Hiển thị các bài đăng có nhãn dânchủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dânchủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Ngọn đuốc Dân chủ Nhân quyền vẫn cháy sáng trên quê hương ta

Từ sau năm 1954, khi người cộng sản thiết lập chế độ độc tài chuyên chế trên lãnh thổ miền Bắc, thì đã gặp sự phê bình chống đối của giới sĩ phu trí thức và văn nghệ sĩ, cụ thể là nhóm Nhân văn Giai phẩm, và các sĩ phu trí thức như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhà báo Phan Khôi v.v… Mặc dầu bị đàn áp nặng nề, nhưng phong trào tranh đấu cho Dân chủ, Tự do và Nhân quyền vẫn âm ỉ kéo dài liên tục từ trên nửa thế kỷ qua, đặc biệt với thế hệ người trẻ hiện nay mà nổi bật nhất là những luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung…



Bài viết này nhằm ghi lại những nét chính yếu trong quá trình tranh đấu trường kỳ và rất là anh dũng đó.

1 – Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm 1955 – 56.
Vào giữa thập niên 1950, khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo còn khá hùng hậu và đoàn kết gắn bó chặt chẽ với nhau, nhất là sau khi cộng sản đã làm chủ được cả nước Trung Quốc là quốc gia có đông dân số nhất thế giới. Vì thế nên đảng cộng sản Việt Nam đã rất hung hãn với chủ trương áp đặt lên xã hội miền Bắc một chế độ sắt máu tàn bạo bắt đầu bằng chiến dịch “cải cách ruộng đất” mô phỏng y hệt như của Trung Quốc. Việc này đã gây ra bao nhiêu đau khổ điêu đứng và tang thương chết chóc cho hàng vạn gia đình ở nông thôn, cũng như gây ra sự bất mãn tột độ của giới trí thức văn nghệ sĩ ở thành thị. Vì thế mà ngay từ cuối năm 1955, đã có một phong trào tranh đấu đòi tự do dân chủ mà cao điểm là những ấn phẩm của hai đặc san có danh xưng là “Nhân Văn” và “Giai Phẩm”.

Rất đông văn nghệ sĩ đã tham gia lên tiếng đòi hỏi phải có tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do phát biểu trong sinh hoạt văn học nghệ thuật nhằm phục vụ quần chúng. Họ không ngần ngại phê phán đường lối lãnh đạo của đảng cộng sản trong lãnh vực văn nghệ. Điển hình như nhà nghiên cứu Trương Tửu đã viết hết sức đanh thép: “Văn nghệ sĩ chân chính xưa nay đều chống lại chính trị của giai cấp cầm quyền”. Và: “Vận mạng của văn nghệ dài hơn vận mệnh của Đảng, dài hơn vận mạng của chế độ.” 

Các nhà trí thức tên tuổi như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, học giả Đào Duy Anh, nhà báo Phan Khôi, nhà văn Nguyễn Hữu Đang, nhạc sĩ Văn Cao, các nhà thơ Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán v.v… đã hiên ngang tố cáo những sai trái quá khích của giới lãnh đạo cộng sản. Trong bài diễn văn bất hủ vào cuối tháng 10 năm 1956 tại Mặt trận Tổ quốc, luật sư Tường đã mạnh dạn nêu ra những sai trái quá khích trong chính sách cải cách ruộng đất. Ông nhấn mạnh đến nguyên tắc pháp lý: “Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”. 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường năm 1952

Họ được đông đảo quần chúng thanh niên, nhất là giới sinh viên trẻ hoan nghênh nhiệt tình. Vì thế mà đảng cộng sản đã ra tay phát động một chiến dịch đàn áp rất quy mô và tàn bạo, với việc bắt giữ giam cầm, kết án nhiều nhân vật chủ xướng của phong trào. Đồng thời cũng cô lập bao vây, đày đọa nhiều trí thức tiêu biểu hàng đầu như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, học giả Đào Duy Anh v.v… Mặc dầu bị đàn áp tàn tệ như vậy, giới trí thức văn nghệ sĩ ở miền Bắc hồi ấy vẫn tỏ ra kiên cường bất khuất, điển hình như nhà thơ Hữu Loan tác giả của bài thơ nổi tiếng “Màu Tím Hoa Sim”, đã bỏ hết mọi chức vụ, quyền lợi của một đảng viên để trở về miền quê, cam chịu sống cuộc đời lam lũ khó nhọc nghèo túng, chứ nhất quyết không thèm tiếp tay với chế độ độc tài áp bức. Đã có nhiều sách báo viết về giai đoạn đen tối này rồi, ta khỏi cần phải dài dòng ở đây nữa.


Học giả Phan Khôi và vợ năm 1956


Nguyễn Hữu Đang và tờ Giai Phẩm


Nhà thơ Hữu Loan


2 – Vụ án “Xét lại chống Đảng” năm 1967 – 68.
Đây là một chuyện thanh toán nhau trong nội bộ của đảng cộng sản, do người chủ chốt là Lê Đức Thọ phát động nhằm loại trừ những phần tử có lập trường tương đối cởi mở thông thoáng theo chính sách hòa hoãn của Liên Xô, khác biệt với chủ trương cứng rắn quá khích của Trung Quốc vào hồi đầu thập niên 1960. Như ta đã biết, từ năm 1956 sau khi lãnh tụ Kruschev vạch trần những tội ác của Stalin và chủ trương bài trừ nạn sùng cá nhân lãnh tụ trong sinh họat của đảng cộng sản Liên Xô, thì phía Trung Quốc có lập trường chống lại “chủ trương xét lại chủ nghĩa cộng sản” (revisionism) này của Liên Xô, và rồi lần lần đi tới sự chia rẽ mâu thuẫn trầm trọng giữa hai bậc đàn anh này của phong trào cộng sản thế giới.

Một số đảng viên vốn được tiếp cận sự cởi mở của Liên Xô như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Minh Cần…, thì có tư tưởng phóng khoáng, không chấp nhận lề lối bảo thủ giáo điều của Trung Quốc. Do đó mà một số khá đông những đảng viên kỳ cựu đã bị bắt giữ giam cầm trong các trại tù rất là khắc nghiệt trong nhiều năm, kể từ năm 1967 cho đến sau năm 1975. Vụ việc động trời này đã được nhà văn Vũ Thư Hiên tường thuật lại với rất nhiều chi tiết trong cuốn Hồi ký nhan đề là “Đêm Giữa Ban Ngày” được xuất bản lần đầu tiên năm 1997 tại hải ngoại. Nói chung, thì đây là những người cộng sản tiến bộ, cởi mở, họ chỉ bày tỏ quan điểm thông thoáng của mình, khác biệt với chủ trương giáo điều quá khích sắt máu của giới lãnh đạo, chứ không hề có tham vọng gì lớn lao với âm mưu “làm đảo chính trong nội bộ của đảng cộng sản”. Ấy thế mà họ bị bắt giam và đối xử rất là tàn tệ, không khác gì với kẻ thù của đảng. Những nạn nhân trong vụ đàn áp này gồm nhiều nhân vật cao cấp tên tuổi của đảng, điển hình như ông Vũ Đình Huỳnh đã từng là một vị Phụ tá thân cận lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Tướng Đặng Kim Giang Chỉ huy trưởng cục Hậu cần của Quân đội Nhân dân, ông Hoàng Minh Chính Viện trưởng Viện Triết học Marx Lénin v.v…

3 - Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam với Tuyên ngôn năm 1977.
Đây là một vụ tranh đấu bất bạo động sớm nhất, với quy mô lớn nhất của giới luật gia tại miền Nam sau năm 1975. Vào ngày 23 tháng Tư năm 1977, trước Nhà thờ Đức Bà Saigon, Luật sư Trần Danh San nhân danh Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam đã đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”. Liền sau ngay đó, tất cả 17 người ký tên trên Bản Tuyên Ngôn này đã bị bắt giam vào các trại tù. Những người chủ xướng phần đông đều là các luật sư như Thủ lãnh Vũ Đăng Dung, Triệu Bá Thiệp, Nguyễn Hữu Giao, Trần Danh San…

Xin trích dẫn một số đoạn tiêu biểu rất là thê thiết cảm động của Bản Tuyên Ngôn như sau :
“Chúng tôi những người Việt Nam khốn cùng, với tàn lực còn lại, với tinh thần tàn phế, quyết đấu tranh bằng con đường bất bạo động để kêu gọi lương tâm nhân lọai, các lực lượng của thế giới văn minh, hãy lắng nghe những lời cầu cứu thảm thiết của những kẻ hấp hối.
- Tàn lực vì chúng tôi ăn đói và sẽ chết đói.
- Tinh thần tàn phế vì chúng tôi không được sống và suy tưởng như con người.
Chúng tôi buộc phải cúi đầu khom lưng tung hô vạn tuế chủ nghĩa –một chủ nghĩa đã lỗi thời và chống lại con người. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn dùng ngôn ngữ con người để thức tỉnh bọn đao phủ mù quáng và tham tàn. Vì chỉ có con đường bất bạo động mới tránh khỏi các cuộc thảm sát huynh đệ tương tàn và khỏi làm nhơ bẩn tấm lòng trong trắng của những người Việt nam khốn cùng.

Các lực lượng văn minh trên thế giới hãy đứng dậy!
Không còn chờ đợi nữa!
Liên Hiệp Quốc phải can thiệp cấp thời để áp dụng và áp dụng triệt để Bản Quốc Tế Tuyên Ngôn Nhân Quyền đối với những người Việt Nam khốn cùng chiếu theo sự quy định của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc”.

Trong số người bị bắt tù liền sau ngày công bố Bản Tuyên Ngôn này, đã có hai người bị chết trong trại giam, đó là kiến trúc sư Nguyễn Văn Điệp và giáo sư Hà Quốc Trung. Các Luật sư Trần Danh San, Nguyễn Hữu Giao, Trần Nhật Tân thì bị tù lâu nhất, đến trên 10 năm. Còn lại, thì bị tù từ 2 năm đến 6 năm.

Chi tiết về vụ này đã được Luật sư Nguyễn Hữu Thống ở San Jose trình bày khá đầy đủ trên tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 390 phát hành vào tháng 5 năm 1992.

4 – Nhóm Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Nam Bộ năm 1987-90.
Vào đầu thập niên 1980, những người tham gia cuộc kháng chiến Nam Bộ từ năm 1945 đến lúc đó phần đông đã lớn tuổi rồi. Nhưng khi từ miền Bắc trở lại với gia đình ở miền Nam sau năm 1975, thì họ thấy những sai trái quá chớn do giới lãnh đạo ngoan cố áp đặt chính sách tập thể hóa về kinh tế đã từng làm bần cùng hóa đối với người dân tại miền Bắc lên trên lãnh thổ miền Nam, thì họ đâm ra bất mãn và tìm cách làm thay đổi tình trạng sai lầm tệ hại này. Và kể từ sau năm 1986, với chủ trương “Đổi Mới” phát khởi từ Liên Xô, những người cựu kháng chiến này mới tập hợp lại với nhau thành một tổ chức gọi là Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến Nam Bộ, và lên tiếng kêu gọi quần chúng miền Nam khôi phục lại nền nếp sinh họat dân chủ vốn từng ăn sâu nơi xã hội địa phương từ nhiều năm xưa. Lời kêu gọi này được rất đông người dân Sài Gòn và các tỉnh miền đồng bằng Cửu Long tham gia hưởng ứng, bằng cách chuyền tay nhau các số báo “Truyền Thống Kháng Chiến” do tổ chức phổ biến. Và nhất là họ còn tổ chức nhiều cuộc biểu tình tại Sài Gòn cho các dân oan có thể đòi lại ruộng đất đã bị chiếm đoạt một cách vô lý, bất công do chính sách cải cách ruộng đất của đảng cộng sản gây ra.

Và sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ tại Đông Âu vào cuối năm 1989, thì giới lãnh đạo ở Hà Nội mới đâm ra hốt hoảng, bối rối để rồi vào đầu năm 1990, họ đã phát động một chiến dịch đàn áp rất quy mô, tàn bạo nhằm bắt giữ nhiều cán bộ đảng viên trung cấp và cao cấp, điển hình như các ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu v.v…

Cũng vào năm 1990, công an cũng thi hành lệnh cưỡng chế bắt linh mục Chân Tín phải ra cư trú tại thị xã Cần Giờ, và lệnh quản chế tại gia (house arrest) đối với giáo sư Nguyễn Ngọc Lan. Đồng thời cũng trong năm 1990, họ lại còn bắt giữ và đem ra tòa xét xử với mức án rất nặng đối với nhiều nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, giáo sư Đòan Viết Hoạt, Hòa thượng Thích Huệ Đăng v.v…

5 – Phong trào tranh đấu liên tục của khối tín đồ các tôn giáo.
Ngay từ ngày nắm giữ được chính quyền trong tay từ năm 1945, thì người cộng sản Việt Nam vẫn luôn áp dụng một chính sách cố hữu là: “triệt tiêu tôn giáo”, bất kể là tôn giáo nào. Nhưng vì gặp sự đề kháng kiên cường của tập thể các tín đồ, nên họ đã không thể nào mà làm xóa bỏ, loại trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội được, mặc dầu họ đã sử dụng mọi thủ đoạn tàn ác thâm độc đối với các tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo.

Ngày nay với trình độ dân trí mỗi ngày một tăng cao, nên quần chúng tín đồ càng tham gia nhiều vào công cuộc tranh đấu không những cho tự do tôn giáo, mà còn cả cho công bằng xã hội, cho nền đạo lý truyền thống của dân tộc, cho dân chủ, tự do và cho nhân phẩm và nhân quyền của tòan thể nhân dân. Với phương thức bất bạo động, tôn giáo càng dễ lôi cuốn số đông quần chúng tham gia vào cao trào tranh đấu này. Đặc biệt là khối tín đồ thuộc các sắc tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở miền cao nguyên Trung phần, thì họ rất gắn bó liên kết chặt chẽ với nhau để đòi hỏi công bằng về ruộng đất và về tự do hành đạo. 

Vì thế mà chánh quyền cộng sản sẽ ngày càng bất lực, không thể dùng mãi bạo lực, dối trá để mà trấn áp cả một khối quần chúng lớn lao hàng nhiều triệu con người trong các tổ chức tôn giao được nữa rồi. Đó là một dấu hiệu rất phấn khởi, lạc quan và tích cực cho công cuộc tranh đấu trường kỳ của dân tộc Việt Nam chúng ta vào đầu thế kỷ XXI ngày nay vậy.


6 – Phong trào tranh đấu của giới trẻ trong những năm gần đây.
Với sự giao lưu trao đổi tin tức dễ dàng trong thời đại Internet ngày nay, thì giới trẻ ở Việt Nam mỗi ngày một thêm hăng say tích cực dấn thân nhập cuộc vào cao trào tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền của dân tộc mình và cho sự toàn vẹn lãnh thổ trước sự lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc. Và mặc dầu bị đàn áp thô bạo, bị bắt giữ, bị bao vây kinh tế, bị bọn côn đồ đầu gấu do công an xúi giục hành hạ đánh đập, các nhà tranh đấu này vẫn kiên cường giữ vững lập trường tranh đấu cho chính nghĩa của mình. Điển hình là các khuôn mặt rất trẻ như Đòan Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng đều dưới 30 tuổi thuộc tổ chức Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông, hiện vừa bị xử án tù rất nặng vào tháng 10 năm 2010 vừa qua.


Luật sư Lê Thị Công Nhân giữa đám công an.

Mới đây nhất là vụ xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ với 7 năm tù giam vào ngày 4 tháng Tư, thì chính quyền cộng sản Hà Nội đang bị dư luận khắp thế giới chê trách nặng nề, và càng tạo cơ hội cho quần chúng hưởng ứng tham gia với công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền thêm mạnh mẽ hơn. Cụ thể như tín đồ các tôn giáo đang đồng loạt tụ họp lại với nhau rất đông đảo, để cùng cầu nguyện cho bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Quốc Quân là những người mới bị công an bắt giữ trong phiên tòa xét xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội vừa đây. 

Tóm tắt lại, cao trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền mỗi ngày một dâng lên cao, đặc biệt với sự tham gia của khối tín đồ rất lớn lao thuộc các tôn giáo, và nhất là của giới nông dân bị chiếm đoạt ruộng đất ở khắp các miền quê. Càng ngày lại càng có thêm nhiều cán bộ đảng viên lớn tuổi, các sĩ phu trí thức và nhất là giới sinh viên học sinh còn rất trẻ lại cũng nhiệt thành phấn khởi nhập cuộc thật đông đảo và dũng mãnh hơn.

Đây rõ rệt là một quá trình tranh đấu của toàn thể dân tộc mà không có bàn tay sắt của chế độ độc tài tàn bạo nào lại có thể làm đảo ngược được nữa. Và đó cũng là niềm hy vọng sáng ngời cho dân tộc Việt Nam chúng ta vào đầu thế kỷ XXI lúc này vậy.

California, 12 tháng Tư 2011
Đoàn Thanh Liêm
Diễn Đàn Thế Kỷ

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

Nguyễn Hưng Quốc: Dân chủ là gì?

Trong hơn hai thập niên vừa qua, trên thế giới, có lẽ ít có chữ nào, về phương diện tần số xuất hiện, được phổ cập; về phương diện từ nguyên, đơn giản và dễ hiểu; về phương diện lý tưởng, được nhiều người đồng thuận; nhưng về phương diện ngữ nghĩa, lại mơ hồ; và về phương diện chính trị, lại bị lợi dụng nhiều như chữ dân chủ.

Ở đâu cũng nghe chữ dân chủ. Chữ dân chủ xuất hiện ngay trong tên chính thức của nhiều nước (chẳng hạn, ở Việt Nam trước đây, “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”) hoặc trong hàng tiêu ngữ thường được viết dưới quốc hiệu. Chữ dân chủ cũng được đặt làm tên các đảng phái chính trị. Phần lớn các cuộc cách mạng nổi lên từ đầu thế kỷ 20 đều nhắm đến lý tưởng dân chủ. Các cuộc cách mạng bùng nổ ào ạt từ cuối thế kỷ 20 lại càng giương cao ngọn cờ dân chủ. Nhân danh dân chủ, người ta phá sập bức tường Bá Linh. Nhân danh dân chủ, người ta tuyên bố khai tử chủ nghĩa cộng sản từng có thời thống trị cả một nửa nhân loại. Gần đây, cũng nhân danh dân chủ, người dân ở một số nước Trung Đông và Bắc Phi xuống đường thách thức lại các chế độ chuyên chế từng bóp nghẹt tự do của họ trong cả mấy chục năm ròng rã.

Mà không phải chỉ mới phổ biến gần đây. Khái niệm dân chủ, vốn gắn liền với nền văn minh La Hy, đã xuất hiện từ lâu. Chữ “democracy” (dân chủ) trong tiếng Anh và một số ngôn ngữ Tây phương khác hiện nay có gốc gác từ tiếng Hy Lạp cả hơn hai ngàn năm trăm năm trước, trong đó, “demos” là dân, nhân dân; và “kratos” là trị, cai trị. Có lẽ nó hoàn toàn tương đương với chữ “dân chủ” mà chúng ta đang sử dụng: dân làm chủ. Không có người nào tóm tắt khái niệm dân chủ ấy hay bằng Abraham Lincoln trong câu nói nổi tiếng: “chính quyền của dân, do dân và vì dân”.

Đơn giản như thế, nhưng đi vào thực tế, khái niệm dân chủ bỗng trở thành phức tạp lạ lùng.

Thứ nhất, dân hay nhân dân là ai? Nhân dân, như một toàn khối, là một khái niệm mơ hồ, hàm hồ và phi thực. Ở đâu người ta cũng phải lựa chọn, và lựa chọn cũng có nghĩa là loại trừ. Ngày xưa, trong các nền dân chủ sơ khai thời cổ đại Hy Lạp, có ba thành phần bị loại trừ: những người ngụ cư, nô lệ và phụ nữ. Sau, dưới thời trung cổ, một thành phần khác bị loại trừ: những kẻ ngoại đạo. Ngay dưới những chế độ dân chủ thực sự thời hiện đại, thoạt đầu, cũng có nhiều thành phần bị loại trừ, chủ yếu vì lý do chủng tộc: người da đen ở Mỹ và người thổ dân ở Úc. Ngay cả khi không phải vì những lý do liên quan đến chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay giai cấp, sự loại trừ vẫn có thể xảy ra giữa đa số và thiểu số; có khi, do thiết chế, chính đa số cũng có thể bị loại trừ như trường hợp cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ năm 2000 khi Al Gore chiếm được đa số phiếu phổ thông nhưng lại thua Georges W. Bush, người được nhiều phiếu của cử tri đoàn.

Thứ hai, bằng cách nào nhân dân làm chủ đất nước, qua đó, làm chủ số phận của mình. Trên lý thuyết, có hai cách chính: một là trực tiếp; hai là gián tiếp, qua các đại biểu. Cách trên, về giá trị, được coi là tối ưu, nhưng trên thực tế, ở tầm quốc gia, hầu như bất khả thực hiện. Cách dưới, từ Cách mạng Pháp về sau, được xem như là hình thức khả thi duy nhất của dân chủ, từ đó, thuật ngữ “dân chủ đại biểu” (representative democracy) được ra đời. Nhưng ở đây lại nổi lên một số vấn đề. Chẳng hạn, thế nào là “đại biểu”? Theo A.H. Birch, trong cuốn Representation (1972), khái niệm “đại biểu” có ít nhất ba cách dùng khác nhau: một, người hành động nhân danh quyền lợi và sở thích của kẻ khác; hai, người chia sẻ một số đặc điểm của cả một tập thể nào đó; và ba, người tự đồng nhất mình với một tầng lớp nhất định. Sau khi xác định ý nghĩa của chữ “đại biểu”, lại gặp một vấn đề khác: làm thế nào để chọn các đại biểu ấy? Trong lịch sử, có nhiều hình thức chọn lựa khác nhau, và không phải hình thức nào cũng thực sự dân chủ, nhất là khi những người được xem là đại biểu ấy không phải lúc nào cũng tôn trọng nguyện vọng của những người đã bầu cho mình.

Tuy nhiên, những sự khác biệt ấy cũng không ngăn cản giới trí thức và chính trị gia thành tâm và có thiện ý đạt đến một số đồng thuận nhất định để có thể phân biệt được dân chủ thực sự với những hình thức phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu.

Nói một cách tóm tắt, dân chủ phải bao gồm ít nhất một số yếu tố:

Một, nói đến dân chủ, trước hết, là nói đến cơ chế, đến cách thức tổ chức chính quyền. Một chế độ dân chủ phải được dân bầu một cách tự do và bình đẳng. Tính chất tự do và bình đẳng ấy chỉ có thể thực hiện được với một số điều kiện nhất định: thứ nhất, quyền phổ thông đầu phiếu cho mọi người thành niên; thứ hai, mọi người đều có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội, đặc biệt, được quyền đối lập và phản biện, quyền tuyên truyền và vận động cho lập trường và quan điểm của mình; điều đó có nghĩa là, thứ ba, sinh hoạt chính trị phải dựa trên nền tảng đa nguyên và đa đảng.

Tuy nhiên, bầu cử và đa đảng không bảo đảm được dân chủ nếu chính quyền không tổ chức bầu cử một cách nghiêm minh hoặc sau đó, không tôn trọng kết quả bầu cử (như trường hợp Miến Điện hay Zimbabwe trước đây). Do đó, cần thêm hai điều kiện này nữa: tính chất khả kiểm (accountability) và tinh thần thượng tôn pháp luật. Tính chất khả kiểm lại dựa trên sự minh bạch của chính phủ và quyền tự do thông tin và ngôn luận của mọi người. Trong khi đó tinh thần thượng tôn pháp luật chỉ có ý nghĩa khi tư pháp được độc lập với hành pháp.

Hơn nữa, nói đến cơ chế, không nên chỉ nghĩ đến nhà nước. Trong một xã hội dân chủ, nhà nước chỉ là một bộ phận trong mạng lưới các thiết chế đa dạng và phức tạp, bao gồm các tổ chức chính trị, tôn giáo, nghiệp đoàn, văn hóa, xã hội, thương mại, v.v... Các tổ chức này phải được độc lập với chính quyền và nhằm phát huy một xã hội dân sự lành mạnh để, một mặt, củng cố tình liên đới giữa các cá nhân, mặt khác, bảo vệ quyền lợi của các cá nhân trước khuynh hướng bao trùm và khống chế tất cả của nhà nước.

Hai, tất cả các cơ chế ấy phải được vận hành trên một nguyên tắc: pháp trị. Dân chủ chỉ thực sự là dân chủ khi nó được đặt trên nền tảng pháp luật. Pháp luật ấy, một mặt, gắn liền với những giá trị phổ quát của nhân loại; mặt khác, chi phối mọi thành viên trong xã hội, hoàn toàn không có ngoại lệ, nghĩa là không có ai, tuyệt đối không có ai, dù là vua hay tổng thống hay tổng bí thư đảng, có thể đứng trên pháp luật được.

Hai yếu tố trên rất được nhiều người nhắc đến. Nhưng dân chủ không phải chỉ là cơ chế hay nguyên tắc. Dân chủ còn là một hệ thống niềm tin và giá trị. Bởi vậy đằng sau các cơ chế hay nguyên tắc ấy bao giờ cũng có một thứ văn hóa chính trị đặc biệt được xây dựng trên ba nền tảng chính: Thứ nhất, sự tôn trọng nhân quyền, trong đó có hai quyền cơ bản nhất: tự do và bình đẳng của mọi công dân. Không được quyền nhân danh bất cứ thứ gì, kể cả đa số, để áp chế, tước đoạt quyền lợi hay chà đạp lên nhân phẩm của người khác thuộc phe thiểu số. Một xã hội dân chủ thực sự, một mặt, thực hiện ước muốn của đa số, nhưng mặt khác, phải bảo đảm quyền lợi của thiểu số. Điều quan trọng là việc bảo vệ quyền tự do và bình đẳng của con người phải được thiết chế hóa chứ không phải chỉ dựa vào thiện chí của các nhà lãnh đạo. Thứ hai, một văn hóa dân sự (civic culture) với hai trọng tâm là ý thức trách nhiệm và sự tin cậy đối với cộng đồng và đất nước. Thứ ba, tôn trọng sự đa dạng. Đây là sự khác biệt chính giữa dân chủ cổ điển (ở Hy Lạp) và dân chủ hiện đại: trong khi dân chủ cổ điển dựa trên sự thống nhất và đồng nhất, dân chủ hiện đại dựa chủ yếu trên sự đa dạng và sự khác biệt.

Không phải cái gọi là dân chủ nào cũng hội đủ các đặc điểm nêu trên. Bởi vậy, trên thế giới mới có dân chủ thật và dân chủ giả (pseudodemocracy). Dưới các nền dân chủ giả, dân chúng cũng được phát phiếu đi bầu. Nhưng họ chỉ được bầu những người đã được ai đó lựa chọn sẵn. Và họ hoàn toàn không kiểm soát được hai điều mà, trên nguyên tắc, họ cần và có quyền kiểm soát: thứ nhất, quá trình đếm phiếu (không phải ngẫu nhiên mà ở các nền dân chủ giả, những người thắng cử bao giờ cũng thắng một cách hết sức vẻ vang, toàn 100% hoặc gần gần 100%!), và thứ hai, quá trình hoạt động của các đại biểu sau khi thắng cử.

Bạn thử nghĩ xem nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là thật hay là giả?

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/dan-chu-la-gi-03-29-2011-118861744.html

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

TỪ CHIẾU DỜI ĐÔ NĂM XƯA NGHĨ VỀ DÂN CHỦ HÔM NAY

Trương Vĩnh Khang

“Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: Ngày xưa nhà thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, Nhà chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn, hổ ngồi chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ, thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giầu có, điều lợi như thế ai giám không theo.” Vua cả mừng.”( Đại việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb. KHXH, H, 2004).

Đọc "Chiếu dời đô" trong Đại Việt sử ký toàn thư ta thấy vài nội dung sau:

Nội dung thứ nhất: Cái mà lâu nay ta hay gọi là "chiếu" có chính xác là chiếu không?

Nội dung thứ hai: Lâu nay chúng ta đánh giá cao vai trò của một vị vua sáng đã đưa ra quyết định đúng là dời kinh đô Hoa Lư ra Thăng Long mà không đề cập nhiều đến vai trò của nhân dân.

Nội dung thứ ba: Cách làm và quyết định của Lý Thái Tổ chuyển đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mang tính trọng dân (ngày nay thường gọi là dân chủ).

Nội dung thứ tư: Bài học kinh nghiệm từ quyết định dời đô của Lý Công Uẩn là gì?

Thiển nghĩ, nếu có một Thiên đô chiếu bản gốc, ta sẽ thấy nó chắc không được trình bày như trong Đại Việt sử ký toàn thư. Chiếu dời đô sẽ khác về hình thức biểu hiện và nôi dung. Nội dung của chiếu thể hiện ý chí và quyết định của nhà vua dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long để cho thần dân thực hiện và tuân thủ nghiêm. Theo theo đó đầu chiếu sẽ là những câu như thế thiên hành đạo … và nội dung sẽ mang tính quyết định rõ ràng là di chuyển, dời đô để người dân phải tuân thủ... Cuối bản chiếu sẽ có những từ như Khâm thử… chứ không thể có câu hỏi: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?.

Về ngôn ngữ biểu hiện của "Chiếu dời đô" chắc hẳn là do sử gia phiên dịch từ tiếng Việt ra chữ Hán rồi ghi vào sách sử. Như vậy thì cái lâu nay ta gọi là "Thiên đô chiếu"(Chiếu dời đô), thực chất chỉ là một văn bản của sử gia chép lại lời Lý Công Uẩn và triều thần bàn bạc với nhau trong một buổi đại triều. Chiếu có được ban hành sau buổi đại triều này không, có tồn tại một chiếu dời đô theo đúng thể thức văn bản tờ chiếu hay không thì đến nay vẫn chưa rõ. Do vậy cái mà chúng ta thường gọi là "chiếu", thực ra nó không phải là một bức "chiếu" hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt của văn bản pháp quy đương thời.

Một ông vua cho dù quyền lực là là tối thượng, những quyết định của nhà vua được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế của nhà nước. Nếu thực thi theo cách sử dụng quyền lực đặc biệt này để quyết định các công việc của một quốc gia thì cũng khó mà thực hiện được trọn vẹn và đi đến kết quả tốt. Vì dân sợ bị trừng phạt mà phải thực hiện chứ không vì lợi ích chung và quyền lợi chung để thực thi. Do vậy đề cao vai trò của Lý Thái Tổ cho việc chuyển Hoa Lư ra Thăng Long mà không nêu được vai trò của dân chúng Đại Việt thì mới chỉ đạt có một nửa yêu cầu. Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân dân liệu cũng qua.

Nội dung trong sử ghi chép đấy chính là nội dung của một buổi nghị đình hay còn còn gọi là một buổi đại triều. Nhà vua cùng họp với các quan đại thần bàn với nhau trên cơ sở những tiền đề, lý lẽ của nhà vua về chuyển Hoa Lư ra Thăng Long làm nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Nhà vua nói:“Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?, ý của hoàng đế đã được các triều thần đáp lại với sự nhiệt thành ủng hộ cao: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giầu có, điều lợi như thế ai giám không theo”. Vua đáp lại thể hiện sự đi đến quyết định cuối cùng theo lời của sử gia: “vua cả mừng”.

Như vậy thông qua buổi đại triều ấy phản ảnh được sự sáng suốt của nhà vua trong cách làm về di chuyển kinh đô ra Thăng Long. Nguyện vọng xây dựng một vương triều mạnh đã được Lý Thái Tổ chuyển hóa từ nguyện vọng cá nhân, dòng họ thành nguyện vọng của dân tộc, quốc gia khi đưa ra những lý lẽ của mình để bàn bạc trong buổi đại triều. Quyết định của vua đã được dân chúng và trăm quan ủng hộ nhiệt thành. Nhà vua đã mang việc lớn ra bàn bạc và lấy ý kiến của nhân dân của triều thần Đại Việt. Trên cơ sở sự đồng thuận cao của nhân dân Đại Việt mới đưa ra quyết định cuối cùng đó là chuyển Hoa Lư ra Thăng Long. Từ môt quyết định đúng đắn của Lý Công Uẩn và sự đồng thuận của nhân dân đã làm tiền đề cho Đại Việt phát triển mãi về sau.

Bài học kinh nghiệm của lịch sử thông qua việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long thể hiện ở bài học như: Nhà nước ta hiện nay là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Nhân dân kiến tạo lên nhà nước, quyền lực thuộc về nhân dân do vậy khi các cơ quan hay người lãnh đạo quyết định những vấn đề lớn của đất nước cũng cần học tập tiền nhân về bổn phận của mình là đại diện nhân dân, là công bộc của nhân dân mà thực hiện, vì lợi ích của dân mà thực hiện. Hoạt động của nhà nước đương đại phải thể hiện được bản chất dân chủ của Nhà nước.

Hà Nội, ngày 5/9/2010

* Bài viết do Thạc sĩ Luật học Trương Vĩnh Khang (Viện Khoa học xã hội VN) gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin cảm ơn tác giả!

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2009

Cái nôi của Dân chủ

Ngô Nhân Dụng

Có hơn 50,000 tiếng Hy Lạp đang được sử dụng trong các ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới! Tôi chưa bao giờ nghe nói điều đó cho tới khi tới Athena (đọc là A Ti Na), đọc một tờ quảng cáo nhắc nhở như vậy. Một người Việt Nam tò mò sẽ tự hỏi không biết trong tiếng nước mình có những chữ nào là gốc Hy Lạp?

Nghĩ mãi thì thấy có. Bây giờ người Việt nói chuyện với nhau có thể nói nhanh, “Tôi sẽ phô tô bài báo này cho mỗi anh một bản,” hoặc, “Em sẽ gọi phôn cho anh ngay” (thường là em hứa rồi không gọi). Chúng ta không để ý rằng những tiếng “phôn” và “phô tô” tìm về gốc tích thì tổ tiên đều là tiếng Hy Lạp ra cả. Những đơn vị đo lường mình bắt chước tiếng Pháp, sinh ra nhưng tiếng Việt như “một ký, hai ký” cũng đều gốc Hy Lạp nữa. Giáo Sư Nguyễn Phước, tác giả “Tiếng Việt gốc ngoại quốc” chắc sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều tiếng khác. Một trong những tiếng Việt gốc Hy Lạp được viết trong báo chí rất sớm, từ thời Tự Lực Văn Ðoàn, là chữ “lô gích.” Cụ Phan Khôi, người Quảng Nam, từng bị “chụp mũ” là “ông lô gích!”

Tiếng Việt, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của chữ Hán như thế nào thì các nước Âu Châu chịu ảnh hưởng của chữ Hy Lạp và chữ La tinh như vậy; rồi từ Âu Châu chúng di tản và sang Á Châu, Phi Châu mà truyền giống. Những tiếng chúng ta quen dùng như Nguyên Tử lực, Dân Chủ, Ô lanh píc hoặc Ô lem píc, Biện Chứng, chạy ma ra tông, Cơ Thể Học, vân vân, đều gốc gác từ những tiếng được người Hy Lạp dùng hơn hai ngàn năm trước. Nếu xóa bỏ hết những chữ gốc Hy Lạp trong ngôn ngữ của loài người, bỏ mất cả những khái niệm do những tiếng đó bao hàm, thì nền văn minh của nhân loại sẽ khác hẳn. Có thể sẽ biến mất, không còn văn minh như chúng ta vẫn hiểu nữa. Và những cầu chuyện chúng ta trao đổi với nhau sẽ bị đẩy công một tầng thấp hơn nhiều!

Các tờ quảng cáo du lịch còn giới thiệu thành phố A Ti Na là nơi phát sinh ra thể chế chính trị Dân Chủ (tôi phiên âm tên A Ti Na theo lối nói tên của dân địa phương; chữ “tê-ta” trong tiếng Hy Lạp đọc giữa phụ âm T và S trong tiếng Việt. Người Tây hay viết chữ tê ta thành TH, cho nên tiếng Anh viết là tên thành phố này là Athens, Athenes trong tiếng Pháp). Người Hy Lạp gọi cách tổ chức việc cai trị đó là “chế độ Ðê Mô,” sau biến thành Demokratia, Democracy, Democratie, vân vân, trong tiếng các nước khác Người Việt cũng như người Tầu, người Nhật Bản gọi đó là chế độ này là Dân Chủ, ý nói người dân làm chủ trong việc cai trị. Phải chi khi bắt đầu dịch khái niệm này sang tiếng Việt mà các cụ tổ mình được nghe trực tiếp chứ không học qua sách chữ Hán, thì chắc người mình đã phiên âm Demokratia thành một chữ trong đó có chữ gốc “Ðê Mô,” tiếng Hy Lạp.

A Ti Na đúng là cái nôi của chế độ dân chủ ở Tây phương. Những người Hy Lạp đã sống với các thủ tục dân chủ từ thời Pericles trước đây 2500 năm, nếu họ trở lại sống ngày hôm nay, thì họ sẽ ngạc nhiên. Họ sẽ thấy lề lối xếp đặt xã hội mà chúng ta gọi là tự do dân chủ bây giờ rất xa lạ đối với họ, nếu không nói là “phản động.” Phản động, bởi vì những chế độ tự do dân chủ bây giờ cho phép đủ mọi người góp ý kiến vào việc trị quốc, một điều mà dân A Ti Na không thể chấp nhận được! Ở A Ti Na, đó là quyền của một thiểu số. Và ngay trong nhóm thiểu số đó, ai nói những ý kiến “không chính thống” có thể bị tòa án cho đi tù mút mùa! Chính vì chế độ gọi là “dân chủ” đó không có tự do, không bình đẳng, nên tòa án ở thành phố này đã đã xử tử hình nhà hiền triết Sô Crát, chỉ vì tội “bất đồng ý kiến!” Hoặc gọi là “chống lại chính quyền của nhân dân” cũng được!

Tại A Ti Na từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, tất cả mọi người dân thành phố đều được quyền quyết định việc cử người nắm quyền, quyết định những việc quan trọng như thờ cúng các vị thần, tuyên chiến với các thành phố khác, vân vân. Nhưng số người được tự do tham gia phát biểu ở nghị trường phải là đàn ông! Và con số đó chỉ bằng một 15% đến 25% số đàn ông trong thành phố mà thôi. Dân Hy Lạp ở các nơi khác đến đó sống không được dự. Tất nhiên những người ngoại chủng, các nô lệ mua từ đâu đó về hoặc bị bắt về, đều không được dự. Ngày nay mà một quốc gia nào đặt ra thủ tục quyết định việc chung việc nước như vậy chắc chắn sẽ bị coi là “phản động.”

Chỉ vì những chữ Dân Chủ viết trong hầu hết các ngôn ngữ đều dùng hai tiếng Ðê Mô (demos), nghĩa là dân chúng trong tiếng Hy Lạp; cho nên mọi người vẫn coi như dân Hy Lạp ở A Ti Na là những người sáng chế ra cách sống dân chủ. Triết gia Platon đặt tên cuốn sách ông viết về phương pháp cai trị là Cộng Hòa (Repubic) cho nên người ta càng thấy trao “giải thưởng dân chủ sớm nhất thế giới” cho người Hy Lạp là hợp lý. Nhưng các sử gia đã chỉnh lại thành kiến đó, khi khám phá ra là từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, trước khi Ðức Phật Thích Ca ra đời, ở lục địa Ấn Ðộ đã có một nơi sống theo các thủ tục dân chủ, là nước Vaishali. Chế độ ở đó, Maha Janapadas, có thể gọi là Cộng Hòa theo lối nói ngày nay, trong đó một nhóm người có quyền quyết định mọi việc chung, không ai chiếm độc quyền cả. Có lẽ dưới ảnh hưởng của lối sống đó mà thời Ðức Phật còn sống, những người theo học ngài đã sống chung với những thủ tục dân chủ, ngày nay còn nhiều tăng đoàn vẫn áp dụng. Thời Ðại Ðế Alexander chinh phục sang vùng các nước Ba Tư, Ấn Ðộ bây giờ, vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, các học giả tháp tùng đoàn quân của ông cho biết họ thấy dân hai nước Sabarcae và Sambastai (bây giờ là vùng đất nằm giữa hai nước Afghanistan và Pakistan), cũng dùng những tập tục cai trị lẫn nhau theo lối dân chủ chứ không theo vương quyền thế tập.

Nhưng Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là nơi phát sinh các thủ tục dân chủ, vì nhiều lý do. Thứ nhất, nhiều người đã nói, đã thảo luận về các thủ tục quyết định tập thể họ sử dụng, nhất là họ biện luận cho các thủ tụ đó với các nguyên tắc căn bản mà ngày nay vẫn còn thấy giá trị. Họ viết ra các quy tắc căn bản đó, truyền đến bây giờ. Ngược lại, chúng ta không còn giữ được bài viết hay cuốn sách nào của những người dân ở Vaishali hoặc Sambastai. Các quy tắc sống chung của tăng đoàn thời Ðức Phật thì được giữ lại nhưng chỉ để áp dụng trong tập thể của những người tu hành đó thôi. Không thấy đệ tử nào của Ðức Phật cổ động cho cả xã hội chung quanh cũng “phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ” như trong tăng đoàn. Có thể nhiều người cũng có những tư tưởng cách mạng đó nhưng họ bị chính quyền đương thời bắt giữ hết.

Các tư tưởng “cách mạng” của họ cũng chết theo họ trong những trại “học tập cải tạo” của các vua chúa. Cho nên, người Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là những người đặt nền móng cho lối sống dân chủ.

Chúng ta biết là những thủ tục sống dân chủ đầu tiên ở A Ti Na còn thiếu sót, nhất là thiếu quan niệm về tự do, về bình đẳng cho tất cả mọi con người, không phân biệt nam nữ và không theo chủ nghĩa “lý lịch.” Những quy tắc còn thiếu đó, bây giờ gọi là những quyền làm người, hay nhân quyền. Ngày nay, một quốc gia tự gọi là dân chủ mà thiếu tự do, không bìnhh đẳng, không tôn trọng các quyền làm người thì vẫn bị coi là chưa thật sự dân chủ.

Mặc dù còn thiếu nhiều quy tắc quan trọng đó, các triết gia Hy Lạp đã đặt nền tảng cho chế độ tự do dân chủ đời sau với nhiều nguyên tắc lớn. Thí dụ, người Hy Lạp đã đề cao khái niệm thượng tôn pháp luật, giống như người Á Ðông nói “Pháp bất vị thân,” pháp luật không phân biệt người thân hay người ngoài. Aristotle viết: “Tất cả mọi con người đều có tình cảm, nhưng luật pháp thì không.” Ðây là một quy tắc quan trọng,vì luật pháp là một bảo đảm cho con người được sống tự do.

Người ta cảm thấy tự do vì tất cả mọi người đều ở dưới một pháp luật chung, như nhau. Mỗi người có thể đoán trước khi tính làm một việc nào thì hành động của mình sẽ được luật pháp xét xử một các công bình. Chẳng hạn, ai lái xe vượt đèn đỏ đều có thể bị phạt như nhau, dù xe mang bảng số công an hay không. Ai ăn hối lộ cũng bị xử theo những điều luật giống nhau. Biết như vậy, mọi người cảm thấy cuộc sống an toàn trong pháp luật. Vì ai cũng được luật pháp bảo vệ, không lo ông quan tòa xét xử thiên vị, tùy hứng, hoặc xử theo chỉ thị của vua quan. Chúng ta gọi đó là sự an toàn về pháp lý.

Từ đó chúng ta mới thấy một vai trò lớn của pháp luật, là luật pháp ấn định những giới hạn trên quyền tự do của mọi người, đặc biệt là giới hạn quyền hành của những người cai trị. Khi những người cầm quyền nói họ sẽ cai trị bằng pháp luật, chúng ta biết là quyền hạn của chính họ bắt đầu bị giới hạn. Một căn bản của chế độ tự do dân chủ là giới hạn quyền hành của nhà nước. Ðó là điều bảo đảm tính chất bình đẳng trong cuộc sống. Sử gia Herodotus người Hy Lạp gọi quyền bình đẳng trước pháp luật là “isonomia,” tức là mọi người được đối xử như nhau. Do đó, ai cũng cảm thấy có tự do, không lo bị đàn áp bất công. Trong vòng bảo vệ của pháp luật, mọi người tha hồ mưu cầu hạnh phúc, không bị ai ép buộc mà cũng không ai cấm đoán được.

Từ những nền tảng đó, loài người đã xây dựng nên những quy tắc sống chung khác, mà bây giờ chúng ta gọi là chế độ dân chủ tự do. Cho nên, rút cuộc chúng ta vẫn phải cảm ơn các hiền triết Hy Lạp trước đây hơn 2000 năm đã đặt ra những nền móng từ đó loài người dựng lên các chế độ dân chủ bây giờ!