Hiển thị các bài đăng có nhãn xãhội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xãhội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Trung Quốc: mâu thuẫn xã hội bùng nổ

TT - Những mâu thuẫn xã hội gay gắt đã dẫn tới hàng loạt cuộc biểu tình bạo động và những vụ đánh bom nhắm vào cơ quan công quyền tại Trung Quốc trong thời gian qua.

Cảnh sát và người dân đối đầu trong vụ biểu tình ở Lichuan ngày 9-6 - Ảnh: AFP

Thời báo Hoàn Cầu ngày 13-6 đưa tin hai ngày trước, hơn 1.000 người lao động nhập cư từ tỉnh Tứ Xuyên đã đổ ra đường phố thị trấn Tân Đường, tỉnh Quảng Châu để đập phá cửa sổ, đốt các tòa nhà công quyền, ném chai lọ, gạch đá vào cảnh sát và lật xe cảnh sát. Lực lượng cảnh sát chống bạo động đã bắn hơi cay và điều xe bọc thép để trấn áp đám đông biểu tình. Tổng cộng 25 người đã bị bắt giữ, hàng chục chiếc xe cảnh sát bị đốt cháy.

“Nhiều người chạy trên đường phố như điên khùng, tôi phải đóng cửa hàng từ 19g và không dám bước ra đường” - báo South China Morning Post dẫn lời một chủ cửa hàng trong khu vực xảy ra bạo động.

Theo South China Morning Post, vụ việc bắt đầu từ tối 10-6 khi cảnh sát Tân Đường đi dẹp hàng rong trên phố. Một cặp vợ chồng bán hàng rong người Tứ Xuyên đã cãi cọ dữ dội với cảnh sát và người vợ mang thai bị đẩy ngã. Vụ việc khiến cộng đồng người lao động nhập cư từ Tứ Xuyên bức xúc, từ sáng 11-6 cả ngàn người đã bao vây đồn cảnh sát Tân Đường để phản đối và bạo lực bùng phát.

Cuối tuần trước, hơn 1.500 người dân thành phố Lichuan, tỉnh Hồ Bắc đã đụng độ dữ dội với cảnh sát sau vụ một ủy viên hội đồng nhân dân địa phương bị chết trong đồn cảnh sát. Thời báo Hoàn Cầu cho biết người này bị bắt vì tội nhận hối lộ từ nhà thầu xây dựng, nhưng người dân địa phương lại cho biết trước đó ông đã vận động người dân chống lại việc chính quyền địa phương thu hồi một diện tích đất đai lớn trong thành phố.

Nhà chức trách đã phải bắt giữ hai công tố viên địa phương có liên quan đến cái chết của nạn nhân. Cảnh sát phải điều xe bọc thép đến tuần tra ở Lichuan để giữ gìn an ninh.

Nhân Dân Nhật Báo đưa tin ngày 6-6 ở Triều Châu, Quảng Đông, khoảng 200 công nhân nhập cư cũng từ Tứ Xuyên đã đụng độ với cảnh sát địa phương và đập phá xe cộ. Ít nhất 40 chiếc xe đã bị đập nát. Vụ việc xảy ra sau khi một công nhân nhập cư làm việc tại một nhà máy đồ gốm địa phương bị ông chủ đâm do cãi cọ về chuyện lương bổng. Cha của nạn nhân cũng bị đánh trọng thương.

Cộng đồng công nhân nhập cư đã nổi giận, đòi chính quyền địa phương phải trừng phạt kẻ thủ ác và bạo lực xảy ra.

Tháng trước, ở khu tự trị Nội Mông, hàng trăm người gốc Nội Mông bản địa đã đổ ra đường biểu tình phản đối vụ xe tải một mỏ than đâm chết một người chăn nuôi gia súc địa phương. Người dân Nội Mông cũng bức xúc với việc ngành khai thác than do người Hán kiểm soát đã hủy hoại sinh thái và môi trường sống ở Nội Mông, cũng như đe dọa tới truyền thống sinh hoạt du mục của người bản xứ.

Trong ba tuần vừa qua cũng xảy ra liên tiếp ba vụ đánh bom ở Trung Quốc. Theo Tân Hoa xã, hôm 10-6 một người đàn ông “muốn trả thù xã hội” đã cho nổ bom bên ngoài tòa nhà chính quyền địa phương ở thành phố cảng Thiên Tân, làm ít nhất hai người bị thương. Người này mang theo tới 20 quả bom tự tạo và ném bốn quả vào tòa nhà chính quyền huyện Hexi. Không rõ bao nhiêu quả bom đã nổ.

Một ngày trước đó, một cảnh sát đã thiệt mạng và hai người khác bị thương trong vụ nổ ở đồn cảnh sát thị trấn Hoàng Thạch, tỉnh Hồ Nam. Toàn bộ đồn cảnh sát bị phá hủy. Chính quyền địa phương cho biết nguyên nhân vụ nổ là do tai nạn, xuất phát từ chất nổ chứa trong đồn.

Tuy nhiên, một số nguồn tin khẳng định đây là vụ tấn công báo thù cảnh sát tham nhũng. Hai tuần trước đó, một người đàn ông 52 tuổi cho nổ ba quả bom ở trước tòa nhà hành chính thành phố Phúc Châu, tỉnh Giang Tây. Hung thủ, bị chết trong vụ nổ, đã bày tỏ sự tuyệt vọng trên Internet về việc không thể đòi bồi thường vì bị thu hồi đất đai.

Những vụ bạo động và đánh bom này đang làm lộ rõ sự bất ổn đáng báo động trong xã hội Trung Quốc vốn xuất phát từ những bức xúc xã hội liên quan đến tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo và nạn tham nhũng, đặc biệt là từ việc thu hồi đất đai.

Tân Hoa xã cho biết ý thức sâu sắc trước nguy cơ này, mới đây Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã lên tiếng cảnh báo về những “mâu thuẫn xã hội sâu sắc” tại nước này. Ông yêu cầu chính quyền cần có những nỗ lực khẩn cấp và lâu dài để giải quyết các vấn đề liên quan đến “hệ thống hành chính, luật pháp và cách thức điều hành đất nước”.

HIẾU TRUNG

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2010

Nhà văn Võ Thị Hảo nói về 'vấn nạn xã hội'

Các cách hành xử sai trái của các quan chức cũng như dân thường Việt Nam trở thành đề tài xuất hiện thường xuyên trên báo chí trong thời gian gần đây.

Truyền thông Việt Nam cũng hay đăng tải những điều mà họ gọi là "bức xúc" của dân chúng trước những vấn đề xã hội còn chưa được giải quyết.

Đó là những vụ chủ tịch tỉnh bị cáo buộc mua dâm ở Hà Giang, hai vợ chồng bị kết án 20 năm tù mỗi người vì hành hạ một bé trai tại Cà Mau, một nữ sinh cứa cổ người tình, một thanh niên chặt đầu người yêu cũ bên cạnh tệ hàng ngàn phụ nữ và trẻ em bị buôn lậu với giá nhiều khi chỉ một triệu đồng một người.

Nhưng liệu đây có phải là những vấn đề mới hay vẫn là những chuyện thường xảy ra mà trước đây ít được báo chí đưa tin.

Trước câu hỏi này của BBC, nhà văn Võ Thị Hảo, người thường xuyên theo dõi và phản ánh các vấn đề xã hội trong những tác phẩm của bà nói quả thực có những vấn đề trước đây không được báo chí đề cập tới.

Nhưng bà bình luận thêm:

Nghe/xem bằng Real Player hoặc Windows Media Player

"Rõ ràng là gần đây thì nó rất là nhiều, nó trở nên phổ biến và nó có những hành vi, thủ đoạn hung ác, suy đồi quá.

"Nó tới mức vô đạo quá.

"Tôi nghĩ cái căn nguyên của những vấn đề này là ở chỗ con người ta đã phải giả dối quá lâu.

"Từ khi bắt đầu tiếp xúc với xã hội, từ đứa bé mẫu giáo trở đi đã phải bắt đầu biết giả vờ rồi, từ những bài hát, từ những câu chào... rồi sau đó là cách hành xử sau này bắt chước người lớn chẳng hạn.

"Dần dần nó ăn vào căn cốt quá lâu rồi," bà Hảo nói.

'Tuyệt vọng'

Đây không phải là lần đầu tiên nhà văn ở Hà Nội này lên án sự dối trá trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Bà nói nhiều người Việt Nam đã mất niềm tin và họ hành xử theo "những tham vọng không bị ngăn chặn" vì không có hình mẫu trong xã hội.

"Cái quan trọng nhất là những tấm gương, những nhà quản lý xã hội, những người lãnh đạo cho đến những người như thầy cô giáo, thầy thuốc... những người ít ra phải sống đàng hoàng, đáng tin cậy, có đạo nghĩa thì thấy là ít người sống như vậy quá.

"Cái cách hiện nay thì sự tham lam là một, sự giả dối là hai và chỉ lo đến bản thân mình thôi, không từ thủ đoạn nào thì đó là cách hành xử đang ca vang, đang chiến thắng.

"Nó làm cho người ta có thể tuyệt vọng, hoặc là những người đang ở ngã ba đường là nên ngả về phía tốt hay phía xấu thì người ta dễ dàng ngả theo cái ác.

Dân chủ

Mặc dù một số nhà lãnh đạo Việt Nam đổ lỗi cho cơ chế thị trường và những cái xấu xâm nhập vào Việt Nam từ khi có chính sách mở cửa, bà Hảo nói đây chỉ là sự "ngụy biện".

Bà nói: "Tất cả những cái xấu là do khả năng quản lý xã hội của những người quản lý và những người chịu trách nhiệm ăn lương của dân để gánh vác những trọng trách đó.

Tôi nghĩ gốc của vấn đề là phải có một xã hội dân chủ, tôn trọng sự thật và có tự do ngôn luận.

Nhà văn Võ Thị Hảo

"Cái quan trọng là có một bộ máy khổng lồ và quyền lực để giải quyết việc đó. Nhưng vấn đề là có quan tâm để giải quyết không và có giải quyết đúng gốc của vấn đề không.

"Tôi nghĩ gốc của vấn đề là phải có một xã hội dân chủ, tôn trọng sự thật và có tự do ngôn luận.

"Và phải có cạnh tranh quyền lực, những người đàng hoàng tử tế thì ở lại với quyền lực, những người không có năng lực, không có lương tâm thì phải thôi.

"Tôi nghĩ là phải có đa nguyên tại vì một đảng phái không thể đại diện cho toàn dân được vì không phải toàn dân đều theo một đảng phái."

Nhà văn cũng nói bà chưa thấy có dấu hiệu các vấn đề lớn trong xã hội đang được giải quyết và nguyên nhân, theo bà, là người ta mới chỉ đang động chạm tới "phần ngọn" của các vấn đề.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/07/100706_social_issues_vo_thi_hao.shtml

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Tình cảm trong lĩnh vực công nghệ tình dục ở thành phố Hồ Chí Minh (trích)

KIMBERLY KAY HOANG
(Nguyên Trường dịch)

Khu vực cao cấp: “Nhiều người thích cô ấy, nhưng cô ấy chỉ đi với tôi thôi

Những người phụ nữ làm việc trong khu cao cấp của ngành kĩ nghệ tình dục ở Việt Nam không ra giá trực tiếp. Trong khu vực này, quan hệ kinh tế và tình cảm đan xen vào nhau đến mức là cả đàn ông lẫn phụ nữ đều thường cố gắng thể hiện quan hệ tình cảm mà ít nói với nhau trực tiếp về tiền (Zelizer, 2005). Người lao động tình dục trong khu vực cao cấp có gắng tạo dựng “quan hệ thân tình” và che đậy sự kiện là muốn được trả nhiều tiền hay quà tặng đắt tiền (Zelizer, 2005). Giống như những người lao động tình dục ở Thái Lan mà Aura Wilson (2004) đã khảo sát, những người phụ nữ hoạt động trong khu vực cao cấp ít khi ra giá trực tiếp. Đa số bỏ túi được nhiều hơn bằng các món quà. Các cô thường chi khá nhiều tiền cho các thẩm mĩ viện và quán bar, nhằm tạo cho khách hình ảnh của những người đi chơi giàu có. Nhưng khác với những người phụ nữ địa phương vào quán với bạn bè, những người này biết rằng họ đang làm việc. Họ lợi dụng sắc đẹp và khả năng biến tình cảm của mình thành một món hàng. Khách làng chơi quan hệ với những người lao động tình dục cao cấp trả tiền không chỉ vì nhục dục, họ trả tiền vì người đàn bà đẹp và đáng yêu, những người dành nhiều thời gian tâm sự với họ trong nhà hàng hay quán café chứ không chỉ làm tình. Tôi xin minh hoạ khu vực cao cấp bằng hai câu chuyện của một người lao động và một khách làng chơi trong ngành công nghệ tình dục Việt Nam như sau.

Tôi làm quen với Thanh, một Việt kiều, cũng là chuyên viên máy tính ở Paris về Việt Nam thăm gia đình, sống cùng khách sạn với tôi. Một tối Thanh cho tôi đi theo anh ta. Sau khi vào quán Whisper, một quán bar nằm ngay trung tâm quân 1, Thanh nói với tôi [bằng tiếng Anh]: “Tất cả [các cô ở đây] đều làm, chị phải trả giá đúng”. Khi tôi đề nghị giải thích thì anh ta nói: “Đấy là món đồ uống mà chị sẽ mua. Tôi nghĩ, thường thì mua một chai Remy [chai Cognac giá khoảng 100 dollars] và sau đó mời các cô đến nói chuyện”. Đêm đó Thanh gặp hai người, Châu và Hoài, cả hai đều mặc quần áo cộc và đi giày cao gót. Châu 23 tuổi, còn Hoài 24. Khi Thanh giới thiệu, chúng tôi cùng mỉm cười và không nói chuyện được nhiều vì nhạc trong quán mở to quá. Thanh thích Hoài và họ bắt đầu ve vãn nhau. Cuối buổi Thanh và Hoài cho nhau số điện thoại và họ đi vào khách sạn, vào quán café, quán bar với nhau suốt hai tuần liền. Trước hôm Thanh trở về Paris tôi đã mời anh ta đi uống café và làm một cuộc phỏng vấn không chính thức. Câu đầu tiên Thanh nói với tôi bao trùm việc buôn bán sắc đẹp của đàn bà và ước muốn của đàn ông [bằng tiếng Anh]:

“Chị biết đấy, tôi chỉ ở đây có hai tuần thôi và có một người đẹp đi chơi cùng thì còn gì thú bằng. Nghĩa là, chị biết đấy, tôi là thanh niên Việt Nam , tôi mua cho cô ta đồ trang sức, quần áo và cho cô ta tiền tiêu trong thời gian chúng tôi bên nhau. Thanh niên da trắng kiệt sỉ lắm. Họ đếm từng xu, trong khi người Việt Nam chúng ta phóng khoáng hơn. Tôi là người tốt, chị biết đấy, tôi cho cô ấy tiền và mua cho cô ấy tặng phẩm. Tôi quan tâm đến cô ấy. Tôi có thể tiêu nhiều tiền trong hai tuần cũng không sao. Đây là kì nghỉ của tôi”.

Khi tôi hỏi Thanh trong hai tuần qua anh ta đã chi cho Hoài bao nhiêu, thì anh ta bảo: “Tôi không biết. Tôi mua cho cô ấy rất nhiều đồ, thỉnh thoảng tôi lại đưa cho cô ấy hai trăm… có thể sáu bảy trăm dollars”. Khi tôi nói về quan niệm của anh ta về những người làm việc trong lĩnh vực tình dục ở Việt Nam và tỉ giá ngoại tệ, Thanh giải thích: [bằng tiếng Anh]:

“Những cô gái này cao giá vì họ trẻ, xinh xắn, và những anh chàng khác cũng muốn. Chị biết đấy, họ khéo léo và biết nói tiếng Anh. Họ biết cách nói chuyện với đàn ông… Tôi biết nếu tôi đưa ít thì cô ấy sẽ đi với người khác. Tôi không muốn những cô xấu xí đang nói chuyện với mấy tay da trắng mà chị nhìn thấy kia.”

Việt kiều, tương tự như Thanh, đến Việt Nam để thụ hưởng không chỉ tình dục. Những người đàn ông này mua dịch vụ của những người lao động tình dục trong khu vực cao cấp, tức là mua dịch vụ của những cô gái trẻ, đẹp, phong lưu và có nhiều người thích, và quan trọng hơn là làm cho họ cảm thấy là mình cũng được người khác thích. Những người phụ nữ này còn tạo điều kiện cho đàn ông thể hiện sức mạnh của đồng tiền của mình bằng cách tạo ra cách sống sang trọng. Những người lao động tình dục trong khu vực cao cấp dùng tình cảm để tạo ra cảm giác thèm muốn và cảm giác về quyền lực của khách bằng cách giúp những người đàn ông đó thể hiện nam tính của mình ở những nơi công cộng (Allison, 1994). Cái ham muốn đó hiện diện không chỉ trong khả năng thanh toán của Thanh mà còn nằm trong khả năng thể hiện tình cảm của Hoài khi cô cùng với Thanh vào quán café, khách sạn hay quán bar (Constable, 2003). Trong khu vực cao cấp, quà tặng là thứ bắt buộc phải có để trao đổi. Thông qua những món quà tặng đắt tiền, cả người lao động lẫn khách làng chơi đều thể hiện mình là những người sành điệu hơn những người đàn ông và đàn bà trong khu vực trung và hạ cấp, tức là những người sử dụng quan hệ tình-tiền theo kiểu “tiền trao cháo múc” (Peiss, 1986).

Nhiều người lao động trong khu vực này có khả năng và cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc cung cấp cái mà Hochschild gọi là “tình cảm sâu nặng” (deep acting). Một trong những người như thế là Kim Lý, một người bạn trai đã giới thiệu tôi với cô vào tháng 8 năm 2006. Cũng như những người mà tôi ngờ rằng đang làm trong lĩnh vực tình dục khác, tôi phải chờ cho đến khi khá thân với Kim Lý mới dám hỏi thẳng và trực tiếp về công việc của cô. Giống như một số người phụ nữ làm việc trong khu vực cao cấp, Kim Lý xuất thân từ một gia đình khá giả. Cha mẹ cô có một cửa hàng bán đồ mĩ phẩm sản xuất tại Nhật và Hàn Quốc ở quận 1. Kim Lý thường mời tôi đi uống café, vào mĩ viện và quán bar, cho thấy khả năng kinh tế và xã hội tạo điều kiện cho cô sự tự tin và có những cầu nối để gia nhập những quán bar cao cấp, nơi cô có thể gặp gỡ những người đàn ông Việt kiều khác nhau. Trong thời gian gặp gỡ tôi, Kim Lý đang hẹ hò với hai Việt kiều Mĩ; một người từ San Jose, California còn người kia thì từ Pittsburgh, Pennsylvania tới. Mới 21 tuổi, những đêm cuối tuần Kim Lý thường đến các quán bar cao cấp trong những khách sạn 5 sao hay những địa điểm như Whisper. Khả năng kinh tế và xã hội của Kim Lý giúp cô che giấu vai trò của mình (người lao động tình dục) đối với đa số đàn ông trong khi kín đáo thể hiện nó với một số người khác.

Một tối (tháng 6 năm 2007) Kim Lý và tôi tới Whisper. Đêm đó tôi mới biết rằng so với những người phụ nữ trong các khu vực khác, những người hành nghề trong khu vực cao cấp thường bỏ rơi những khách làng chơi mà họ thấy là không hợp, như Kim Lý đã làm hôm đó. Bỏ rơi đàn ông thường làm cho cô có nhiều khách hàng hơn, đặc biệt là Việt kiều, những người mà cô có thể lựa chọn. Hơn nữa, nó còn đưa đến cho cô những người thích cô để cô lựa chọn. Cô nói với tôi [bằng tiếng Anh]:

“Phải biết cách nói chuyện với đàn ông Việt kiều. Không được nói ngay là tôi sẽ ngủ với anh, còn anh sẽ trả tiền cho tôi. Nếu muốn được nhiều tiền hơn thì phải kiên nhẫn và biết cách nói chuyện với họ”.

Khi tôi đề nghị giải thích thì cô bảo [bằng tiếng Việt]:

“Chị biết đấy, nhiều cô gái cảm thấy ngượng khi đòi tiền ngay. Nhưng đấy là những con ngốc. Như em thì em sẽ nói: ‘Anh yêu ơi, phải tiết kiệm mới được. Ăn ở chỗ nào rẻ rẻ thôi’. Lúc đó họ sẽ nghĩ là em quan tâm tới họ và họ sẽ cho tiền. Không cần phải đòi. Chị hiểu không? Việt kiều thường hào phóng. Em phải tỏ ra quan tâm tới họ bằng những việc nhỏ nhặt thôi và họ thường cho em những món đồ đẹp như thế này (vừa nói cô vừa chỉ vào cái vòng bằng vàng trắng trên cổ tay”.

Trong những trường hợp như vậy, những người đàn bà như Kim Lý thể hiện tình cảm bằng cách giả vờ quan tâm tới túi tiền của khách. Tương tự như các cô trong công trình nghiên cứu của Amy Flowers về trí tưởng tượng bằng công nghệ tình dục qua điện thoại, Kim Lý thường nói dối, đóng kịch với khách, kể chuyện nhằm kiếm được những món quà tặng đắt tiền (Flowers, 1998). Những người phụ nữ này dành nhiều thời gian và công sức nhằm lèo lái và trình diễn tình cảm với khách hơn là làm tình “theo lối mì ăn liền”. Nhằm khẳng định mình là những người phụ nữ trẻ, đáng ước ao, họ thường làm cho khách tin rằng họ không cần đàn ông, mà là những người phụ nữ có quyền lựa chọn, những người yêu và thích đi chơi với những người đó.

Khi tôi hỏi cách thức cô quyết định sẽ ngủ với người nào, nếu khi mới gặp cô không thể hiện cho họ biết rằng mình là người làm trong lĩnh vực tình dục, thì cô giải thích:

“Em không ngủ ngay. Em phải nói chuyện với họ trong quán café, rồi đi nhà hàng nữa. Em chỉ ngủ sau khi đã nhận được tiền hoặc quà. Phải bắt họ làm, không thì họ sẽ chẳng coi mình ra gì. Nếu em nghĩ rằng đấy là người kiệt xỉ thì em sẽ không nhấc máy mỗi khi họ gọi nữa”.

Điều này cho thấy thời gian đóng vai trò như thế nào trong quan hệ ở khu vực cao cấp. Những người phụ nữ này mất nhiều ngày thậm chí nhiều tuần với khách nhằm tạo ra quan niệm về sự sang trọng trong khi chờ đợi được trả bằng tiền hay quà cáp trước khi đồng ý ngủ với khách. Những người như Kim Lý, tức là những người đóng vai khách hàng giàu có trong các quán bar và câu lạc bộ đắt tiền ở thành phố Hồ Chí Minh, phải chi cho riêng khoản uống đã là khoảng từ 15 đến 100 USD một đêm. Khác với những người phục vụ khách làng chơi địa phương và người da trắng, những người làm trong khu vực cao cấp hoạt động độc lập và không bao giờ thể hiện công khai là những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ tình dục. Bằng cách thanh toán bằng quà tặng, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều che giấu được hình ảnh của họ. Đây là cách làm hiệu quả vì những Việt kiều như Thanh thích đi quán, đi nhà hàng với những người phụ nữ đẹp, những người tạo cho họ cảm giác là được người khác quan tâm.

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

May mà Việt Nam còn có Sài Gòn!

Trần Tiến Dũng

Nguoi Viet Online

Người Sài Gòn từ thời hộ khẩu đến kinh tế thị trường

Khi có ý đi tìm người Sài Gòn, không hiểu sao khi chưa ra khỏi nhà tôi đã biết có đi phỏng vấn đến tết Congo cũng không ai người Sài Gòn tự nhận mình là người Sài Gòn gốc 3 đời hoặc mấy chục đời cả. Chắc rằng mọi người sẽ hỏi lại tôi, sao hỏi chi cái chuyện tào lao, tầm phào hết sức vậy cha nội, kiếm sống được ở Sài Gòn, là người Sài Gòn rồi.

Thật ra trên khắp thế giới, phần căn cước của một người ít ai phân biệt dân tỉnh lẻ hay dân thủ đô và đó là văn minh dân quyền căn bản nhất. Riêng ở Việt Nam thì khác. Dưới chế độ cộng sản, việc phân biệt dân thủ đô, dân thành phố lớn hay dân tỉnh lẻ, nông thôn, dân kinh tế mới,... là chuyện căn bản. Ai cũng biết sự phân biệt đối xử của chế độ hộ khẩu là khắc nghiệt, vấn nạn đó lâu ngày tạo nên cả một gói “tự hào” về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa... dành cho dân có hộ khẩu thủ đô, thành phố trước phần dân cư còn lại của cả nước.

Khi nền kinh tế mở cửa, dù chế độ hộ khẩu vẫn không thay đổi nhưng những yếu tố kinh tế thị trường tư bản đã phá vỡ toàn bộ những công dụng chuyên chế của chế độ hộ khẩu. Theo nhu cầu mưu sinh và nhu cầu nhân lực của kinh tế thị trường, dân tỉnh lẻ, nông thôn tràn về đô thị bất chấp chuyện họ sống đời không hộ khẩu hoặc chỉ có cái gọi là chứng nhận KT3 (một loại giấy tạm trú).

Tượng Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo, một trong số những biểu tượng của Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Theo thời gian, đội quân nhập cư tăng theo cấp số nhân và cả người nhập cư thành đạt, người kiếm sống qua ngày trở thành nguồn dân số bá chủ. Chính nguồn dân số và chất lượng dân số bùng nổ này đã dồn những ai tự huyễn hoặc cho mình dân thủ đô gốc, dân thành phố cố cựu vào hội chứng yếu đề kháng, trở thành những kẻ thất bại.

Nếu ai còn tự cho mình là dân Hà Nội gốc, thật ra đó là lối nghĩ của dân được bảo hộ bởi chế độ hộ khẩu thiếu dân quyền. Họ có thể trưng ra lý do là ông bà cha mẹ sống ở Hà Nội trước chế độ cộng sản và họ thừa kế cái gốc người Hà Nội. Cơ sở lý lẽ này là không minh bạch, vì trong lịch sử cận đại Việt Nam, theo tìm hiểu, trước thời cộng sản nắm quyền không có chuyện độc đoán khoanh tròn mực đỏ dân Hà Nội điểm tối ưu, và phần dân còn lại chỉ có điểm trung bình kém.

Người Hà Nội trước thời cộng sản đủ khỏe mạnh tinh thần và trí thức để rộng tay đón nhận tất cả các nguồn dân cư như đón nhận dòng máu mới, cũng như đủ ứng xử văn minh để biết rằng cực đoan địa phương tính là ngớ ngẩn. Chuyện dân thủ đô được tôn trọng kính nể... đó là do phẩm chất người, chất lượng từ những công việc phục vụ cộng đồng, quốc gia và được cộng đồng xác nhận trong chuẩn giá trị văn hóa chung, chứ không phải một dạng đặc quyền đặc lợi do một thể chế độc tài chỉ đạo.

Người Hà Nội đủ văn hóa để nhìn thấu rằng hiện trạng hư hỏng của xã hội Việt Nam đều có nguyên nhân do thiếu nhân quyền. Cả dân tộc, không phân biệt bất kỳ ai, vùng miền nào đều phải gánh chịu hiện trạng xã hội hư hỏng tệ hại này.

Một giáo sư sinh ra ở Hà Nội di cư vào Nam muốn giấu tên đã nói thật với chúng tôi rằng: “Chỉ thời đại này mới có kiểu tự tôn bệnh hoạn địa phương thượng đẳng.”

Ngồi quán cà phê, một thói quen của người Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Dân hào hiệp và dân nhập cư

Mỗi tháng tôi đều đến một tiệm hớt tóc của một ông chủ trẻ trên đường Hồ Bá Kiện. Tuổi chưa đến bốn mươi, anh có tổng cộng ba tiệm hớt tóc. Lần này anh mời tôi hớt tóc, lấy ráy tai, ở một tiệm mới khai trương. Cô gái lấy ráy tai cho tôi nói: “Ổng vài bữa nữa là sắm thêm xe hơi.”

Tôi hỏi thẳng ông chủ tiệm là anh có mấy chiếc xe hơi rồi, anh chàng nói giọng miền Nam lơ lớ: “Tính mua thêm một chiếc nữa là bốn. Xe tôi mua cho cơ quan công ty thuê, họp đồng tính theo năm.”

Rồi anh kể: “Năm 1980, anh từ Huế vô Sài Gòn làm phụ hồ, khổ trơ xương, ba năm không biết mùi bún bò, mì quảng là gì.” Tôi hỏi anh: “Anh thấy người Sài Gòn thế nào?” Mặt anh ngạc nhiên như người từ sao Hỏa xuống: “Rứa, lúc mới vào tôi cũng có nghĩ người trong này ăn ngon, chơi bạo khác người quê tôi, nhưng chỉ ở vài tháng là tôi thấy chỉ người có tiền là khác.”

Cái anh chàng chủ tiệm hớt tóc này cũng như hàng triệu người từ nhiều thế hệ đã nhìn thấy Sài Gòn là một nơi kiếm sống, kiềm tiền làm giàu. Ðối với mọi người Việt Nam, tính cả dân thủ đô Hà Nội, Sài Gòn là vùng đất hứa, là một kiểu giấc mơ Mỹ của người Việt Nam.

Một trí thức người Bắc di cư kết luận: “Sài Gòn là đất Phật.” Nhiều người bạn ông bàn thêm: “Giá trị rõ nhất của đất Phật trước tiên đây là nơi chốn bình yên, bình yên cả trong chiến tranh, thiên tai và những vấn nạn đáng sợ khác có nguyên nhân từ con người. Sài Gòn không có chuyện phân biệt đối xử vùng miền, văn hóa và chủng tộc...”

Nhà báo TG. có lần nói: “Chỉ cần vô Sài Gòn, có một cái bơm xe, ngồi ở vỉa hè Sài Gòn cũng sống được, cũng thoát khổ mà tính chuyện khởi nghiệp.” Họa sĩ TC, có lần kể: “Trước 1975, thi sĩ Nguyễn Ðức Sơn và cố nhà văn Nguyễn Thụy Long có thời ăn cơm cháy, uống trà đá, ngồi xỉa răng ở một quán cơm xã hội.”

Mỗi người, trong hàng triệu người từ nhiều thế hệ đều có riêng cho mình những kỷ niệm sâu sắc về sự rộng lòng của đất và người Sài Gòn. Có người còn nói nửa đùa nửa thật rằng, nếu ai có chí, dám đứng le lưỡi cho người ta dán tem ở bưu điện thành phố chắc chắn không thiếu khách hàng.

Sài Gòn, nay vẫn còn đó những xóm nhà ven kênh rạch nghèo xơ xác. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Nhưng Sài Gòn cũng có bất công. Ðiều bất công này không phải do Sài Gòn gây ra mà chính là do không ít người đến với Sài Gòn gây ra. Có thể thông cảm hiện trạng lúc nào họ cũng thương nhớ ca ngợi nguyên quán xuất thân của họ. Và Sài Gòn cũng dễ quên không chấp khi có những người nhập cư thành đạt, nên cơ nghiệp, chỉ nhận họ là người thành phố này, tỉnh nọ.

Sài Gòn không hề chỉ là Sài Gòn của nơi kiếm tiền, chỉ là một nơi tạm trú, bởi đa phần người nhập cư đã hoặc sẽ có khoảng đời sống ở thành phố này dài hơn so với lúc họ sống ở nguyên quán sinh ra. Hãy đến các nghĩa trang, các chùa có để cốt mà xem, hàng triệu người tứ xứ thuộc nhiều thế hệ đã chọn gởi lại cho Sài Gòn nắm xương tàn.

Nhưng người Sài Gòn anh là ai? Có người nói ngày nay muốn tìm người Sài Gòn thì qua tiểu bang Cali ở Mỹ hoặc các cộng đồng người Việt lưu vong trên khắp thế giới. Nhưng chúng tôi vẫn muốn tìm người Sài Gòn ở Sài Gòn.

Một cô bạn của chúng tôi sinh ra ở một nhà bảo sanh trên đường Gò Công quận 6, có ông bà nội là người Minh Hương, ông bà ngoại là dân sanh ra ở bến Mễ Cốc quận 8. Cô nói: “Nếu muốn biết ai là người Sài Gòn thì chỉ cần nhìn cách họ đón tiếp đối xử với bà con cô bác ở quê lên thăm hoặc lên kiếm việc làm. Bà ngoại tôi mỗi lần gặp bà con là mừng lắm, tấm lòng của người tha hương mà. Ai cũng có họ hàng dây mơ rễ má, chớ có phải ở đất nẻ chui lên đâu.”

Theo một ông già từng là lính VNCH, nay chạy xe ôm ở quận Tân Bình, “đất Sài Gòn trước tiên là đất của những tay hảo hớn, bởi chỉ có những người mạnh mẽ từ tâm hồn đến thể xác mới quyết định bỏ xứ ra đi đến đất mới, cũng chính họ mở đường cho con cháu mưu cầu sự sống mới và tự do. Tánh hảo hớn và phóng khoáng là máu huyết căn cơ của người Sài Gòn.”

Ở góc đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản cũ (nay là Ðiện Biên Phủ) có một cái miếu lớn gọi là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Nơi đây hàng ngày hàng đêm vẫn nghi ngút hương khói tưởng nhớ những vong linh của tướng quân Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê văn Duyệt) và các nghĩa binh bị xử chém, vùi xác ở quanh khu Kỳ Hòa, thành Gia Ðịnh dưới thời vua Minh Mạng. Một nhà nghiên cứu lịch sử miền Nam có lần nói với tôi: “Không rõ lắm những nghĩa quân này có phải là người Sài Gòn không, nhưng tôi tin chắc khi họ chết, anh linh họ là người Sài Gòn.”

Và sẽ không tìm thấy một người Sài Gòn nào nếu tiếp tục nhìn lịch sử theo lối độc quyền và thiển cận. Người Sài Gòn chỉ có một khi lịch sử được minh bạch rằng, người Sài Gòn hôm nay chính là những người nhận được cơ hội từ những người từng đến, sống và chết từ Sài Gòn-Gia Ðịnh trong xuyên suốt các triều đại phong kiến, những anh linh tử sĩ VNCH, những vong linh người vượt biển vì tự do và cả những nạn nhân khác của bóng tối lịch sử.

Chỉ từ cách nhìn nhận này mới sáng rõ đúng nghĩa tánh hảo hớn-hào hiệp vì tự do và công bằng của người Sài Gòn.

May mà còn có Sài Gòn

Gia đình bên ngoại tôi có một người anh họ, anh tên là Ba V. Trước 1975 anh là lính sư đoàn 7 Bộ Binh VNCH đồn trú ở Gò Công. Quê anh ở ở một xã heo hút dù không xa Sài Gòn nhưng rất nghèo... Sau biến cố 1975, anh và gia đình càng lâm cảnh nghèo tệ hại hơn. Sài Gòn với anh là một thiên đường tại thế, có lần anh nói với tôi: “Tao phục mày quá, sống được ở Sài Gòn ngon thấy mẹ.” Lời anh đơn giản nhưng chí lý, người Sài Gòn thời nào cũng rất bảnh trong cách nhìn của người địa phương khác.

Có người sẽ phản bác tôi rằng, người Sài Gòn ngày nay không còn sang trọng nữa. Nhưng trường hợp gia đình anh họ tôi thì lại đồng ý với tôi. Sau 1975 cả bảy đứa con của anh họ tôi đều không đủ ăn đến xanh mặt. Khi Sài Gòn vào thời kinh tế thị trường cả năm đứa con trai, con gái của anh đều trở thành người Sài Gòn, anh chỉ giữ lại được đứa con gái và đứa con trai út làm người Gò Công cày cấy trên nửa mẫu ruộng hương hỏa. Ðiều đáng nói là những người con Sài Gòn của anh, dù chỉ làm thợ hồ và nấu bếp ở Sài Gòn nhưng đã đem lại một cuộc cách mạng kinh tế, lối sống văn minh cho cả gia đình anh. Chất nông dân cố cựu của anh không còn như trước, ở anh ngày càng rõ ra cái chất thị dân Sài Gòn do con anh truyền bá.

Có hàng triệu gia đình ở Việt Nam hôm nay giống như anh, người ta không thể thống kê hết những thay đổi theo kiểu Sài Gòn. Nhưng có một điều người ta chắc chắn là văn hóa thị dân Sài Gòn hình thành từ tinh hoa thể chế thực dân và ánh sáng của nền dân chủ tự do Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, ánh sáng này đủ mạnh để dung chứa mọi cách sống và để truyền bá những điều tốt đẹp.

Người Sài Gòn hôm nay vẫn còn thói quen hóng gió trên bến Bạch Ðằng. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Tôi có dịp nói chuyện với cô gái người Hà Nội, cô vào Sài Gòn làm nghề báo. Tôi không biết cô có phải là người Hà Nội gốc hay không, cô nói: “Khi mắng cái dân thiếu văn minh ngoài đấy, em có Sài Gòn để chứng minh là trong này người ta không ai làm việc xấu hổ thế.”

Tất nhiên, không có vùng rộng của lối sống văn minh nào lại không có mặt tệ nạn, nhưng cộng đồng thị dân Sài Gòn không có kiểu hí hởn cả tập thể hùa nhau hái hoa Anh Ðào của Nhật Bản triển lãm về làm của riêng, cũng không có những vấn nạn không thể tưởng tượng được như chiếm thang máy chung cư, cho thang máy chạy lên chạy xuống liên tục để vỗ con và đút cơm cho con mình ăn ngon miệng.

Và không có cái kiểu nghĩ và hành xử như một cô ca sĩ trẻ mà tôi quen. Cô này từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cơ hội thành “sao.” Trong thời điểm Hà Ðông có quyết định sáp nhập vào Hà Nội, cô luôn miệng tục tằn gay gắt với những người “đời đời kiếp kiếp” cô không nhận là người Hà Nội, dù hàng ngày đang cùng thở, cùng sống ở không gian Hà Nội mở rộng với cô.

Chính từ những cách nhìn kỳ thị kiểu này đã xác lập một thứ ranh giới mà ở đó người ta tự cho Hà Nội như mình đây là tốt đẹp, phần còn lại là tệ hại vì không phải là Hà Nội. Có gì đáng buồn cười và xấu hổ cho bằng kiểu kỳ thị “địa phương thượng đẳng” đó. Và chính đó mới là mầm mống, là nguyên nhân của vô số vấn nạn xã hội.

Vấn đề không phải Sài Gòn không có người nhập cư quê mùa kém cỏi, nhưng cái chính là văn minh Sài Gòn đủ mạnh để hướng mọi người đến phẩm chất tôn trọng lợi ích cộng đồng và tự trọng trong lối sống cá nhân.

Ở phạm vị rộng hơn, nhiều bậc thức giả chiêm nghiệm rằng, không phải năm 1975 “giải phóng Sài Gòn” mà chính là biến cố đó đem đến cơ hội giải phóng toàn diện xã hội miền Bắc.

Hơn ba mươi năm qua, những ai công tâm sẽ nhìn thấy những dòng người không thể thống kê hết từ miền Bắc vào Sài Gòn để mưu cầu cuộc sống tốt hơn, qua từng cá nhân, họ hàng, thôn làng vào Sài Gòn vào miền Nam rồi về thăm quê đã đưa về, đã truyền bá lối sống văn minh vật chất và tinh thần Sài Gòn.

Bạn tôi, nhà thơ, là một người Hà Nội sang trọng, anh vào và chọn Sài Gòn để sống và cũng có thể coi anh là người tị nạn văn hóa ở Sài Gòn. Anh có những kỷ niệm vui buồn sâu sắc dành cho Hà Nội, nên mỗi lần về quê trở vào là anh nói: “Mình đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất là thấy nhẹ người.” Tất nhiên cũng trùng hợp, người biết và chia sẻ tâm trạng “nhẹ người” này là những Việt kiều lưu vong mỗi khi rời Việt Nam bay trở lại đất nước bao dung mình.

Và từ những năm đen tối nhất của lịch sử cho đến thời tạm dễ thở, không một nơi chốn nào của đất nước này được hàng triệu triệu người Việt đồng tâm tin rằng: May mà Việt Nam còn có Sài Gòn!

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

Tượng Stalin bị dỡ bỏ ở Gruzia, quê hương của nhà độc tài Xô viết

Thanh Phương

Ngày 25/06/2010, Bộ trưởng Văn hóa Gruzia, Nika Rouroua cho báo chí biết là đêm 24/06, một bức tượng Stalin bằng đồng ở thành phố Gori, quê của nhà độc tài Xôviết đã bị dỡ bỏ một cách kín đáo. Thay vào đó, Gruzia sẽ xây một đài tưởng niệm các nạn nhân của chế độ độc tài Xôviết và những người đã bỏ mạng trong cuộc chiến tranh 2008 ».

Theo ông Rouroua, Stalin, sinh tại Gori năm 1879, là kẻ đã giết hại hàng triệu người vô tội, đã hạ sát những thành phần ưu tú không chỉ của xã họi Gruzia, mà của nhiều nước khác nữa. 

Bức tượng cao 6 mét và được đặt ở quảng trường trung tâm Gori từ năm 1952 đã là chủ đề gây tranh cãi gay gắt trong những năm gần đây. Chính phủ của tổng thống thân phương Tây Mikheil Saakachvilli đã nhiều lần đề nghị dỡ bỏ bức tượng này. Nhưng nhiều người, nhất là tại Nga, vẫn còn tôn sùng Stalin, đặc biệt vì vai trò của ông trong chiến thắng của Liên Xô trước phát xít Đức trong thế chiến thứ hai. 

Theo báo chí Gruzia, cánh sát đã chặn lối vào khu vực chung quanh bức tượng và ngăn không cho phóng viên quay cảnh dỡ bỏ tượng Stalin. 

Nằm cách thủ đô Tbilissi 80 km về phía Tây, Gori đã được cả thế giới biết đến vào tháng 8 năm 2008, khi thành phố này là mục tiêu tấn công của quân đội Nga trong cuộc chiến tranh với Gruzia giành quyền kiểm soát vùng Nam Ossetia ly khai. 

Thứ Năm, 24 tháng 6, 2010

CẦN DỨT KHOÁT ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HỘI

http://viet-studies.info/BuiMinhQuoc_ToChucHoi.htm

(Phát biểu tại đại hội Hội nhà văn khu vực miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long sáng16.06.2010 họp tại Bến Tre)


Hôm nay tôi rất vui mừng và xúc động được phát biểu ý kiến của mình trên mảnh đất Bến Tre rất đỗi tự hào với truyền thống đồng khởi, truyền thống Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ chiến sĩ, cảm thấy như tâm hồn được tiếp thêm ngọn lửa chiến đấu mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tôi bồi hồi sống lại kỷ niệm lần đầu tiên được đến với Bến Tre trong một chuyến công tác đặc biệt có ý nghĩa vào tháng 9 năm 1988. Tôi, với tư cách là chủ tịch Hội Văn Nghệ Lâm Đồng, phụ trách một đoàn mấy anh em cán bộ của Hội đi làm việc với Hội Văn Nghệ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và kết hợp đưa nhà thơ Hữu Loan đi thăm đất nước sau 30 năm ông gần như bị giam lỏng tại quê nhà sống bằng nghề thồ đá vừa được đi đây đi đó và trở thành khách quý của Hội Văn Nghệ Lâm Đồng nhờ chủ trương đổi mới. Tôi không thể nào quên kỷ niệm với họa sĩ Lê Dân, chủ tịch Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã cùng tôi ký bản kiến nghị chung của hai Hội gửi Trung ương yêu cầu thể chế hóa nghị quyết 05 của Bộ chính trị về văn hóa văn nghệ - một nghị quyêt giải phóng sức sản xuất trên lãnh vực tinh thần - để thực hiện được mau chóng và hiệu quả.Tôi cũng không thể nào quên kỷ niệm tuyệt vời trong đời thơ của mình khi bài thơ “Những ngày thường đã cháy lên” vừa mới sáng tác đã được công bố trước tiên trên báo Đồng Khởi, cơ quan của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, tiếp đó là báo Minh Hải, cơ quan của Đảng bộ tỉnh Minh Hải (gồm Cà Mau và Bạc Liêu), rồi tạp chí Đối thoại của Hội Văn Nghệ Cửu Long (gồm Vĩnh Long, Trà Vinh) với đoạn kết sục sôi tinh thần đồng khởi như sau:

 

Chính Mẹ chứ không ai, Mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội những thằng thẻ-đỏ-tim-đen

Những câu thơ ấy là tiếng lòng tôi tiếp nhận và

nung nấu với ý chí “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” mà nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu truyền cho từ thuở tôi còn ngồi trên ghế nhà trường.Lần thứ hai tôi được đến với Bến Tre là vào năm 2004.Lần này, tôi được nhà thơ Hồ Trường, chủ tịch Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu dùng xe máy chở về Ba Tri viếng mộ Cụ Đồ.Tôi thắp hương khấn Cụ và trình Cụ bài thơ mới làm như sau:

KÍNH BÁO CỤ ĐỒ CHIỂU
Bao nghẹn uất Nguyệt Nga xé trời kểu chẳng thấu
Giữa chợ đời biệt dạng Lục Vân Tiên
Hảo hớn bận giang hồ quán nhậu
Thi nhau bốc phét để quên hèn

 

Tôi châm lửa hóa tờ giấy tôi chép bài thơ và tin rằng Cụ đã nhận. Vâng, tôi cảm thấy hồn thiêng của Cụ Đồ Chiểu đã nghe thấu lòng tôi. Tôi cảm thấy bằng cả tâm hồn và máu thịt, truyền thống chiến sĩ – nghệ sĩ là một truyền thống thiêng liêng, luôn được truyền nối và lan tỏa, và nhất định phải được truyền nối và lan tỏa. Bài thơ tôi gửi báo Văn Nghệ, hồi ấy do nhà thơ Hữu Thỉnh làm tổng biên tập, nhưng báo không đăng. May sao, tạp chí Sông Hương lại đăng, sau đó còn in vào bộ sách tổng tập thơ văn chọn lọc của tạp chí.

 

(Từ đây trở lên trên là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đại hội, tiếp theo dưới đây là phần đã viết sẵn được đọc và sau đó trao cho thư ký đoàn).

Hội nhà văn Việt Nam của chúng ta thoát thai từ Hội Văn hóa Cứu quốc do Đảng chỉ đạo hình thành trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là tổ chức của những chiến sĩ văn hóa chiến đấu để xây dựng một nền văn hóa mới. Tháng 6 năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ viết bản báo cáo mang tên “Một nền văn hóa mới” trong đó có đoạn hừng hực hào khí của một dân tộc nô lệ vùng lên giành lấy độc lập và tự do như sau: “Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” (“Một nền văn hoá mới”- Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản năm 1945). Các quyền thiêng liêng ấy - tự do tư tưởng và tự do ngôn luận - đã lập tức được hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và vẫn duy trì tại Hiến pháp hiện hành.

 

Thế nhưng, nhiều năm qua, các quyền thiêng liêng ấy chỉ tồn tại trên giấy. Đã có biết bao tác phẩm giá trị bị cấm, bị nghiền, biết bao nhà văn phải chịu khổ nạn chỉ vì kiên quyết thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn. Bởi vì có một thế lực sợ sự thật trong tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước đã dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để dập vùi đầy đọa những nhà văn trung thực trung kiên nói tiếng nói của sự thật của lẽ phải.

 

Vụ cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị cho vào máy nghiền là một bằng chứng điển hình khiến tất cả những ai có lương tri không thể không đau lòng và phẫn nộ. Ấy vậy mà Hội nhà văn của chúng ta, Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do lại im lặng trước hành vi man rợ đó. Thật phi lý. Sự im lặng này thật phi lý. Và thật xấu hổ, thật nhục nhã.

 

Nếu bây giờ tôi hỏi anh Hữu Thỉnh: anh có phải là một nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do không, chắc chắn anh sẽ trả lời: tôi luôn luôn là một nhà văn như thế. Và vẫn câu hỏi này, tôi đưa ra hỏi anh Lê Văn Thảo, anh Nguyễn Trí Huân, anh Hồ Anh Thái, anh Trần Đăng Khoa, chị Phan Thị Vàng Anh, thì chắc chắn cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự. Vậy tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc các công trình nghiên cứu, sáng tác về cải cách ruộng đất, về cuộc chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn-pốt trên biên giới tây nam, trên đất Cam-pu-chia và giặc bành trướng trên biên giới phía bắc, trên biển Đông không được xuất bản và tái bản, thậm chí trong dịp kỷ niệm 30 năm các sự kiện lớn ấy cũng không một mẩu tin, một dòng thơ tưởng niệm các liệt sĩ trên báo Văn Nghệ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc tác phẩm của đồng nghiệp mình bị cấm, bị nghiền? Các anh chị là chủ tịch, phó chủ tịch, là ủy viên Ban chấp hành Hội, vậy thì Hội ta có còn là Hội yêu nước không, có còn là Hội yêu dân không, có còn là Hội yêu tự do không? Câu trả lời của tôi là: Hội ta đã là và vẫn luôn luôn là Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, nhưng các anh các chị thì thực chất đã không đại diện cho lòng yêu dân yêu nước yêu tự do của toàn thể hội viên, mà chỉ là những công chức hành chính thực thi mệnh lệnh của một thế lực sợ sự thật dùng bạo quyền bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tự do ngôn luận của các nhà văn trung thực. Tuy vậy, tôi tin rằng về mặt cá nhân, các anh chị vẫn luôn là nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do như tất cả mọi hội viên, nhưng về mặt tổ chức, khi ngồi vào chiếc ghế chức quyền thì các anh chị lại phải tự hủy cái tư cách yêu dân yêu nước yêu tự do ấy đi.Nếu không tự hủy thì tại sao lại im lặng?

 

Vậy là chúng ta thấy hiện ra một sự thật hết sức đau lòng: từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc trước 1945 đến Hội nhà văn hiện nay là một quá trình thoái hóa khủng khiếp về tổ chức, càng phát triển số lượng thì chất lượng càng đi xuống thảm hại; sự thoái hóa về tổ chức làm thoái hóa con người, những nhà văn cách mạng tiêu biểu nhất như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…cuối đời cũng phải tự buộc mình trải lòng lên trang giấy thổ lộ phần nào sự tha hóa của bản thân; Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay”: “Người tôi còn nhiều bùn tanh/Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/Nhiều dây nhợ tự buộc mình" (đã in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi trước khi ông mất ít tháng, NXB Văn Học, 2001). Đau xót quá. Những tài năng trác việt, những tâm hồn trong sáng, những trí tuệ sắc sảo từ tuổi thanh xuân phơi phới đi vào Cách mạng để xây dựng “Một nền văn hóa mới” với một đội ngũ những nhà văn kiểu mới, Nhà văn – Chiến sĩ, lại tha hóa thành những con người như thế, là một thất bại lớn về văn hóa, về xây dựng Hội phải không các anh, chị? Đã đành con người ta không ai toàn vẹn cả, nhưng vấn đề ở đây là sự thoái hóa của tổ chức làm thoái hóa con người, từ tổ chức của các nhà văn - chiến sĩ thành tổ chức của các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức với phần khá đông là các nhà văn yêu thẻ và số ít các nhà văn yêu ghế, số yêu ghế dựa vào số yêu thẻ để giữ ghế và xin tiền nhà nước; tức tiền thuế của dân bồi dưỡng để các nhà văn nâng cao sức chiến đấu cho Tự do nhưng lại biến thành thứ bổng lộc ban phát nhằm đổi lấy sự im lặng trước những sự thật mà cái thế lực sợ sự thật trong giới cầm quyền muốn bưng bít.Chúng ta không thể để kéo dài mãi kiểu tổ chức như thế này nữa. Lâu nay có không ít hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định theo đuổi con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập, cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt.Đấy là một cách lựa chọn, nhưng cách này có một cái gay là tự mình làm ngơ trước tình trạng gương mặt tử tế của mình bị một số quan chức văn chương mượn làm bình phong, làm mặt nạ để thực hiện các mưu đồ vị kỷ của họ.

Rõ ràng Hội ta đang đứng trước một yêu cầu bức bách là phải đổi mới căn bản về tổ chức.Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội dung hàng đầu trong nghị trình đại hội 8 của Hội ta. Xin mạn phép nêu ra một gợi ý đổi mới, trước hết là xác định lại tính chất của Hội như sau:

 

Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do.Các nhà văn trong Hội - là những cá nhân với tư duy độc lập tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và công chúng về tư tưởng và ngôn luận của mình - tự nguyện tập hợp để giúp nhau phấn đấu tạo nên những tác phẩm giá trị nhất trong khả năng mình có, và bảo vệ, bênh vực, cưu mang nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn vì ngòi bút.Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi, tự quản đồng thời hoan nghênh sự hỗ trợ vô tư công khai minh bạch không điều kiện của Nhà nước và công chúng.

 

(Tiếp theo dưới đây là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đai hội)

Hội Nhà văn của chúng ta bấy lâu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.Nay nếu chúng ta chuyển thành tổ chức xã hội nghề nghệp, không để là tổ chức chính trị nữa thì có mấy cái lợi cho sự phát triển chung:

 

Thứ nhất, với nhiệm vụ chống thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh, với tư cách là tổ chức xã hội nghệ nghiệp, một tổ chức bình thường trong xã hội dân sự của các nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, chúng ta hoàn toàn chủ động bày tỏ lòng yêu nước mà không ảnh hưởng gì đến ứng xử đối ngoại lúc mềm dẻo lúc cứng rắn của nhà nước.

 

Thứ hai, khi chúng ta không phải là tổ chức chính trị, chúng ta mới thực sự chủ động thực hiện được chủ trương tôn trọng các chính kiến, các ý kiến khác biệt, thực sự mở rộng mặt trận văn hóa văn nghệ của tất cả mọi nhà văn Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, vì tự do của mỗi con người Việt Nam, vì sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới.

 

Thứ ba, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở đây được xác định rành mạch là tổ chức của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do, các nhà văn thuộc hội này không đặt hội mình là tổ chức chính trị nhưng cái phẩm chất chính trị KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT trong con người từng nhà văn thì không những không mảy may bị xói mòn, mai một (như thường thấy ở các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức), mà ngày càng vững vàng hơn, tích cực hơn, chủ động hơn, bởi đó là phẩm chất chính trị quyện chặt với lý tưởng xã hội lý tưởng thẩm mỹ từ trong máu thịt được thử thách cả một đời.

 

Hội sẽ hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản.Đây chính là chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng đề ra từ đại hội 6.Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể, nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc tự quản của các đoàn thể.Khi chuyển sang Hội tự nuôi tự quản, chúng ta sẽ đỡ cho nhà nước một khoản chi phí lấy từ tiền thuế của dân tính cả trụ sở phương tiện là rất lớn.Nếu Hội không chuyển sang hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản mà cứ tiếp tục là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước như cũ thì nên tách Hội ra làm hai, một hội là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước, một hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản…

(Nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng vụ văn học ban Tuyên giáo trung ương từ dưới hàng ghế đầu nói chen một cách thân tình: “Tự nuôi thì chết đói ông Quốc ạ”)

 

Không chết đói được đâu ông Cuông ơi, mà chết đói tôi cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là tôi được như ông Nguyễn Hiến Lê ở Sài Gòn trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản tự đem bán, chi phí thấp thu nhập cao, ông Đốt-xtôi-ép-xki ở Nga dưới chế độ Sa Hoàng cực kỳ hà khắc đi tù về vẫn được ra báo, mở nhà xuất bản, ông viết và in ngay những chuyện đã trải trong tù. Nghị quyết 23 ghi rõ đảm bảo tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, vậy đảm bảo bằng cách nào nếu không phải là thực hiện nguyên tắc tự do sáng tác gắn liền với tự do công bố (nếu không thì chỉ là tự do sáng tác cất vào ngăn kéo à?), tôi đòi tôi phải được như bà con nông dân làm ra cân thóc được tự do đem bán, nếu thóc có chứa độc tố thì phải ra tòa, tôi cũng đòi được tự xuất bản quyển sách mình viết ra và tự đem bán, nếu sách tôi có độc tố thì tôi ra tòa, nếu sách tôi được nhiều người mua thì tôi sống khỏe, đủ để nuôi mình và góp phần nuôi Hội, nếu sách tôi bị người đọc vứt vào sọt rác thì tôi cũng cam chịu.Nhưng tôi tin rằng trong số hơn 900 hội viên của Hội ta hiên nay, ít nhất cũng có 100 nhà văn thích chọn mô hình Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản, trụ sở Hội chỉ cần 1 ngôi nhà nhỏ, hội viên góp tiền nhau mà thuê hoặc hội viên nào có nhà rộng thì cho Hội mượn.Vâng, nếu thực sự vì dân vì nước thì hãy làm như thế đi, hai Hội nhà văn, một Hội xin tiền nhà nước, một Hội tự nuôi tự quản, hai Hội đối sánh xem Hội nào có thành tựu văn học cao mà chi phí thấp thì tự thân Hội đó có sức sống và phát triển, đây chính là con đường xây dựng phát triển Hội hợp quy luật.

 

Ý kiến tôi hôm nay có thể chỉ là nói lên tiếng nói của thiểu số nhưng tôi tin chắc rằng nhất định sẽ được nhân dân hoan nghênh và đồng nghiệp đồng tình ngày càng rộng rãi.

(Vào cuối phiên thảo luận buổi sáng, nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội lên diễn đàn có ý kiến lại với nhà thơ hội viên Bùi Minh Quốc, rồi nhà thơ Bùi Minh Quốc lại lên diễn đàn đáp lại các “ý kiến lại” của chủ tịch Hữu Thỉnh.Tôi, Bùi Minh Quốc, xin văn bản hóa phần trao đổi ý kiến qua lại này thành cuộc đối thoại theo từng vấn đề như sau):

 

HỮU THỈNH: Về việc lên tiếng về Hoàng Sa Trường Sa, tôi đã nghe anh Quốc nói nhiều lần, tôi cũng đã báo cáo cấp trên nhưng cấp trên bảo Hội nhà văn không được lên tiếng.

 

BÙI MINH QUỐC: À, ra thế…

 

HỮU THỈNH: Cái vụ “Chuyện kể năm 2000”, tôi là người bênh vực anh Bùi Ngọc Tấn, nghe tin tôi vội chạy lên thì người ta đã ký lệnh nghiền mất rồi, tôi xuống ngay Hải Phòng gặp anh Tấn, anh Tấn bảo cho tớ đi thăm Trung Quốc, tôi giải quyết ngay mặc dù về thủ tục rất khó vì danh sách đoàn đi đã xong xuôi rồi chỉ còn 6 ngày nữa là đi, nhưng tôi đã cố gắng giải quyết tốt. Cũng như với anh Hữu Loan, anh ấy có bị giam lỏng đâu, anh ấy tự ý bỏ biên chế về quê đấy chứ, thế nhưng anh Quốc không biết chứ, tôi và anh Nguyễn Hoa đã phải cố gắng như thế nào để làm lương cho anh Hữu Loan, lương chuyên viên đấy, kết quả là anh ấy được truy lĩnh lớn đấy, rồi việc giải thưởng nhà nước, chính tôi đã đề nghị anh Hữu Loan phải được trao giải cùng với các anh Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán nhưng giải này phải chủ tịch nước ký, ở trên có người nhất định không đồng ý trao giải cho anh Hữu Loan. Cũng như đối với anh Bùi Minh Quốc, khi in kỷ yếu Hội nhà văn, nhiều người, có cả những ủy viên trung ương yêu cầu phải gạch tên Bùi Minh Quốc, Trần Độ, tôi không chịu, sách đã in rồi, anh em bảo lấy giấy dán chỗ ấy lại, tôi bảo cứ để nguyên. Cũng như cái việc anh Quốc bị quản chế, vì những lý do ngoài văn chương, tôi đã xin cho anh giảm được thời hạn mấy chục ngày, anh có biết đâu, nói chung là anh Quốc thiếu thông tin…

 

BÙI MINH QUỐC: Đúng là tôi thiếu thông tin về các việc ấy vì các anh có thông tin cho tôi đâu, nhưng điều quan trọng nhất, việc quản chế tôi là phi lý, giảm được có 19 ngày, mà cũng vì sắp Tết rồi, hết hạn đúng ngày mùng 1 Tết, tôi đã sẵn sàng chấp nhận đúng ngày mùng 1 Tết lên phường làm thủ tục kết thúc quản chế kia mà, vấn đề tôi yêu cầu là Ban chấp hành Hội phải thực hiện trách nhiệm của mình, phải xông vào tìm hiểu đầu đuôi vì sao tôi bị quản chế, việc này đúng hay sai và Hội phải có tiếng nói.

 

HỮU THỈNH: Anh Bùi Minh Quốc góp ý thì cứ góp ý nhưng sao lại nặng lời xúc phạm nhau, anh bảo chúng tôi mạo danh hội viên để mưu đồ vị kỷ theo lệnh của một thế lực nào đó, làm gì có thế lực nào, chúng tôi là do hội viên bầu lên, chúng tôi làm việc theo chính danh sao lại bảo là chúng tôi mạo danh mưu đồ vị kỷ, anh Quốc không được xúc phạm chúng tôi như thế.

 

BÙI MINH QUỐC: Anh Thỉnh nên đọc kỹ lại câu tôi viết trong bài phát biểu tôi vừa trao cho thư ký đoàn đại hội, đây là tôi nói về việc có tình hình nhiều hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập cảm thấy chán Hội muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt, đấy, ra khỏi Hội mà không tuyên bố công khai dứt khoát , chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt Hội thì tất nhiên các quan chức làm việc Hội nhân danh Hội là nhân danh cả những hội viên bỏ sinh hoạt một cách lặng lẽ đó, và lấy gì đảm bảo trong các quan chức ấy không có người nào không mưu đồ vị kỷ, bản kiểm điểm của Ban chấp hành chẳng đã nêu có ủy viên Ban chấp hành mấy năm không làm việc Hội đó sao, vậy tôi nói thế thì có gì là xúc phạm?

 

HỮU THỈNH: Anh Bùi Minh Quốc từng tham gia chiến đấu thì tôi cũng có quá trình chiến đấu vào sinh ra tử, mà anh Quốc lại cứ cố ý ráo riết đòi bỏ cái tổ chức chính trị, sao lại bỏ chính trị đi, chính trị của chúng ta là chính trị yêu thương con người, anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta…

 

BÙI MINH QUỐC: Chính trị yêu thương con người thì trước hết phải yêu thương những người bị áp bức, yêu thương các ngư dân của ta, và với các nhà văn chiến sĩ yêu thương con người thì trước hết phải chiến đấu cho tự do, tự do là giá trị cao quý nhất của mỗi con người.

Tôi yêu cầu các ý kiến của anh Hữu Thỉnh và của tôi phải đăng lên báo Văn Nghệ để chúng ta cùng tiếp tục thảo luận, các ý kiến của chúng ta chẳng có gì là bí mật cả, nên tôi yêu cầu báo Văn Nghệ có trách nhiệm phải đăng.

 

MẤY GHI CHÚ CỦA BÙI MINH QUỐC

1/ - Tôi hỏi nhà văn Lê Văn Thảo phó chủ tịch Hội:
- Tại sao trong các dự thảo văn kiện phát cho hội viên trong đại hội này không có báo cáo tài chính và báo cáo của Ban kiểm tra?

Phó chủ tịch Lê Văn Thảo trả lời:

- Các văn kiện đó đến đại hội toàn thể toàn quốc sẽ phát hành như văn kiện chính thức, còn tại đại hội khu vực bây giờ chỉ phát hành các văn kiện dự thảo thôi.

Tôi nói:

- Hội viên rất cần nghiên cứu trước các báo cáo đó để tìm hiểu và chuẩn bị ý kiến đóng góp, phản biện.


Tài chính của Hội và việc bênh vực hội viên lâm nạn vì ngòi bút là các vấn đề rất quan trọng mà hội viên quan tâm, thế nhưng trong các đại hội trước đây thường báo cáo sơ sài và ít được thảo luận kỹ.Năm ngoái tôi đã được đọc trên mạng thư ngỏ và bài viết của các nhà văn Vũ Đức Phúc, Đào Thái Tôn nêu nghi vấn về tài chính thiếu minh bạch của Trung tâm Quốc học liên quan đến trách nhiệm của giám đốc Mai Quốc Liên và chủ tịch Hữu Thỉnh, mong rằng các nghi vấn đó sẽ được làm rõ đến nơi đến chốn trong đại hội khu vực Hà Nội và đại hội toàn thể toàn quốc.Chủ tịch Hữu Thỉnh trong phát biểu tóm tắt về nội dung báo cáo đã kể về nỗi vất vả công phu của ông khi làm việc với các cơ quan hữu trách để xin tiền cho Hội, nhấn khá mạnh mối liên hệ giữa việc xác định Hội là tổ chức chính trị với số tiền được nhà nước cấp, phải là tổ chức chính trị mới được cấp nhiều tiền, triển vọng sắp tới sẽ được cấp nhiều hơn.Tôi nghĩ khi ông bảo tôi rằng anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta, chắc là hàm ý: anh đòi bỏ mấy chữ “tổ chức chính trị” là anh không yêu thương hội viên, bởi vì không còn là tổ chức chính trị nữa thì số tiền được cấp sẽ chẳng là bao.Nếu đúng vậy thì chắc số anh chị em hội viên không ưa tôi sẽ tăng lên ghê lắm, tôi đành chịu, nhưng tôi hy vọng sẽ được bù đắp lại bằng tình yêu thương của những người đóng thuế.

Đà Lạt 20.06.2010
BMQ

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Nhà văn: Tự do, Độc lập và Sự lên tiếng nói

Bùi Minh Quốc – Tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ?…*

Sau đây là trích đoạn bài phát biểu của nhà thơ Bùi Minh Quốc tại đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL.

Cần dứt khoát đổi mới Hội

Hội nhà văn Việt Nam của chúng ta thoát thai từ Hội Văn hóa Cứu quốc do Đảng chỉ đạo hình thành trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là tổ chức của những chiến sĩ văn hóa chiến đấu để xây dựng một nền văn hóa mới.Tháng 6 năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ viết bản báo cáo mang tên “Một nền văn hóa mới” trong đó có đoạn hừng hực hào khí của một dân tộc nô lệ vùng lên giành lấy độc lập và tự do như sau:“Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” ( “Một nền văn hoá mới”- Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản năm 1945). Các quyền thiêng liêng ấy -  tự do tư tưởng và tự do ngôn luận – đã lập tức được hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và vẫn duy trì tại Hiến pháp hiện hành.

Nhiều năm qua, các quyền thiêng liêng ấy chỉ tồn tại trên giấy. Đã có biết bao tác phẩm giá trị bị cấm, bị nghiền, biết bao nhà văn phải chịu khổ nạn chỉ vì kiên quyết thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn. Bởi vì có một thế lực sợ sự thật trong tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước đã dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để dập vùi đầy đọa những nhà văn trung thực trung kiên nói tiếng nói của sự thật của lẽ phải.

Vụ cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị cho vào máy nghiền là một bằng chứng điển hình khiến tất cả những ai có lương tri không thể không đau lòng và phẫn nộ.Ấy vậy mà Hội nhà văn của chúng ta, Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do lại im lặng trước hành vi man rợ đó.Thật phi lý. Sự im lặng này thật phi lý.Và thật xấu hổ, thật nhục nhã.

Nếu bây giờ tôi hỏi anh Hữu Thỉnh : anh có phải là một nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do không, chắc chắn anh sẽ trả lời : tôi luôn luôn là một nhà văn như thế.Và vẫn câu hỏi này, tôi đưa ra hỏi anh Lê Văn Thảo, anh Nguyễn Trí Huân, anh Hồ Anh Thái, anh Trần Đăng Khoa, chị Phan Thị Vàng Anh , thì chắc chắn cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự.Vậy tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc các công trình nghiên cứu, sáng tác về cải cách ruộng đất, về cuộc chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn-pốt trên biên giới tây nam, trên đất Cam-pu-chia và giặc bành trướng trên biên giới phía bắc, trên biển Đông không được xuất bản và tái bản, thậm chí trong dịp kỷ niệm 30 năm các sự kiện lớn ấy cũng không một mẩu tin, một dòng thơ tưởng niệm các liệt sĩ trên báo Văn Nghệ ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc tác phẩm của đồng nghiệp mình bị cấm, bị nghiền ? Các anh chị là chủ tịch, phó chủ tịch, là ủy viên Ban chấp hành Hội, vậy thì Hội ta có còn là Hội yêu nước không, có còn là Hội yêu dân không, có còn là Hội yêu tự do không ? Câu trả lời của tôi là : Hội ta đã là và vẫn luôn luôn là Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, nhưng các anh các chị thì thực chất đã không đại diện cho lòng yêu dân yêu nước yêu tự do của toàn thể hội viên, mà chỉ là những công chức hành chính thực thi mệnh lệnh của một thế lực sợ sự thật dùng bạo quyền bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tự do ngôn luận của các nhà văn trung thực. Tuy vậy, tôi tin rằng về mặt cá nhân, các anh chị vẫn luôn là nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do như tất cả mọi hội viên, nhưng về mặt tổ chức, khi ngồi vào chiếc ghế chức quyền thì các anh chị lại phải tự hủy cái tư cách yêu dân yêu nước yêu tự do ấy đi. Nếu không tự hủy thì tại sao lại im lặng ?

Vậy là chúng ta thấy hiện ra một sự thật hết sức đau lòng : từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc trước 1945 đến Hội nhà văn hiện nay là một quá trình thoái hóa khủng khiếp về tổ chức, càng phát triển số lượng thì chất lượng càng đi xuống thảm hại; sự thoái hóa về tổ chức làm thoái hóa con người, những nhà văn cách mạng tiêu biểu nhất như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…cuối đời cũng phải tự buộc mình trải lòng lên trang giấy thổ lộ phần nào sự tha hóa của bản thân;  Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất” , Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay” : “Người tôi còn nhiều bùn tanh/Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/Nhiều dây nhợ tự buộc mình(đã in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi trước khi ông mất ít tháng, NXB Văn Học, 2001). Đau xót quá. Những tài năng trác việt, những tâm hồn trong sáng, những trí tuệ sắc sảo từ tuổi thanh xuân phơi phới đi vào Cách mạng để xây dựng “Một nền văn hóa mới” với một đội ngũ những nhà văn kiểu mới, Nhà văn – Chiến sĩ, lại tha hóa thành những con người như thế, là một thất bại lớn về văn hóa, về xây dựng Hội phải không các anh, chị ? Đã đành con người ta không ai toàn vẹn cả, nhưng vấn đề ở đây là sự thoái hóa của tổ chức làm thoái hóa con người, từ tổ chức của các nhà văn – chiến sĩ thành tổ chức của các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức với phần khá đông là các nhà văn yêu thẻ và số ít các nhà văn yêu ghế, số yêu ghế dựa vào số yêu thẻ để giữ ghế và xin tiền nhà nước ; tức tiền thuế của dân bồi dưỡng để các nhà văn nâng cao sức chiến đấu cho Tự do nhưng lại biến thành thứ bổng lộc ban phát nhằm  đổi lấy sự im lặng trước những sự thật mà cái thế lực sợ sự thật trong giới cầm quyền muốn bưng bít.Chúng ta không thể để kéo dài mãi kiểu tổ chức như thế này nữa. Lâu nay có không ít hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định theo đuổi con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập, cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt.Đấy là một cách lựa chọn, nhưng cách này có một cái gay là tự mình làm ngơ trước tình trạng gương mặt tử tế của mình bị một số quan chức văn chương mượn làm bình phong, làm mặt nạ để thực hiện các mưu đồ vị kỷ của họ.

Rõ ràng Hội ta đang đứng trước một yêu cầu bức bách là phải đổi mới căn bản về tổ chức.Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội dung hàng đầu trong nghị trình đại hội 8 của Hội ta.Xin mạn phép nêu ra một gợi ý đổi mới, trước hết là xác định lại tính chất của Hội như sau :

Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do.Các nhà văn trong Hội – là những cá nhân với tư duy độc lập tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và công chúng về tư tưởng và ngôn luận của mình -  tự nguyện tập hợp để giúp nhau phấn đấu tạo nên những tác phẩm giá trị nhất trong khả năng mình có, và bảo vệ, bênh vực, cưu mang nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn vì ngòi bút.Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi, tự quản đồng thời hoan nghênh sự hỗ trợ vô tư công khai minh bạch không điều kiện của Nhà nước và công chúng.

(Tiếp theo dưới đây là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đai hội)

Hội Nhà văn của chúng ta bấy lâu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.Nay nếu chúng ta chuyển thành tổ chức xã hội nghề nghiệp, không để là tổ chức chính trị nữa thì có mấy cái lợi cho sự phát triển chung :

Thứ nhất, với nhiệm vụ chống thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh, với tư cách là tổ chức xã hội nghệ nghiệp, một tổ chức bình thường trong xã hội dân sự của các nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, chúng ta hoàn toàn chủ động bày tỏ lòng yêu nước mà không ảnh hưởng gì đến ứng xử đối ngoại lúc mềm dẻo lúc cứng rắn của nhà nước.

Thứ hai, khi chúng ta không phải là tổ chức chính trị, chúng ta mới thực sự chủ động thực hiện được chủ trương tôn trọng các chính kiến, các ý kiến khác biệt, thực sự mở rộng mặt trận văn hóa văn nghệ của tất cả mọi nhà văn Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, vì tự do của mỗi con người Việt Nam, vì sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới.

Thứ ba, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở đây được xác định rành mạch là tổ chức của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do, các nhà văn thuộc hội này không đặt hội mình là tổ chức chính trị nhưng cái phẩm chất chính trị KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT trong con người từng nhà văn thì không những không mảy may bị xói mòn, mai một (như thường thấy ở các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức), mà ngày càng vững vàng hơn, tích cực hơn, chủ động hơn, bởi đó là phẩm chất chính trị quyện chặt với lý tưởng xã hội lý tưởng thẩm mỹ từ trong máu thịt được thử thách cả một đời.

Hội sẽ hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản. Đây chính là chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng đề ra từ đại hội 6.Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể, nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc tự quản của các đoàn thể.Khi chuyển sang Hội tự nuôi tự quản, chúng ta sẽ đỡ cho nhà nước một khoản chi phí lấy từ tiền thuế của dân tính cả trụ sở phương tiện là rất lớn. Nếu Hội không chuyển sang hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản mà cứ tiếp tục là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước như cũ thì nên tách Hội ra làm hai, một hội là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước, một hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản…

(Nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng vụ văn học ban Tuyên giáo trung ương từ dưới hàng ghế đầu nói chen một cách thân tình : “Tự nuôi thì chết đói ông Quốc ạ”). Không chết đói được đâu ông Cuông ơi, mà chết đói tôi cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là tôi được như ông Nguyễn Hiến Lê ở Sài Gòn trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản tự đem bán, chi phí thấp thu nhập cao, ông Đốt-xtôi-ép-xki ở Nga dưới chế độ Sa Hoàng cực kỳ hà khắc đi tù về vẫn được ra báo, mở nhà xuất bản, ông viết và in ngay những chuyện đã trải      trong tù. Nghị quyết 23 ghi rõ đảm bảo tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, vậy đảm bảo bằng cách nào nếu không phải là thực hiện nguyên tắc tự do sáng tác gắn liền với tự do công bố (nếu không thì chỉ là tự do sáng tác cất vào ngăn kéo à ?), tôi đòi tôi phải được như bà con nông dân làm ra cân thóc được tự do đem bán, nếu thóc có chứa độc tố thì phải ra tòa, tôi cũng đòi được tự xuất bản quyển sách mình viết ra và tự đem bán, nếu sách tôi có độc tố thì tôi ra tòa, nếu sách tôi được nhiều người mua thì tôi sống khỏe, đủ để nuôi mình và góp phần nuôi Hội, nếu sách tôi bị người đọc vứt vào sọt rác thì tôi cũng cam chịu. Nhưng tôi tin rằng trong số hơn 900 hội viên của Hội ta hiên nay, ít nhất cũng có 100 nhà văn thích chọn mô hình Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản, trụ sở Hội chỉ cần 1 ngôi nhà nhỏ, hội viên góp tiền nhau mà thuê hoặc hội viên nào có nhà rộng thì cho Hội mượn. Vâng, nếu thực sự vì dân vì nước thì hãy làm như thế đi, hai Hội nhà văn, một Hội xin tiền nhà nước, một Hội tự nuôi tự quản, hai Hội đối sánh xem Hội nào có thành tựu văn học cao mà chi phí thấp thì tự thân Hội đó có sức sống và phát triển, đây chính là con đường xây dựng phát triển Hội hợp quy luật.

Ý kiến tôi hôm nay có thể chỉ là nói lên tiếng nói của thiểu số nhưng tôi tin chắc rằng nhất định sẽ được nhân dân hoan nghênh và đồng nghiệp đồng tình ngày càng rộng rãi.

(Vào cuối phiên thảo luận buổi sáng, nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội lên diễn đàn có ý kiến lại với nhà thơ hội viên Bùi Minh Quốc, rồi nhà thơ Bùi Minh Quốc lại lên diễn đàn đáp lại các “ý kiến lại” của chủ tịch Hữu Thỉnh.Tôi, Bùi Minh Quốc, xin văn bản hóa phần trao đổi ý kiến qua lại này thành cuộc đối thoại theo từng vấn đề như sau) :

HỮU THỈNH : Về việc lên tiếng về Hoàng Sa Trường Sa, tôi đã nghe anh Quốc nói nhiều lần, tôi cũng đã báo cáo cấp trên nhưng cấp trên bảo Hội Nhà văn không lên tiếng.

BÙI MINH QUỐC : À, ra thế…

HỮU THỈNH : Cái vụ “Chuyện kể năm 2000”, tôi là người bênh vực anh Bùi Ngọc Tấn, nghe tin tôi vội chạy lên thì người ta đã ký lệnh nghiền mất rồi, tôi xuống ngay Hải Phòng gặp anh Tấn, anh Tấn đề nghị để tớ đi thăm Trung Quốc, tôi ủng hộ ngay mặc dù về thủ tục rất khó vì danh sách đoàn đi đã xong xuôi rồi chỉ còn 6 ngày nữa là đi, nhưng tôi đã cố gắng giải quyết tốt.

Cũng như với anh Hữu Loan, anh ấy có bị giam lỏng đâu, anh ấy tự ý bỏ biên chế về quê đấy chứ, thế nhưng anh Quốc không biết chứ, tôi và anh Nguyễn Hoa đã phải cố gắng như thế nào để làm lương cho anh Hữu Loan, lương chuyên viên đấy, kết quả là anh ấy được truy lĩnh lớn đấy.

Rồi việc giải thưởng nhà nước, chính tôi đã đề nghị anh Hữu Loan phải được trao giải cùng với các anh Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán nhưng giải này phải Chủ tịch nước ký, ở trên có người nhất định không đồng ý trao giải cho anh Hữu Loan.

Cũng như đối với anh Bùi Minh Quốc, khi in kỷ yếu Hội Nhà văn, nhiều người, có cả những ủy viên trung ương yêu cầu phải gạch tên Bùi Minh Quốc, Trần Độ, tôi không chịu, sách đã in rồi, anh em bảo lấy giấy dán chỗ ấy lại, tôi bảo cứ để nguyên.

Cũng như cái việc anh Quốc bị quản chế, vì những lý do ngoài văn chương, tôi đã xin cho anh giảm được thời hạn mấy chục ngày, anh có biết đâu, nói chung là anh Quốc thiếu thông tin…

BÙI MINH QUỐC : Đúng là tôi thiếu thông tin về các việc ấy vì các anh có thông tin cho tôi đâu, nhưng điều quan trọng nhất, việc quản chế tôi là phi lý, giảm được có 19 ngày, mà cũng vì sắp Tết rồi, hết hạn đúng ngày mùng 1 Tết, tôi đã sẵn sàng chấp nhận đúng ngày mùng 1 Tết lên phường làm thủ tục kết thúc quản chế kia mà. Vấn đề tôi yêu cầu là Ban chấp hành Hội phải thực hiện trách nhiệm của mình, phải xông vào tìm hiểu đầu đuôi vì sao tôi bị quản chế, việc này đúng hay sai và Hội phải có tiếng nói.

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc góp ý thì cứ góp ý nhưng sao lại nặng lời xúc phạm nhau, anh bảo chúng tôi mạo danh hội viên để mưu đồ vị kỷ theo lệnh của một thế lực nào đó, làm gì có thế lực nào, chúng tôi là do hội viên bầu lên, chúng tôi làm việc theo chính danh sao lại bảo là chúng tôi mạo danh mưu đồ vị kỷ, anh Quốc không được xúc phạm chúng tôi như thế.

BÙI MINH QUỐC : Anh Thỉnh nên đọc kỹ lại câu tôi viết trong bài phát biểu tôi vừa trao cho thư ký đoàn đại hội, đây là tôi nói về việc có tình hình nhiều hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội. Họ ra bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt, đấy, ra khỏi Hội mà không tuyên bố công khai dứt khoát. Họ chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt Hội thì tất nhiên các quan chức làm việc Hội nhân danh Hội là nhân danh cả những hội viên bỏ sinh hoạt một cách lặng lẽ đó, và lấy gì đảm bảo trong các quan chức ấy không có người nào không mưu đồ vị kỷ, bản kiểm điểm của Ban chấp hành chẳng đã nêu có ủy viên Ban chấp hành mấy năm không làm việc Hội đó sao, vậy tôi nói thế thì có gì là xúc phạm ?

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc từng tham gia chiến đấu thì tôi cũng có quá trình chiến đấu vào sinh ra tử, mà anh Quốc lại cứ cố ý ráo riết đòi bỏ cái tổ chức chính trị, sao lại bỏ chính trị đi, chính trị của chúng ta là chính trị yêu thương con người, anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta…

BÙI MINH QUỐC : Chính trị yêu thương con người thì trước hết phải yêu thương những người bị áp bức, yêu thương các ngư dân của ta, và với các nhà văn chiến sĩ yêu thương con người thì trước hết phải chiến đấu cho tự do, tự do là giá trị cao quý nhất của mỗi con người.

Tôi yêu cầu các ý kiến của anh Hữu Thỉnh và của tôi phải đăng lên báo Văn Nghệ để chúng ta cùng tiếp tục thảo luận, các ý kiến của chúng ta chẳng có gì là bí mật cả, nên tôi yêu cầu báo Văn Nghệ có trách nhiệm phải đăng.

Bùi Minh Quốc

Đà Lạt 20.06.2010

(Đã gửi báo Văn Nghệ, báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam, báo điện tử Văn Nghệ Sông Cửu Long, đang chờ đăng)

http://www.trannhuong.com/news_detail/5186/C%E1%BA%A6N-D%E1%BB%A8T-KHO%C3%81T-%C4%90%E1%BB%94I-M%E1%BB%9AI-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-H%E1%BB%98I

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

GS CHU HẢO SUY NGHĨ VỀ TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM

I. Trí thức và tầng lớp trí thức

Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng “thế nào là một trí thức?” thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận rất nghiêm túc và lý thú, có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển. Để đi đến đồng thuận chắc cần phải có thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ xin đặt vấn đề và gợi mở, mong các bạn đọc cùng chia sẻ.

Ai là trí thức? Đã từ lâu, ở nước ta tồn tại một khái niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức, chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” viết năm 1947 Hồ Chủ tịch đã dùng định nghĩa này. Theo chỗ tôi hiểu thì Người đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách hết sức đơn giản, dễ hiểu, thích hợp với trình độ dân trí của nước ta thời đó. Ngày nay, chúng ta không nên quá câu nệ vào việc giữ nguyên định nghĩa này của Bác Hồ.

Thật ra ngay từ khi từ “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, và sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau công xã Paris (1871), đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng: đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người: “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” là những bất cập của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn.

Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau: 1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Trong đó, hai điểm đầu tiên là chung cho những người lao động trí óc. Còn hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng lớp trí thức.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!

Cái cơ hội “đổi đời” dường như duy nhất ấy đã tạo ra, một mặt là cái mà chúng ta vẫn thường tự ca ngợi là truyền thống hiếu học của dân ta, mặt khác, quan trọng hơn đã tạo nên sự lệ thuộc đến nô dịch của những người “có học” vào Nhà nước phong kiến. Và do đó, có thể nói rằng dưới các triều đại phong kiến ở nước ta chưa bao giờ tồn tại một tầng lớp trí thức theo cách hiểu đúng đắn của từ này. Các sĩ phu là những người “có học” có danh tiếng của các thời đại phong kiến, do vậy hầu hết cũng chỉ là các “quan văn” mang sứ mệnh “phò chính thống” mà thôi - họ không hẳn là người trí thức, hoặc tầng lớp trí thức, như cách hiểu thông thường.

Đến giữa thế kỷ 19 cùng với sự suy đồi của triều Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh công nghiệp phương tây, tầng lớp Nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc và xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến bộ có đầu óc canh tân - tiền thân của nhóm trí thức đầu tiên của nước ta nửa đầu thế kỷ 20. Những nhân vật điển hình có thể kể đến là Vũ Tông Phan (1800 - 1851, cùng với Hội Hướng thiện); Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871); Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895); Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890); Phạm Phú Thứ (1820 - 1883) v.v... Đó chính là những sĩ phu có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dù là theo đường lối bạo lực, như các phong trào Cần Vương (Phan Đình Phùng, 1844 - 1895), và Đông Du (Phan Bội Châu, 1867 - 1940); hay chủ trương tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa - giáo dục như phong trào Duy Tân (Phan Châu Trinh, 1872 - 1920), và Đông Kinh nghĩa thục (Lương Văn Can, 1854 - 1927).

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự tàn lụi của chế độ phong kiến và sự thiết lập chế độ của thực dân, ảnh hưởng của tư tưởng Dân chủ tư sản và khoa học - kỹ thuật phương tây đã tràn vào xã hội Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Hoa. Trong bối cảnh đó phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục đã quy tụ được một tầng lớp sĩ phu trí thức bao gồm các nho sĩ cách tân (Huỳnh Thúc Kháng, 1876 - 1947; Trần Quý Cáp, 1870 - 1908; Đào Nguyên Phổ, 1861 - 1907 v.v...), và các trí thức mới dùng quốc ngữ và tiếng Pháp (Trương Vĩnh Ký, 1837 - 1898; Phan Khôi, 1887 - 1960; Nguyễn Văn Vĩnh, 1882 - 1936; Phạm Quỳnh, 1892 - 1945; Nguyễn Văn Tố, 1889 - 1947 v.v...). Đây chính là tầng lớp trí thức đầu tiên của nước ta.

Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra cho một số người điều kiện có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền, có thể sống bằng nghề lao động trí óc của mình chứ không nhất thiết phải ra “làm quan”, và tiếng nói của họ càng ngày càng có uy tín trong xã hội. Họ phần đông là người hành nghề tự do như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, nhạc sĩ, và nghệ sĩ... Những phần tử ưu tú trong số đó chính là tầng lớp trí thức mới, và nhiều người đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt động công khai. Đó là các hội, chẳng hạn Trí Tri, Khai trí Tiến đức, Truyền bá Quốc ngữ và Tự lực Văn đoàn v.v... Là các báo hoặc tạp chí, chẳng hạn Đông Dương, Nam Phong, Tiếng Dân, Tri Tân, Thanh Nghị, Khoa học v.v... Tình trạng này đã tiếp diễn cho đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được tầng lớp trí thức ấy tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ của mình. Những nhân vật tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hòe... (xuất thân từ các sĩ phu Nho học); Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên.... (xuất thân từ tầng lớp trí thức “Tây học”) đã và sẽ luôn là tấm guơng mẫu mực về phẩm tính cao quý của người tri thức.

Tiếc rằng từ đầu những năm 50 của đầu thế kỷ trước, ngay khi còn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tầng lớp trí thức của chúng ta với những nhân cách văn hoá đẹp đẽ ấy, lại rơi vào một thời kỳ phát triển đặc biệt mà chắc còn cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách nghiêm túc sự tồn tại và vai trò của họ trong xã hội. Thời kỳ phát triển đặc biệt này có thể phân kỳ thành ba giai đoạn 1945 - 1950 là thời kỳ cách mạng và kháng chiến nhưng hết sức “lãng mạn” của tầng lớp trí thức yêu nước, 1950 - 1965 là thời kỳ du nhập một cách hoàn chỉnh ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Maoist vào Việt Nam, qua các phong trào chính huấn tư tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, phê phán nhân văn gia phẩm và chống “xét lại”; 1965 - 1975 là thời chiến mọi nhu cầu tinh thần và các giá trị văn hóa đều hướng vào mục tiêu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước; 1976 - 1986 là thời kỳ quan liêu bao cấp, đặc biệt là về mặt tư tưởng; 1986 cho đến nay là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn trên đây đều có hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội khá đặc biệt đối với sinh hoạt tinh thần - tư tưởng của tầng lớp có học.

Sau giai đoạn giao thời 1945 - 1950, có lẽ tầng lớp trí thức trước cách mạng đã không tồn tại nữa. Từ năm 1950 trở đi tầng lớp có học ngày càng đông; các cá nhân trí thức thì lúc nào cũng tồn tại, có lúc hết sức hiếm hoi như giai đoạn 1950 - 1965; nhưng tầng lớp trí thức thì không tồn tại, ít nhất là cho đến trước đổi mới (1986). Từ năm 1986 đến nay tầng lớp có học có bằng cấp cao ngày càng đông nhưng phẩm tính tri thức thì chỉ thấy ở những cá nhân lẻ tẻ. Những cá nhân này ngày càng đông cùng với quá trình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt xã hội, nhưng điều kiện để cho họ tự liên kết lại thành một tầng lớp có vị trí xác định trong xã hội dân sự thì chưa đủ.

Cần phải có những nghiên cứu nghiêm chỉnh về tầng lớp “có học” từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay để có được bức tranh hoàn chỉnh về trí thức Việt Nam từ khi có độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Muốn vậy ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến động về số lượng và tính chất hoạt động của những người có học vấn nói chung, cần phải nghiên cứu hồ sơ của những trí thức tiêu biểu qua từng thời kỳ. Hồ sơ của những người như: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Nguyễn Đình Thi... cũng như của Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường... sẽ nói lên được rất nhiều điều đáng quan tâm.

Vì chưa có điều kiện tìm hiểu một cách có hệ thống nên ở đây chúng tôi đã không đề cập đến tầng lớp trí thức (hoặc “có học ”) ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975.

II. Phẩm tính “trí thức” Việt Nam

Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách chung là: Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ; Độc lập tư duy; Hoài nghi lành mạnh; và Tự do sáng tạo. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân tộc cũng có bản sắc riêng. Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã, v.v... Vậy trí thức Việt Nam có đặc điểm gì? Chúng ta đã từng nghe nói đến tính cách “phò chính thống”; và tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tuỳ thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội” hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định. Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới “trí thức” Việt Nam chính là ở chỗ này!

Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Bởi lẽ, còn có một thực tế khác nữa cần phải xem xét. Đó là tính cách uyển chuyển, kết hợp “hành” và “tàng” của sĩ phu - trí thức nước nhà. Điều kiện cho phép thì bung ra hoạt động; lúc khó khăn thì tạm ẩn dật chờ thời, có khi “tàng” ngay trong lòng cường quyền với tâm trạng “cấp lưu, dũng thoái” (trước dòng nước xiết, can đảm thoái lui). Thế nhưng ranh giới giữa thái độ đúng đắn này với cái sự hèn thật là mong manh; chỉ “tự mình, mình biết cho mình” chứ khó lòng mà phán xét từ phía ngoài. Vậy thực sự trí thức Việt Nam có phẩm tính gì?

Phẩm tính cao quý nhất của người trí thức là Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ, không bị gò bó bởi ý thức hệ, dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, không khuất phục trước uy quyền và không bị tha hóa bởi danh lợi. Nếu trong một xã hội có nhiều người có học vấn cao đồng thời có những phẩm tính như vậy lại liên kết được với nhau (chủ yếu bằng diễn đàn và giao lưu tư tưởng chứ không phải bằng các hội đoàn) thành một tầng lớp, thì đấy là một xã hội dân sự lành mạnh, có nhiều tiềm năng phát triển.

Tạm gác sang một bên khái niệm “tầng lớp trí thức” như cần được làm rõ ở mục I., chúng ta hãy xem xét tầng lớp những người “có học” trong giai đoạn hiện nay phù hợp với đối tượng điều chỉnh của NQTW7 khóa 10, mà từ những năm 60 thế kỷ trước được Đảng và Nhà nước coi là “ tầng lớp Trí thức XHCN ”. Trước Cách mạng tháng Tám, tầng lớp “có học”, như được xã hội đương thời công nhận, có thể bao gồm những người có học vấn từ trung học, thâm chí tiểu học, trở lên. Ngày nay, những người có bằng cấp từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp “trí thức ”. Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp. Lực lượng này cũng được tập hợp trong một số Hội hoặc Liên hiệp hội như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam...

Những nét đặc trưng của “ tầng lớp trí thức XHCN ” này là gì? Ngoài những đặc tính được Đảng và Nhà nước và phần nào là xã hội thừa nhận là ưu điểm, là tích cực như: Yêu Tổ quốc và CNXH; Trung thành với Đảng và Nhân dân; Cần cù, thông minh,sáng tạo; Không ngại khó khăn gian khổ... thì những tiêu cực không thể phủ nhận được là hết sức điển hình. Đó là:

1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.
2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử.
3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng.
4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha.

Tất cả những mặt tiêu cực điển hình của tầng lớp có học nói trên đều xuất phát từ một nguyên nhân chính là sự mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng, trước hết trong nội bộ Đảng, rồi từ đó trong toàn xã hội. Sự mất dân chủ này đã bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, sau chiến dịch Biên giới, khi ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn vào Việt Nam theo con đường chính thống, được một bộ phận chủ chốt của Đảng tiếp thu và áp dụng một cách rốt ráo cho đến tận trước Đại hội VI.

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, phát huy dân chủ và tự do tư tưởng đã được Đảng đề xướng (qua chủ trương “cởi trói” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và được toàn dân hân hoan đón nhận, nhất là tầng lớp “có học”, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ “được cởi trói”. Nhưng tiếc rằng chỉ ít năm sau đó không khí dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng dần dần bị loãng hẳn đi cho đến trước Đại hội 10. Khi Đảng chủ trương lấy ý kiến của quần chúng đóng góp cho văn kiện Đại hội 10, bầu không khí dân chủ lại đuợc thổi vào một luồng sinh khí mới từ nhân dân. Tiếc rằng ngay sau Đại hội 10 cho đến nay, càng ngày càng có những biểu hiện đáng lo ngại về thực chất của nền dân chủ của chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ trong việc quản lý các hoạt động báo chí và xuất bản gần đây.

Báo chí và xuất bản là mặt tiền, là thước đo của mỗi nền dân chủ. Chúng ta muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản dân chủ và công bằng. Sách và báo chí còn là vật mang, là phương tiện trường tồn của các nền văn hóa. Chúng ta muốn có một nền văn hóa tiên tiến, thấm đượm bản sắc dân tộc thì một lần nữa, trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản tiên tiến và nhân bản. Những nhiệm vụ nặng nề ấy không phải của riêng ai mà của tất cả: Nhà nước, cộng đồng người viết và cộng đồng người đọc.

III. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tầng lớp trí thức ở Việt Nam

1.Các bài học lịch sử.

Khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào đào tận gốc, trốc tận dễ”, nghe nói có từ thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng hình như không có văn bản nào chứng tỏ đó là chủ trương chính thức của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau Đại hội lần thứ 2, nói chung khẩu hiệu này đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trừ một số trường hợp được chính phủ Cụ Hồ trọng dụng, nâng đỡ ngay từ đầu hoặc có hoàn cảnh đặc biệt mà cách mạng không thể bỏ qua. Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chúng ta đã trả giá đến tận ngày nay cho thái độ kỳ thị của cách mạng đối với các tầng lớp trí thức, công thương gia và địa chủ.

Thái độ kỳ thị này cũng giống hệt như thái độ của những người cộng sản Nga từ sau Cách mạng tháng 10 đối với tầng lớp trí thức của nước họ. Ngay sau Cách mạng tháng 10, hàng ngàn gia đình trí thức Nga đã buộc phải lưu vong ra nước ngoài. Số còn lại hầu hết đã trở thành đối tượng của cách mạng và dần dần không còn tồn tại như một tầng lớp xã hội nữa: Số muốn giữ nhân cách trí thức thì bị đàn áp không những về mặt tư tưởng mà thậm chí bị tù tội ở các khu cải tạo; số khác tự đánh mất mình bằng thái độ “chùm chăn” hoặc cơ hội chính trị. Trong cuốn sách “Về trí thức Nga” (ở mục Tài liệu tham khảo) các tác giả cũng phân tích khá sâu sắc sự hình thành về phẩm chất và thái độ chính trị của tầng lớp có học (mà có người gọi là “trí thức nửa mùa”) trong suốt thời kỳ Xô Viết cũ. Họ chỉ ra rằng nhà nước Xô Viết cũ đã thực hiện chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” để không còn tồn tại tầng lớp tinh hoa - tầng lớp trí thức không đáng tin cậy dưới con mắt của tầng lớp lãnh đạo. Một số nhỏ cá nhân trí thức tiêu biểu đã chỉ được sử dụng như những bông hoa làm cảnh cho chế độ mà thôi!

Tình trạng này không khác mấy so với các biến cố đã xảy ra ở Trung Quốc đối với tầng lớp trí thức, nhất là trong cuộc cách mạng văn hóa hồi những năm 60 và cuộc vận động dân chủ hồi cuối những năm 80. Tầng lớp trí thức ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng như vậy, cũng hầu như tan rã sau những biến cố thăng trầm.

Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao tất cả các nước theo xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đều có một kết cục như nhau đối với tầng lớp trí thức như vậy? Câu trả lời có thể là: Vì trong tất cả các nước ấy đã không thực sự có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Tình trạng đó đã bắt đầu từ khi Lê Nin áp dụng nguyên tắc Tập trung Dân chủ trong Đảng Cộng sản Nga trước và sau Cách mạng tháng 10 và trở thành truyền thống của các Đảng Cộng sản. Thay vì Dân chủ Tập trung, tức là trước hết phải thực hành Dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau kể cả khi tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưói phục tùng cấp trên v.v... các Đảng Cộng sản đã áp dụng nguyên tắc Tập trung là chủ yếu, Dân chủ chỉ là thêm vào. Sau khi nắm chính quyền, nguyên tắc Tập trung Dân chủ sai lầm này lại được áp dụng trong toàn bộ máy Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cơ chế mất dân chủ này đã xiết chặt cái “vòng kim cô” mất lập trường giai cấp và chệch hướng XHCN lên toàn bộ sinh hoạt tinh thần - tư tưởng trong nội bộ Đảng và toàn xã hội ở tất cả các nước đã áp dụng mô hình chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết.

Cơ chế mất dân chủ với cái “vòng kim cô” ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước ta đặc biệt từ khi giải phóng miền Nam: Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn chưa quy tụ về một cõi, khối đại đoàn kết dân tộc không được như chúng ta mong muốn, nhiều khi không có sự đồng thuận xã hội trong những vấn đề quan trọng của đất nước.

2. Quan điểm và định hướng

Trong quan điểm và định hướng nhất thiết chúng ta phải khẳng định rằng: Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức đã nêu rõ. Muốn vậy, điều cốt lõi là phải thực hành nghiêm chỉnh chế độ dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng.

Phát huy dân chủ phải được đặt trên nền tảng mục đích chung của dân tộc là xây dựng một quốc gia “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Mục đích chung ấy là quyền lợi của dân tộc, phải được đặt lên trên hết, trên mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ và mọi lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau.
Dân chủ không phải là sản phẩm chỉ của phương Tây (dù là Hy Lạp cổ đại hay Tây Âu và Bắc Mỹ hiện đại) mà là sản phẩm của cả nhân loại, trong đó có phương Đông. Phật giáo hết sức đề cao Đối thoại và Khoan dung, là cốt lõi sâu xa của Dân chủ. Dân chủ là một chế độ, trong đó mọi công dân thực có quyền được nhận xét, phê phán và chất vấn trực tiếp các cấp lãnh đạo (ở nước ta là của Đảng và của Nhà nước). Đúng như lời của Nelson Mandela nói: “Bất cứ ai muốn phát biểu có thể được nói. Đó là Dân chủ trong hình thức thuần tuý nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng dẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người này với người kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thày thuốc, buôn bán hay nông dân, đại chủ hay tá điền, người nào cũng được nói... chính đó là nền tảng của Dân chủ: Tất cả mọi người đều được tự do phát biểu ý kiến của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân ”.

Định hướng quan trọng nhất mà chúng ta cần là phải làm rõ nội dung công thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay cũng vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đằng làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo quyền Dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do Dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử, căn cứ vào những quan điểm và định hướng kể trên, để nâng cao chất lượng thực hành Dân chủ đối với đội ngũ trí thức (hay là “có học” như nói ở trên) cần thiết phải có các giải pháp sau đây:

3.1. Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trên thực tế Đảng lãnh đạo và chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội. Nếu trong Đảng mà không thực sự có Dân chủ thì ngoài xã hội không thể có Dân chủ.

Trước hết trong Đảng phải thực sự tôn trọng nguyên tắc Dân chủ Tập trung chứ không phải Tập trung Dân chủ. Đại hội đại biểu của Đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, sau đó đến Ban chấp hành Trung ương, rồi mới tới Bộ Chính trị. Nguyên tắc này lâu nay bị vi phạm, thường là Bộ Chính trị có quyền hạn tuyệt đối không những trong nội bộ Đảng, mà còn đối với mọi vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước mà lẽ ra phải là trách nhiệm của Quốc hội.

Trong nội bộ Đảng, mọi Đảng viên nên đều phải được phát biểu và bảo vệ chính kiến của mình song song với nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cần phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để ý kiến của thiểu số được thảo luận một cách công khai và bình đẳng.

Cơ chế dân chủ trực tiếp cần phải được phát huy tối đa trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Việc bổ nhiệm Đảng viên vào các vị trí lãnh đạo trong hệ thống Nhà nước phải được tiến hành một cách dân chủ hơn. Không áp đặt tiêu chuẩn cấp uỷ Đảng vào tiêu chuẩn lãnh đạo các cấp nhà nước. Một vị trí lãnh đạo nhà nước có thể tiến cử hai Đảng viên có ý kiến khác nhau về chủ trương về cách thực hiện để Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước lựa chọn, v.v....

Chỉ trong những điều kiện tối thiểu như trên thì tầng lớp trí thực thực thụ của nước ta mới có thể tự hình thành và phát triển một cách lành mạnh được.

3.2. Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh.

Trong điều kiện chế độ chính trị có một Đảng lãnh đạo, những khiếm khuyết do chế độ toàn trị gây ra có thể được khắc phục, điều chỉnh một cách hữu hiệu bằng xã hội dân sự. Xã hội dân sự lành mạnh là đối trọng, chứ không phải là đối lập với Nhà nước. Sự đồng thuận xã hội được giải quyết chủ yếu thông qua xã hội dân sự .
Trước mắt phải xây dựng được một Luật về Hội. Các hội nghề nghiệp và quần chúng là thành phần quan trọng nhất của xã hội dân sự. Quyền tự do thành lập Hội được ghi trong Hiến pháp phải được thể hiện đầy đủ trong Luật về Hội.

Chỉ trong một xã hôi dân sự lành mạnh như vậy tầng lớp trí thức mới phát huy được phẩm tính trí thức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.3. Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân như được ghi trong Hiến pháp.

Tự do ngôn luận là quyền được bình đẳng phát biểu công khai ý kiến của mỗi công dân. Đó là cốt lõi của Dân chủ, không có tự do ngôn luận thì không thể dân chủ.

Báo chí và xuất bản sách là công cụ chủ yếu để thực hiện tự do ngôn luận. Luật về Báo chí và Xuất bản cần được cải thiện hơn nữa, hướng tới chấp nhận nền báo chí và xuất bản tư nhân và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm về các ấn phẩm của mình.

Không có tự do ngôn luận thì những người “có học” chỉ có thể là những người là những người lao động trí óc ( thậm chí rất giỏi ) nhưng không thể trở thành một tầng lớp trí thức mà các xã hội văn minh coi là tinh hoa.
Hà Nội, tháng 6 năm 2010.


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, 1947.
2.N.M Voskpesenskaia và N.B Davletshina, Chế độ Dân chủ - Nhà nước và xã hội (Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
3.Nhiều tác giả (Nga), Về Trí thức Nga, (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
4.Việt Phương, Dân chủ, Tài liệu tham khảo cá nhân, Hà Nội, 9 - 2008.
5.Trần Hữu Dũng, Dân chủ và phát triển, Thời đại mới, Số 10 tháng 3 năm 2007.
6.Võ Văn Kiệt, “Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”, 2006.