh tế... Văn hóa Hà Nội thâm thúy....”

- Thế thì văn hóa của những nơi khác trên đất nước Việt Nam này và trên toàn thế giới đều kém “sâu sắc, thâm trầm” so với Hà Nội? Đều không được “khéo léo, tế nhị, tinh tế, thâm thúy” như Hà Nội hay sao?

Nhà nghiên cứu triết học Nguyễn Hào Hải nói: “Bản sắc Hà Nội là tinh tế, hào hoa.”

- Cái ông “nghiên cứu triết học” này cũng nói giống như kiểu nói của ông Nguyễn Quân. Nghe xong, muốn ngã ngửa. Thì ra trên trần gian này chỉ có Hà Nội là “tinh tế, hào hoa”. Đáng tự hào quá! Chắc là các nước trên thế giới sẽ phải lũ lượt kéo nhau đến Hà Nội để học cái “tinh tế, hào hoa” này để bồi bổ cho bản sắc của họ!

Ông Nguyễn Đình Tấn (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nói: “Hà Nội thì lịch lãm, điểm tĩnh, bao dung, hào hoa, kết tinh được truyền thống và hiện đại.”

- Nữa rồi! Cũng y như hai ông Nguyễn Quân và Nguyễn Hào Hải! Nói thế thì Sài Gòn, Paris, Roma, ê-xê-tê-ra... mọi nơi khác trên thế giới đều không “lịch lãm, điềm tĩnh, bao dung, hào hoa, kết tinh được truyền thống và hiện đại” hay sao? Còn nếu như vô số nơi khác người ta cũng “lịch lãm, điềm tĩnh, bao dung, hào hoa, kết tinh được truyền thống và hiện đại”, thì tại sao những điểm đó lại được xem là “bản sắc” của riêng Hà Nội mà thôi?

Trong bài tham luận của họa sĩ Nguyễn Đình Đăng. còn có câu này nghe mới kinh: “Ngay thẳng, chân thành, thanh bạch, hào hoa, sâu sắc, hóm hỉnh, khiêm nhường, quý trọng người tài, khinh ghét kẻ xu nịnh. Tóm lại, theo ngu ý, đó là những nhân cách rất Hà Nội.”

- Trên trần gian này, ở đâu mà chẳng có những người “ngay thẳng, chân thành, thanh bạch, hào hoa, sâu sắc, hóm hỉnh, khiêm nhường, quý trọng người tài, khinh ghét kẻ xu nịnh”? Phải đâu chỉ riêng Hà Nội mới có những của quý ấy mà ông dám nói là “rất Hà Nội”? Nếu sang xứ Marốc, thấy những người “ngay thẳng, chân thành, thanh bạch, hào hoa, sâu sắc, hóm hỉnh, khiêm nhường, quý trọng người tài, khinh ghét kẻ xu nịnh”, thì ông dám bảo là người ta có “nhân cách rất Hà Nội” chăng?

Chết cười. Hết ba hoa kiểu này thì lại ba hoa kiểu khác. KTS Trần Thanh Vân nói: “Hà Nội đẹp vì Hà Nội có linh hồn.”

- “Linh hồn” ở đây là cái gì thế? Là cái gì mà làm cho Hà Nội đẹp? Những địa phương khác ở Việt Nam và trên thế giới có “linh hồn” không? Nếu những nơi khác cũng có “linh hồn” thì những nơi khác cũng đẹp, vậy thì người ta cũng có quyền thay chữ “Hà Nội” bằng chữ “Nghệ An”, “Cần Thơ”, “Paris”, “New York”, “Bắc Kinh”, “Congo”, v.v. Nói tóm lại, câu “Hà Nội đẹp vì Hà Nội có linh hồn” là một câu màu mè, nghe du dương nhưng rỗng tuếch.

Vân vân và vân vân.

Nói tóm lại, phần lớn các nhà “trí thức Hà Nội” ở cái “Hội thảo về Bản sắc Văn hóa Hà Nội trong Văn học Nghệ thuật thế kỷ XX”đều cong đít lên mà nói những điều như thế.

Khách dự thính nghe xong chỉ có thể kết luận thế này: nếu bản sắc của Hà Nội có thể biểu lộ qua lối suy nghĩ, qua lời ăn tiếng nói của các “trí thức Hà Nội”, thì bản sắc đó chính là cái thói ba hoa, ưa ăn nói sáo rỗng du dương, chỉ để “tự sướng”.


Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2010

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA TẠI HUNGARY

(NCTG) Vị lãnh đạo tinh thần tối cao của Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có mặt tại Budapest để chuẩn bị cho các buổi thuyết giảng công khai vào hai ngày 18 và 19-9 tới.

Được biết, tất cả vé đã được bán hết từ cách đây nhiều tháng, do đó, Ban tổ chức quyết định sẽ tường thuật các buổi thuyết giảng trên website của họ.

Hiện đang sinh sống tại Ấn Độ, nhà lãnh đạo tôn giáo lưu vong này thường xuyên có những chuyến đi thuyết giảng tại nhiều nước trên thế giới. Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Hungary lần đầu vào năm 1982: nhận lời mời của Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị, ông qua Tòa Thánh nhưng có “quá giang” tại Budapest 1 đêm. Sau đó, ông còn tới Hungary 5 lần nữa, lần cuối cùng là vào năm 2000.

Chuyến thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma năm nay được tổ chức bởi nhiều Giáo hội và các cơ sở Phật giáo tại Hungary, và do Trung tâm Tây Tạng Sambhala - Hội Ái hữu Tây Tạng đề xướng. Đây cũng là chuyến đi duy nhất sang Châu Âu trong năm 2010 của nhà lãnh đạo tôn giáo này.

Theo dự định, nội dung các buổi thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma gồm các đề tài như giới thiệu Phật giáo Tây Tạng, quan niệm của ông về sự kiên trì, cảm thông, về lòng tự tin và các giá trị đạo đức, cũng như cách để đạt được hạnh phúc thực sự. Trong buổi thuyết giảng ngày 19-9, cử tọa sẽ có dịp đặt câu hỏi và giao lưu trực tiếp với ông.

Sinh năm 1935, Tenzin Gyatso (Đăng-châu Gia-mục-thố) là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng. Theo đánh giá của GS. Eric Sharp (Đại học Sydney, Úc), trong số những người được coi là thánh nhân của thế kỷ 20, ông là một trong ba thánh nhân Châu Á, cùng thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore và nhà lãnh đạo Mahātma Gandhi.

Ông cũng là người đứng đầu chính quyền lưu vong Tây Tạng tại Dharamsala (Ấn Độ) với hơn 12 ngàn “thần dân”. Năm 1989, ông được trao giải Nobel Hòa bình cho những nỗ lực đấu tranh bất bạo động bền bỉ cho nền tự do của Tây Tạng, “trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa của con người” (lý giải của Ủy ban Hòa bình Nobel).

Đức Đạt Lai Lạt Ma còn là tác giả của chừng 50 đầu sách rất được ưa chuộng và nổi tiếng với sự nghiệp truyền bá đạo Phật tại Phương Tây, cũng như sự “xích lại gần nhau” giữa các tôn giáo lớn trên thế giới.

Trần Lê tổng hợp

THÊM HAI CƠ SỞ TRỒNG CẦN SA CỦA NGƯỜI VIỆT LỌT LƯỚT CẢNH SÁT

(NCTG) Con số những vườn cần sa do người Việt điều hành tại Hungary đã gần lên tới 50, khi mới đây, các nhân viên thuộc lực lượng Chống tội phạm ma túy trực thuộc Sở Cảnh sát Budapest (BRFK) phát hiện thêm hai cơ sở mới ở Budapest.

Cần sa được trồng một cách nhà nghề

Theo thông báo của BRFK, sáng ngày 14-9-2010, cảnh sát đã tiến hành kiểm tra tại một nhà vườn ở phố Lajos (Quận VIII, Budapest) vì có nhiều thông tin cho thấy cần sa được trồng ở tòa nhà kho ngoài sân.

Qua cửa sổ nhà kho, quả thực các điều tra viên đã nhìn thấy một vườn cần sa - sau khi bấm chuông không ai mở, với sự hỗ trợ của chuyên gia mở khóa, cảnh sát đã đột nhập vào nhà kho và phát hiện một vườn trồng tổng cộng 362 gốc cannabis indica (một loại cần sa thông dụng), cũng như những dụng cụ cần thiết để trồng cần sa. Có thể giả thiết rằng có một lượng cần sa đã được trồng và thu hoạch tại đây từ trước, rồi mang đi.

Trong khi cảnh sát điều tra trong vườn cần sa, có hai người đàn ông đã nhảy qua cửa sổ ở mặt phố của ngôi nhà vườn (từ độ cao chừng 3m) và tháo chạy về phía đường Orzcy, rồi mỗi người chạy theo một hướng. Cảnh sát bặt được một người tại đường Orczy, còn người kia lao được vào khu chợ ở gần đó và trốn thoát.

Nghi can Việt Nam nói trên đã bị bắt giữ và cơ quan điều tra cũng đã thực hiện các biện pháp cần thiết để tìm kiếm đồng bọn của đương sự. Theo đề xuất của cảnh sát, Viện Kiểm sát đã đề nghị tòa cho bắt tạm giam người đàn ông 37 tuổi đó, và đề nghị trên đã được phê chuẩn.

Buổi chiều cùng ngày, theo những thông tin sơ bộ, lực lượng Chống tội phạm ma túy trực lại có mặt tại một ngôi nhà vườn tại phố Hunyadi (Quận XIX, Budapest). Các điều tra viên nghe thấy tiếng ù ù từ trong nhà, và họ cũng cảm thấy mùi vị đặc thù của cần sa. Đúng lúc đó, một người đàn ông Việt Nam ra khỏi nhà chuẩn bị đi - đương sự đã lập tức bị chặn lại kiểm tra.

Nghi can mang quốc tịch Việt Nam bị bắt giữ

Trong ngôi nhà, cảnh sát tìm thấy một phần riêng biệt, tất cả cửa ngỏ đều đóng kín. Sau khi được chuyên gia mở khóa giúp đỡ, các điều tra viên đã tiến hành xem xét toàn bộ ngôi nhà và tầng hầm. Tổng cộng 539 gốc cần sa loại cannabis indica và các dụng cụ dùng để trồng cần sa đã bị thu giữ.

Cũng như trong trường hợp trên, tòa án đã cho phép bắt tạm giam điều tra người đàn ông Việt Nam 42 tuổi nọ, theo đề xuất của cảnh sát và cơ quan kiểm sát. Cơ quan Chống tội phạm ma túy trực thuộc BRFK tiếp tục điều tra trong hai vụ án này, để xem có những liên quan với các trường hợp đã bị phát hiện trước đây hay không.

Với hai trường hợp trên, con số những vườn trồng cần sa bị phát hiện của người Việt tại Hungary đã lên tới 41 - tất cả 62 nghi can bị coi là có liên quan đều bị tạm giam.

Nhân dịp này, Sở Cảnh sát Budapest cũng gửi lời cám ơn tới những cư dân đã hỗ trợ để cơ quan điều tra đạt được thành công trong công tác điều tra. Đồng thời, cảnh sát cũng nhấn mạnh rằng, những nhóm trồng cần sa với tính chất tương tự cũng sẽ vẫn tiếp tục tìm nhà thuê để thực hiện hành vi phạm pháp này.

Thêm vào đó, dù nhiều người có thể không tin, nhưng các băng đảng tội phạm còn có thể trồng cần sa ngay trong những khu chung cư, bằng kỹ thuật tối tân, khiến hàng xóm không thể nhận ra.

Hoàng Tuấn, theo Sở Cảnh sát Budapest BRFK

http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2540 

Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

VN hoan nghênh Thái Lan trục xuất "nhân quyền"

Một cuộc họp báo về tình hình nhân quyền cho Việt Nam chưa kịp diễn ra, mà các diễn giả bị chính nhà cầm quyền Việt Nam yêu cầu Thái Lan trục xuất. Điều ấy chứng tỏ nhà cầm quyền sợ nhân quyền đến nỗi nên phải mượn tay chính quyền nước khác bịt miệng diễn giả trước; nhà cầm quyền Thái Lan đồng loã với hành vi phản nhân quyền này; nhà cầm quyền Việt Nam hỉ hả vì có đồng minh dễ bảo... Xem ra nhân quyền cho dân Việt quá khó khăn.

BBC đã đưa tin như sau:

Người phát ngôn Việt Nam vừa lên tiếng hoan nghênh việc Thái Lan từ chối nhập cảnh đối với nhà hoạt động nhân quyền gốc Việt.

Hôm 13/09, kế hoạch tổ chức họp báo ở Bangkok về tình hình nhân quyền Việt Nam của Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam mà ông Võ Văn Ái làm chủ tịch đã bị hủy sau khi ông bị cấm nhập cảnh Thái Lan.

Hôm thứ Tư, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói: "Việt Nam hoan nghênh việc Thái Lan không cho phép sử dụng lãnh thổ Thái Lan để thực hiện các hoạt động chống Việt Nam".

Hãng tin DPA của Đức dẫn lời bà Nga nói quyết định của Thái Lan là phù hợp với "quan hệ hữu nghị và hợp tác" giữa hai nước, cũng như với Hiến chương của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Asean).

Ủy ban của ông Võ Văn Ái cùng một tổ chức khác là Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền dự kiến sẽ công bố phúc trình"Từ Viễn mơ đến Thực tế: Nhân quyền Việt Nam dưới quyền chủ tọa của Asean".

Thế nhưng dù đã có visa, ông Ái và bà phó chủ tịch Penelope Faulkner vẫn bị cảnh báo sẽ không được nhập cảnh Thái Lan.

Theo phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Thái, Thaini Thongpakdi, "Chính quyền Hoàng gia Thái Lan coi trọng các nguyên tắc tự do ngôn luận và đa dạng quan điểm, thế nhưng lâu nay cũng có lập trường là không cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng Thái Lan để thực hiện các hoạt động chống lại các quốc gia khác."

Hiện Asean đang làm việc để đưa vào áp dụng Hiến chương Nhân quyền của Hiệp hội được lãnh đạo khối thông qua không lâu trước đây.

Tuy nhiên các tổ chức nhân quyền đã lên tiếng chỉ trích chính phủ Thái, nói việc cấm nhập cảnh đối với các nhà hoạt động nhân quyền nước ngoài sẽ chỉ làm giảm uy tín của Bangkok.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/09/100915_viet_reax_vovanai.shtml

Bản tin của Quê Mẹ tường thuật vụ trục xuất như sau:

PARIS, ngày 12.9.2010 (QUÊ MẸ) - Câu Lạc bộ Báo chí Quốc tế của Thái Lan (The Foreign Correspondents Club of Thailand, FCCT) ra thông báo ngày chủ nhật hôm nay tại Bangkok cho biết rằng Câu lạc bộ đã bị những áp lực của Bộ Ngoại giao Thái Lan để hủy bỏ cuộc Họp báo về Nhân quyền Việt Nam do Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam (VCHR) và Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) tổ chức vào ngày mai 13.9.2010.

Mục tiêu cuộc họp báo do ông Võ Văn Ái chủ trì nhằm công bố cho các cơ quan báo chí, truyền thông tại thủ đô Bangkok bản Báo cáo mới có tựa đề : “Từ Viễn mơ đến Thực tế : Nhân quyền Việt Nam dưới quyền chủ tọa của ASEAN” (Vietnam : From “Vision” to Facts – Human Rights in Vietnam under its Chairmanship of ASEAN).

Trước ngày lên đường, Sứ quán Vương quốc Thái Lan ở Paris điện thoại cho ông Võ Văn Ái yêu cầu hủy chuyến đi, vì theo đòi hỏi của nhà cầm quyền Việt Nam, dù Sứ quán đã cấp chiếu khán vào Thái Lan nhưng ông sẽ bị cấm nhập cảnh tại phi trường Bangkok.

Do vậy, Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người đã cử Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, chị Penelope Faulkner, đi thay ông Ái để chủ trì cuộc họp báo Bangkok. Nhưng sáng nay, chủ nhật 12.9.2010, khi đến phi trường Charles De Gaulle ở Paris, hãng máy bay ngăn không cho chị đáp chuyến bay đi Bangkok theo lệnh của chính quyền Thái Lan.

Từ Paris, Bà Chủ tịch Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền, Souhayr Belhassen, phản ứng rằng : “Chúng tôi rụng rời trước tin nhà cầm quyền Thái Lan ngăn cấm hai nhà tranh đấu bảo vệ nhân quyền nổi danh đã từ bao nhiêu năm ôn hòa bênh vực cho nhân quyền Việt Nam. Thật khủng khiếp cho một sự việc như thế : điều này minh họa cho sự kiện chẳng những không thể thảo luận tình trạng nhân quyền với Việt Nam tại Việt Nam, mà ngay cả tại các nước láng giềng của Việt Nam”.

Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, thì nhận xét rằng : “Bản Báo cáo của chúng tôi căn cứ vào luật pháp nhân quyền quốc tế và trích dẫn từ báo chí công khai Việt Nam. Thu tập những khuyến nghị cụ thể để nhà cầm quyền Việt Nam cải thiện sự tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam cũng như trong tư thế Chủ tịch luân phiên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Bản Báo cáo của chúng tôi phản ảnh những tiếng nói trong nước kêu gọi tôn trọng nhân quyền và một nhà nước Pháp quyền”.

Những áp lực giáng xuống Câu Lạc bộ Báo chí Quốc tế của Thái Lan và ngăn cấm cuộc Họp báo trên đất Thái Lan để trình bày tình trạng nhân quyền Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho khả năng gây hại cực điểm trong khu vực, đồng thời cho thấy sự bất lực toàn diện của nhà cầm quyền Việt Nam trong việc chấp nhận đối thoại về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Quyết định cấm đoán của chính quyền Thái Lan vi phạm trắng trợn Tuyên ngôn LHQ Bảo Vệ Những Người Đấu Tranh Cho Nhân Quyền, đặc biệt quy định rằng “Mỗi người, tự cá nhân mình hay liên hợp với những người khác, đều có quyền xuất bản, thông báo cho người khác hay phổ biến tự do mọi ý kiến, mọi thông tin và mọi kiến thức về các quyền con người và các tự do căn bản” (Điều 6, tiết b); và rằng “Mỗi người, tự cá nhân mình hay liên hợp với những người khác, đều có quyền tham gia các hoạt động hòa bình để đấu tranh chống mọi vi phạm nhân quyền và các tự do căn bản” (Điều 12).

Hơn nữa, căn cứ vào Tuyên ngôn nói trên, nhà cầm quyền Thái Lan cần “lấy những biện pháp thích nghi” để bảo đảm công cuộc Bảo Vệ Những Người Đấu Tranh Cho Nhân Quyền chống lại mọi đe dọa, trả thù, áp lực hay mọi hành động tùy tiện theo đúng sự hành xử chính đáng các quyền được nêu trên đây.

http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=1358