Hiển thị các bài đăng có nhãn chínhtrị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chínhtrị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Gái điếm và chính trị

Tác giả: Linda Fang-The Epoch Times   

 Một cậu bé 15 tuổi ở Trung Quốc đã bị giam giữ và bị buộc tội sử dụng ám chỉ để tấn công Đảng và Chính phủ vì cho đăng một bài viết có tiêu đề "Gái mại dâm Muôn năm" trên một diễn đàn Internet, theo các blog trên toàn Trung Quốc.

Sở Cảnh sát Weidu Chi nhánh tại thành phố Hứa Xương, tỉnh Hà Nam, đã tiến hành một kiểm tra thường xuyên một website địa phương, Diễn đàn Mùa Xuân. Việc kiểm tra tìm thấy một bài viết có tiêu đề "Gái mại dâm Muôn năm" được đăng bởi một người dùng tên hiệu "Đồ Lót" {Underwear].

Cảnh sát tin rằng tác giả sử dụng đối tượng gái mại dâm để tấn công Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bằng ám thị. Họ ngay lập tức chỉ thị viên chức các quản trị trang web loại bỏ bài viết và cũng đã phát động một cuộc điều tra để tìm ra người chịu trách nhiệm. Chẳng bao lâu sau, một cậu bé 15 tuổi, họ Wang đã được xác định danh tánh và bị bắt giữ.

 

Bài viết của Wang liệt kê 41 mục so sánh gái mại dâm với "một số tổ chức" hoặc “một số người”.  Các so sánh bao gồm những điều sau đây: 

 

"Gái mại dâm bán thân thể của mình, trong khi một số người bán linh hồn của họ."

 

"Một cô gái điếm không đại diện cho lợi ích của người khác, trong khi một vài tổ chức tuyên bố đại diện cho lợi ích của tất cả."

 

"Một cô gái điếm không đi vào khuôn viên trường học, trong khi một số tổ chức thâm nhập khuôn viên đại học với các khóa học chính trị."

 

"Một cô gái điếm không công khai công bố (phô trương) bản thân, trong khi một số người điều khiển các phương tiện truyền thông tô vẽ làm đẹp bản thân mình."

"Một cô gái điếm không đòi hỏi tình yêu, trong khi một tổ chức yêu cầu bạn mê thích nó."

 

"Bạn có thể tránh một gái mại dâm nếu bạn không thích cô ấy, trong khi bạn không thể tránh được một tổ chức, trừ khi bạn chết đi hoặc bất hợp pháp trốn ra nước ngoài."

 

"Một cô gái điếm cho phép những người khác được chống lại họ, trong khi một số tổ chức bắt giữ đối thủ của mình và gửi họ vào các cơ sở giáo dục cải tạo.

Điều này cũng tương tự như trò đùa sau đây. Có người đã từng giận dữ la lên ở Thiên An Môn, “Chính phủ thối nát” Cảnh sát ngay lập tức bắt giữ ông và đưa ông đi. Ông lý luận, "Tôi không đề cập đến bất kỳ chính phủ nào cả."

 

Viên sĩ quan cảnh sát trả lời, "Tôi đã làm việc ở đây trong một thời gian dài. Ông có nghĩ rằng tôi không biết chính phủ nào là thối nát à?"

 

Hiện có hơn 400 triệu người dùng Internet Trung Quốc. Chế độ Trung Cộng đã chi hàng trăm ngàn đô la để thiết dựng một đội quân cảnh sát Internet cũng như các nhân viên bình luận nghiệp vụ Internet được thuê bởi chính quyền để giám sát các hoạt động của mỗi người dùng Internet.

 

Việc bắt giữ cậu bé tự gọi mình là “đồ lót” là một ví dụ rõ ràng về loại nguời lạm dụng quyền lực. Trong suốt lịch sử Trung Quốc, bất cứ lúc nào các cơ quan mỗi khi đạt lên cao điểm "kiểm tra dân chúng hơn là ngăn chặn một cơn lũ lụt," nó đã báo hiệu một sự sụp đổ sắp xảy ra của quyền lực. Giám sát những người sử dụng Internet, chế độ cộng sản đã đạt tới cực điểm kiểm tra tiếng nói của người dân.

Bài viết không xác định ĐCSTQ, nhưng cảnh sát ngay lập tức tự mình ám chỉ (tự kỷ ám thị).  Hành động của họ nói lên sự thật và sự chính xác của bài viết. Tất cả mọi người-từ một cậu bé 15 tuổi cho tới công chúng cũng như cảnh sát Internet làm việc cho Đảng và Chính phủ biết rõ rằng ĐCSTQ xấu hơn một gái mại dâm.

 

Chú thích:

-Bản tiếng Anh: *http://m.theepochtimes.com/index.php?page=content&id=47004

https://www.facebook.com/notes/tuan-khanh/g%C3%A1i-%C4%91i%E1%BA%BFm-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B/212329385443844

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Văn chương và chính trị

Ngày 4/1/2010 là sinh nhật thứ 70 của Cao Hành Kiện, nhà văn Pháp gốc Trung Quốc, người đoạt giải Nobel Văn học cách đây 10 năm.

Nhân dịp này, trường Nghiên cứu Phương Đông và châu Phi (SOAS) thuộc đại học London đã có một hội nghị chuyên đề, thảo luận về các tác phẩm cũng như tư tưởng của Cao Hành Kiện.

Trước khi tham dự hội nghị này, ông Cao đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Vệ Vĩ của ban tiếng Trung BBC Thế giới vụ.

BBC: Hôm nay là sinh nhật thứ 70 của ông, trước hết, xin chúc ông một sinh nhật vui vẻ. Cũng xin chúc mừng nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày ông đoạt giải Nobel Văn chương. 70 năm qua đối với ông chắc cũng không khác lắm so với những người Trung Quốc cùng thời, có nghĩa là phải trải qua rất nhiều thay đổi. Nhìn lại thì ông thấy thời điểm nào là ấn tượng nhất trong số những kỷ niệm của ông?

Cao Hành Kiện: Nhìn lại thì tôi thấy có quá nhiều thay đổi, thăng trầm, bước ngoặt, quá nhiều sự kiện. Rất khó để có thể nói thời điểm ấn tượng nhất là gì.

Tôi đã sống tại Paris được 22 năm. Nếu chúng ta hay nói đùa về ba kiếp thì đây là kiếp thứ ba của tôi. Kiếp đầu tiên của tôi là ở Trung Quốc, thứ hai là ở Paris. Sau khi giành giải Nobel, tôi bị một trận ốm nguy kịch, suýt chết, và kể từ đó, tôi hay gọi đây là kiếp thứ ba của tôi.

BBC: Ông là người Trung Quốc duy nhất giành được giải Nobel Văn chương cho đến nay. Lẽ ra chính phủ TQ phải rất tự hào về ông, nhưng họ không tỏ ra như vậy. Có lẽ ông cũng không quan tâm tới các cử chỉ của chính phủ Trung Quốc nữa vì ông đã trở thành công dân Pháp từ lâu rồi. Nhưng ông sinh ra ở Trung Quốc, và suy cho cùng, đã sống tại TQ trong 47 năm, vậy ông có cảm thấy chút nào hụt hẫng khi chứng kiến sự thờ ơ của chính phủ Trung Quốc hay không?

Cao Hành Kiện: Không hẳn. Tôi gặp rất nhiều vấn đề khi sống tại Trung Quốc, chứ không phải từ sau khi tôi đoạt giải Nobel. Các tác phẩm của tôi bị cấm thậm chí từ khi tôi còn ở TQ. Người ta luôn đối xử với tôi như vậy. Trong nhiều thập niên, tôi không thay đổi, và Trung Quốc cũng thế. Thực tế là như vậy, nên tôi cũng không cảm thấy hụt hẫng hay mất mát gì.

Bản sắc dân tộc là một chủ đề được bàn thảo nhiều. Ai cũng nói về nó. Tôi hay nghĩ rằng đó là một chủ đề thuần túy chính trị, chứ không có gì động chạm tới sức sáng tạo trong văn chương.

Tôi thường hay đùa về bản sắc của mình, rằng kể từ khi tôi trở thành công dân Pháp cách đây 17, 18 năm, thời gian cũng đã đủ dài để tôi coi mình là một công dân quốc tế. Trên thực tế thì tôi cũng sống như một công dân quốc tế. Tôi có thể ở bất kỳ nơi đâu vào bất cứ lúc nào. Tôi viết tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Do vậy, quan điểm của chính quyền Trung Quốc chẳng mấy quan trọng đối với tôi.

BBC: Ông rời Trung Quốc với tư cách là người đi tiên phong trong giới văn học nước nhà, và có rất nhiều người hâm mộ. Nhưng cách đây hai tháng, tôi trở về Trung Quốc, khi một số người bạn nói về việc các trường đại học ở Trung Hoa đại lục thiếu giải Nobel, tôi đã trả lời rằng chúng ta chắc chắn đã có một người đoạt giải Nobel tốt nghiệp từ Viện Ngoại ngữ Bắc Kinh, có tên là Cao Hành Kiện. Nhưng không ai trong số 10 người có mặt lúc đó biết tên ông. Ông có thấy buồn là ông giờ không được biết đến nhiều trong giới độc giả tại Trung Hoa đại lục?

Cao Hành Kiện: Chúng ta chẳng làm được gì về chuyện đó cả. Các tác phẩm của tôi bị cấm tại Trung Quốc, ngay cả tên tôi trong chừng mực nào đó cũng bị cấm. Có lần, tôi nhận được một món quà thú vị từ một người bạn. Đó là một cuốn sách do TQ đại lục xuất bản về những người đoạt giải Nobel trong 100 năm qua, nhưng đến năm 2000, năm tôi đoạt giải, thì họ lại bỏ trống. Họ đã cố tình bỏ đi năm đó. Tôi thấy đấy là một chi tiết thú vị, và hay đùa về chuyện đó.

Nhưng tôi không lấy làm ngạc nhiên tí nào, hay cảm thấy hối tiếc gì hết. Đó là vì tôi có rất nhiều độc giả quanh mình, và trước mặt vẫn còn cả thế giới rộng lớn. Như tôi biết, các tác phẩm của tôi đã được dịch ra 36 thứ tiếng, trong khi tôi vẫn còn rất nhiều độc giả tiếng Trung từ Đài Loan, Hong Kong, thậm chí Singapore, nơi các bạn đọc Trung Quốc vẫn tiếp cận được các tác phẩm của tôi.

BBC: Tôi biết ông nghĩ là việc nhà văn tham gia vào các chuyện chính trị sẽ ảnh hưởng tới chất lượng văn. Tuy nhiên, cho dù văn sĩ hay nghệ sĩ có cố gắng đến đâu trong việc tránh né chính trị, thì chính trị vẫn được thể hiện trong tác phẩm của họ. Như vậy, có mâu thuẫn nào không giữa các nhà văn cầm bút với chính trị, và ông xử lý chuyện này thế nào?

Cao Hành Kiện: Đây là một câu hỏi rất khó. Trong thế kỷ 20, có một xu hướng tại những nơi theo chủ nghĩa Marx là nhà văn nên tham gia vào chính trị và có quan điểm rõ rệt về chính trị. Nhưng xu hướng này làm cho các nhà văn khá khốn khổ.

Khi nhìn lại thế kỷ vừa qua, số phận của các nhà văn tham gia vào chính trị là họ hoặc phải hi sinh văn cho tuyên truyền chính trị, hoặc sẽ bị quyền lực bóp nghẹt nếu làm trái đi. Tôi nghĩ đó là một bài học cho các nhà văn ngày nay.

Vậy nhà văn có nên có chính kiến của mình không? Tôi nghĩ nhà văn chắc chắn phải có quan điểm của riêng mình về chính trị, nhưng cũng phải vượt lên trên chính trị. Khi sáng tác đi sâu vào cuộc sống cũng như những nan đề của cuộc sống, nó không thể nào tránh né hiện thực chính trị.

BBC: Các tác phẩm ông viết tại Trung Quốc cũng như những tác phẩm mới đây nhất đều không gần gũi với chính trị, thế nhưng bài diễn văn của ông khi đoạt giải Nobel năm 2000 và vở kịch ‘Lưu vong’ của ông hoàn tất ngay sau biến cố Thiên An Môn năm 1989 là mang tính chính trị, đúng không?

Cao Hành Kiện: Là một người suy nghĩ độc lập, một nhà văn nên có quan điểm về hiện thực, trong đó có chính trị. Tôi không né tránh việc đưa ra ý kiến về chính trị, nhưng tôi không tham gia vào bất cứ dạng chính trị nào.

Như chúng ta đều biết, chính trị có nghĩa là phải cân bằng lợi ích và quyền lực. Nếu chúng ta để văn chương rơi vào trò chơi chính trị, chúng ta sẽ đánh mất đi giá trị của văn chương. Tôi nghĩ giá trị của nhà văn chỉ được chứng tỏ qua những biểu đạt về các hoàn cảnh thực sự của con người. Chỉ những tác phẩm hướng tới đời sống thực sự, bất kể ảnh hưởng nào của chính trị, mới tồn tại được lâu dài.

BBC: Một trong các xu hướng văn hóa phổ biến tại Trung Hoa đại lục ngày nay là giải thích Khổng giáo một cách đơn giản, hiện đại và thực tiễn. Theo quan điểm của chính phủ, đạo Khổng có thể cải thiện hình ảnh của TQ ở quốc tế, do vậy nên các Viện Khổng Tử giờ mọc lên khắp nơi trên thế giới để truyền bá văn hóa Trung Quốc. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Cao Hành Kiện: Tôi có quan điểm riêng về văn hóa Trung Quốc, mà chẳng liên quan gì đến các chính sách của chính phủ cả trước đây cũng như bây giờ.

Tôi tin rằng nếu một nhà văn có thể tự suy nghĩ, anh ta sẽ có quan điểm độc lập và duy nhất của mình về văn hóa và lịch sử, và chỉ có suy nghĩ độc lập thì mới có giá trị về lâu về dài.

Chắc chắn là tôi có suy nghĩ của riêng mình về văn hóa truyền thống Trung Quốc, nhưng tôi không đồng ý với chuyện chỉ coi đạo Khổng là tư tưởng tuyệt vời nhất. Tôi không phản đối đạo Khổng. Khổng giáo phát triển qua các triều đại, xây dựng lên hệ thống đạo đức trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Thế nên Khổng giáo là để phục vụ cho quyền lực, nó là một hệ thống đạo đức được tận dụng để hậu thuẫn cho quyền lực. Nếu chúng ta vứt bỏ quyền lực này đi, Khổng giáo chẳng còn gì ngoài lý thuyết.

Như chúng ta đều biết, văn hóa Trung Quốc vốn giàu có và sâu sắc. Chúng ta còn có Lão Tử và Trang Tử.

Tôi muốn gợi ý, là có một nhân vật từ lâu bị lãng quên trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc là Huệ Năng. Tôi nghĩ Huệ Năng là một nhà tư tưởng rất quan trọng nhưng bị người đời quên lãng. Tên của ông không được nhắc đến như một nhà tư tưởng trong lịch sử, mà chỉ là một nhà sư Phật giáo. Tôi nghĩ Huệ Năng đã đạt được bước đột phá trong tư tưởng trước thời Tần, và mang lại rất nhiều ý tưởng mới mẻ cho văn hóa Trung Quốc. Những ý tưởng đó là từ Huệ Năng, chứ không phải Khổng Tử.

BBC: Ông có nghĩ là văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa thời internet, có thể ảnh hưởng đến văn hóa thế giới?

Cao Hành Kiện: Internet là một hiện tượng mới, ngày càng phổ biến trong thập niên qua và trở nên rất hữu dụng trong việc truyền bá văn hóa. Nó đã giúp cho Trung Quốc mở rộng tư tưởng để chấp nhận các thông tin mới từ các nước khác nhau; nó còn giúp cải thiện giao lưu văn hóa giữa TQ với thế giới.

Nhưng chúng ta cũng nên lưu ý rằng nếu chúng ta sử dụng sai internet, chúng ta sẽ biến văn hóa thành đơn giản và đại chúng. Còn một nguy cơ tiềm tàng mà tôi thấy trong văn hóa Trung Quốc ngày nay, là dân tộc chủ nghĩa. Tôi nghĩ giới trí thức TQ nên cảnh giác về nguy cơ này.

Chúng ta không phản đối văn hóa truyền thống TQ, mà chúng ta đang tìm cách đổi mới các truyền thống. Đây là những gì tôi đang làm. Trong các tác phẩm của mình, tôi đang tìm kiếm những chất liệu mới trong văn hóa truyền thống, nhưng lại không bị hạn chế bởi truyền thống. Thực ra, tôi quan tâm đến các nền văn hóa phương Tây nữa, kể cả văn hóa châu Phi và Nam Mỹ, và các vở kịch của tôi cũng được biểu diễn tại Nam Mỹ. Tôi muốn hấp thụ văn hóa của nhiều dân tộc.

Do đó, tôi nghi ngờ nếu thấy có những ầm ỹ về chính trị đằng sau quan điểm của một số trí thức là chỉ có văn hóa dân tộc mới đáng chú trọng.

BBC: Ông rời TQ năm 1987, trong 20 năm qua, đã bao giờ ông quay trở lại quê nhà?

Cao Hành Kiện: Chưa bao giờ. Tôi thậm chí không buồn nghĩ về chuyện đó, vì tôi thấy chẳng có ý nghĩa gì khi quay lại một đất nước vốn cấm cả các tác phẩm lẫn tên tôi. Tôi cũng nhận đủ lời mời từ khắp mọi nơi trên thế giới. Tôi cho rằng bạn hỏi câu này vì đây là cuộc phỏng vấn của cho chương trình tiếng Trung, nhưng thực tế là trong cuộc đời tôi lẫn trong những gì tôi viết hàng ngày, Trung Quốc đã trở thành quá khứ mất rồi. Do đó, khi qua giai đoạn này, tôi có nhiều đối tượng và kế hoạch mới.

BBC: Hôm nay là sinh nhật thứ 70 của ông, chưa phải là tuổi già nhưng có lẽ cũng là tuổi mà mọi người thường nghĩ về chuyện ‘tìm lại nguồn gốc’ như người TQ chúng ta thường nói. Ông có bao giờ nghĩ sẽ trở về quê nhà hay không?

Cao Hành Kiện: Rất nhiều người TQ ở hải ngoại thường nhớ nhà hay nguồn cội, trong đó có rất nhiều trí thức.

Tôi hay nghĩ là xét về các giao tiếp trong kinh tế, chính trị và văn hóa thì toàn cầu hóa đã ảnh hưởng sâu sắc tới thế giới cũng như suy nghĩ của mọi người.

Tôi nghĩ đối với những người Trung Quốc sống ở nước ngoài, họ nên tìm nguồn gốc tại chính nơi mình sống, vì bây giờ khái niệm nhà có thể ở bất cứ nơi đâu. Dĩ nhiên là họ không nên cắt đứt các quan hệ với văn hóa TQ, vì đó là cả một mỏ vàng.

Tôi không phản đối truyền thống. Tôi nghĩ, hoặc hi vọng, rằng những người Trung Quốc hải ngoại có thể tìm thấy nguồn gốc tại bất cứ nơi nào họ sống, đồng thời, cũng có thể mang văn hóa truyền thống Trung Hoa tới nơi sinh sống của họ. Đó là cách tốt nhất cho người Trung Hoa ở hải ngoại, kể cả trí thức, để kết hợp truyền thống với môi trường nước ngoài, để họ có thể gặt hái được thành công tốt hơn.

BBC Vietnamese

Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010

Chuyên quyền kiểu Việt Nam

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia độc đảng còn lại trên thế giới.

Những năm gần đây, trong khi kinh tế trong nước tăng trưởng nhanh, giới quan sát cũng nhận thấy tình hình kiểm soát chính trị-xã hội trong nước có phần gia tăng.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, đã làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề này, trình bày tại Hội thảo về các thể chế độc đoán Á châu tại Hong Kong. Giáo sư cho biết:

GS Ngô Vĩnh Long: Người ta thường cho rằng khi kinh tế phát triển thì xã hội sẽ có dân chủ hóa. Thế nhưng ở Việt Nam, hay Trung Quốc, nhất là trong 5-10 năm qua, tình trạng chuyên quyền và sử dụng quyền lực một cách độc đoán có thể nói lại càng ngày càng tăng.

Theo tôi có ba lý do. Thứ nhất, phát triển kinh tế càng ngày càng tập trung tiền bạc vào trong tay một số nhóm lợi ích trong nước. Mà tiền này, tư bản này không phải là tư bản trong nước mà là tư bản nước ngoài.

Thực ra cũng có một số tư bản thu được trong nước, nhưng chủ yếu là thông qua dạng lấy đất của dân để đóng góp, hùn vốn với tư bản nước ngoài. Tiền của nước ngoài đóng vai trò quan trọng hơn.

Vì thế ta thấy các cuộc đàn áp thường có liên quan các món tư bản rất khổng lồ. Và những người chỉ trích chính phủ, những chỉ trích nào nhắm vào các khoản tư bản khổng lồ thì chắc chắn sẽ bị đàn áp.

Chuyên quyền đang làm cho một vài nhóm mạnh hơn, giàu lên, nhưng lại dẫn đến việc Đảng và chính quyền bị suy yếu đi và dần dần bị mất tính chính danh.

GS Ngô Vĩnh Long

Thứ hai, chính quyền hiện nay chuyên quyền hơn, nhưng không phải một cách mù quáng. Sự chuyên quyền hiện nay không phải vì cộng sản hay không cộng sản mà vì lợi ích là phần nhiều.

Thứ ba, sự chuyên quyền được thao túng vì các nhóm có thể ngăn chặn việc này đã bị tiêu diệt từ trước. Trong lịch sử, ta thấy từ thời chính quyền ông Thiệu, trước và sau Hiệp định Paris, nhóm gọi là "thành phần thứ ba" đã bị đàn áp, hàng trăm nghìn người bị bỏ tù.

Khi Mặt trận giải phóng đánh chiếm miền Nam, thì thành phần thứ ba này cũng bị dẹp luôn.

BBC: Thưa, ý của giáo sư là vấn đề chuyên quyền ở Việt Nam hiện nay không có liên quan nhiều tới ý thức hệ, mà chủ yếu tập trung vào quyền lợi của các nhóm lợi ích?

GS Ngô Vĩnh Long: Vâng, hiện giờ đó là chuyện quyền lợi của các nhóm. Và họ có thể làm được như vậy là vì các thành phần đối kháng đã bị loại bỏ.

Chuyên quyền đang làm cho một vài nhóm mạnh hơn, giàu lên, nhưng lại dẫn đến việc Đảng và chính quyền bị suy yếu đi và dần dần bị mất tính chính danh.

Mà nếu như vậy, thì hết sức nguy hại cho đất nước Việt Nam.

Nhiều người nói về đa đảng thế này thế kia, nhưng tôi cho rằng trước hết cần phải dân chủ hóa ngay trong Đảng đã. Bởi vì nếu không, thì mối nguy không những cho Đảng, mà cho cả đất nước, dân tộc là rất lớn.

BBC: Và chúng ta đã chứng kiến những sự bất bình, bức xúc ở trong dân chúng. Chắc hẳn đó là đe dọa cho ổn định xã hội, thưa ông?

GS Ngô Vĩnh Long: Không chỉ trong dân, mà còn có tình trạng bức xúc, bất bình ở ngay trong Đảng nữa. Nếu như các lãnh đạo Việt Nam khôn ngoan, thì phải tập trung cái mâu thuẫn bên trong này trước.

BBC: Thưa ông có nói tới "thành phần thứ ba", mà chúng ta tạm hiểu là đối kháng chính trị. Ở miền Bắc thời kỳ trước chiến tranh đã có thành phần thứ ba này hay chưa?

Nghe/xem bằng Real Player hoặc Windows Media Player

GS Ngô Vĩnh Long: Lực lượng này đã có hiện diện ở miền Bắc, nhưng khi chiến tranh bắt đầu, thì họ cũng bị loại bỏ. Thoạt tiên là quá trình hợp tác hóa miền Bắc, đẩy mạnh hợp tác hóa để lấy sức người, sức của đánh giặc. Rồi thì "Trăm hoa đua nở"...vv Những ai có tư tưởng khác biệt đều bị bắt im tiếng hết.

Miền Bắc dẹp trước, rồi đến miền Nam cũng dẹp luôn.

Có người nói về những năm Đổi mới sau này và sự manh nha của cải cách chính trị. Tôi thì không đồng ý lắm.

Giai đoạn các ông Nguyễn Văn Linh hay Võ Văn Kiệt sau đó, có hiện tượng được gọi là "Vượt rào", hay "Xé rào". Nhưng nói "Xé rào" là cải cách chính trị thì không đúng.

Không phải là cải cách chính trị, mà là việc Đảng và Nhà nước phải quay sang nhờ cậy, dựa vào nhân dân trong khi bị nước ngoài bao vây kinh tế và chính trị.

Khi dựa vào dân, thì họ buộc phải "dân chủ hóa" để cho dân có thể thở được đôi chút. Nhưng xét kỹ thì họ đâu có lập ra được cơ chế gì để cho người dân có thể phản biện hay chống lại chuyên quyền?

Nguồn: BBC Vietnamese

Thứ Ba, 29 tháng 6, 2010

Các tổ chức nhân quyền kêu gọi Châu Âu gây áp lực với Trung Quốc

Tú Anh

Đối thoại nhân quyền giữa Châu Âu và Trung Quốc diễn ra hôm nay tại Madrid do Tây Ban Nha, chủ tịch luân lưu Liên Hiệp Châu Âu tổ chức. Nhân dịp này, Ân Xá Quốc Tế và Human Rights Watch thúc giục Liên Hiệp Châu Âu phải đòi cho được những tiến bộ « cụ thể » về nhân quyền tại Trung Quốc, mở điều tra độc lập về các vụ đàn áp, công nhận quyền tự do lập hội và phát biểu.

Trong một bản thông báo công bố tại Madrid vào chiều hôm qua, giám đốc cơ sở Ân Xá Quốc Tế, Amnesty International tại Tây Ban Nha, Esteban Beltran, kêu gọi « Liên Hiệp Châu Âu phải nắm bắt cơ hội này để xem xét những trường hợp vi phạm quyền con người một cách nghiêm trọng được ghi nhận trên khắp lãnh thổ » Trung Quốc. Châu Âu « không thể vì kinh tế và thương mại mà làm ngơ các vụ chà đạp nhân quyền ».

Về phần Human Rights Watch, tổ chức nhân quyền Mỹ nhắc lại những đợt thảo luận giữa Liên Âu và Bắc Kinh bắt đầu từ năm 1995 đến nay « đã gần như hoàn toàn thất bại » và không đưa đến một kết quả đáng kể nào.

Giám đốc Human Rights Wacht tại Á châu, bà Sophie Richardson kêu gọi Châu Âu khai thác cơ hội để « biến cuộc đối thoại nhân quyền thành một công cụ bảo vệ quyền con người ». Bà cảnh báo là nếu lần này Liên Âu không đòi được những tiến bộ cụ thể thì sự « thất bại » này càng làm cho người ta tin rằng đối thoại với chính quyền Trung Quốc là chuyện vô ích.

Giới nhân quyền quốc tế thúc giục Liên Hiệp Châu Âu đòi Bắc Kinh phải có những cam kết « cụ thể » thừa nhận các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, hủy bỏ chính sách « trại lao cải » và phải công khai hóa các bản án tử hình và số tử tội bị hành quyết.

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

Tượng Stalin bị dỡ bỏ ở Gruzia, quê hương của nhà độc tài Xô viết

Thanh Phương

Ngày 25/06/2010, Bộ trưởng Văn hóa Gruzia, Nika Rouroua cho báo chí biết là đêm 24/06, một bức tượng Stalin bằng đồng ở thành phố Gori, quê của nhà độc tài Xôviết đã bị dỡ bỏ một cách kín đáo. Thay vào đó, Gruzia sẽ xây một đài tưởng niệm các nạn nhân của chế độ độc tài Xôviết và những người đã bỏ mạng trong cuộc chiến tranh 2008 ».

Theo ông Rouroua, Stalin, sinh tại Gori năm 1879, là kẻ đã giết hại hàng triệu người vô tội, đã hạ sát những thành phần ưu tú không chỉ của xã họi Gruzia, mà của nhiều nước khác nữa. 

Bức tượng cao 6 mét và được đặt ở quảng trường trung tâm Gori từ năm 1952 đã là chủ đề gây tranh cãi gay gắt trong những năm gần đây. Chính phủ của tổng thống thân phương Tây Mikheil Saakachvilli đã nhiều lần đề nghị dỡ bỏ bức tượng này. Nhưng nhiều người, nhất là tại Nga, vẫn còn tôn sùng Stalin, đặc biệt vì vai trò của ông trong chiến thắng của Liên Xô trước phát xít Đức trong thế chiến thứ hai. 

Theo báo chí Gruzia, cánh sát đã chặn lối vào khu vực chung quanh bức tượng và ngăn không cho phóng viên quay cảnh dỡ bỏ tượng Stalin. 

Nằm cách thủ đô Tbilissi 80 km về phía Tây, Gori đã được cả thế giới biết đến vào tháng 8 năm 2008, khi thành phố này là mục tiêu tấn công của quân đội Nga trong cuộc chiến tranh với Gruzia giành quyền kiểm soát vùng Nam Ossetia ly khai. 

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Nhà văn: Tự do, Độc lập và Sự lên tiếng nói

Bùi Minh Quốc – Tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ?…*

Sau đây là trích đoạn bài phát biểu của nhà thơ Bùi Minh Quốc tại đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL.

Cần dứt khoát đổi mới Hội

Hội nhà văn Việt Nam của chúng ta thoát thai từ Hội Văn hóa Cứu quốc do Đảng chỉ đạo hình thành trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là tổ chức của những chiến sĩ văn hóa chiến đấu để xây dựng một nền văn hóa mới.Tháng 6 năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ viết bản báo cáo mang tên “Một nền văn hóa mới” trong đó có đoạn hừng hực hào khí của một dân tộc nô lệ vùng lên giành lấy độc lập và tự do như sau:“Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” ( “Một nền văn hoá mới”- Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản năm 1945). Các quyền thiêng liêng ấy -  tự do tư tưởng và tự do ngôn luận – đã lập tức được hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và vẫn duy trì tại Hiến pháp hiện hành.

Nhiều năm qua, các quyền thiêng liêng ấy chỉ tồn tại trên giấy. Đã có biết bao tác phẩm giá trị bị cấm, bị nghiền, biết bao nhà văn phải chịu khổ nạn chỉ vì kiên quyết thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn. Bởi vì có một thế lực sợ sự thật trong tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước đã dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để dập vùi đầy đọa những nhà văn trung thực trung kiên nói tiếng nói của sự thật của lẽ phải.

Vụ cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị cho vào máy nghiền là một bằng chứng điển hình khiến tất cả những ai có lương tri không thể không đau lòng và phẫn nộ.Ấy vậy mà Hội nhà văn của chúng ta, Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do lại im lặng trước hành vi man rợ đó.Thật phi lý. Sự im lặng này thật phi lý.Và thật xấu hổ, thật nhục nhã.

Nếu bây giờ tôi hỏi anh Hữu Thỉnh : anh có phải là một nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do không, chắc chắn anh sẽ trả lời : tôi luôn luôn là một nhà văn như thế.Và vẫn câu hỏi này, tôi đưa ra hỏi anh Lê Văn Thảo, anh Nguyễn Trí Huân, anh Hồ Anh Thái, anh Trần Đăng Khoa, chị Phan Thị Vàng Anh , thì chắc chắn cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự.Vậy tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc các công trình nghiên cứu, sáng tác về cải cách ruộng đất, về cuộc chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn-pốt trên biên giới tây nam, trên đất Cam-pu-chia và giặc bành trướng trên biên giới phía bắc, trên biển Đông không được xuất bản và tái bản, thậm chí trong dịp kỷ niệm 30 năm các sự kiện lớn ấy cũng không một mẩu tin, một dòng thơ tưởng niệm các liệt sĩ trên báo Văn Nghệ ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc tác phẩm của đồng nghiệp mình bị cấm, bị nghiền ? Các anh chị là chủ tịch, phó chủ tịch, là ủy viên Ban chấp hành Hội, vậy thì Hội ta có còn là Hội yêu nước không, có còn là Hội yêu dân không, có còn là Hội yêu tự do không ? Câu trả lời của tôi là : Hội ta đã là và vẫn luôn luôn là Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, nhưng các anh các chị thì thực chất đã không đại diện cho lòng yêu dân yêu nước yêu tự do của toàn thể hội viên, mà chỉ là những công chức hành chính thực thi mệnh lệnh của một thế lực sợ sự thật dùng bạo quyền bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tự do ngôn luận của các nhà văn trung thực. Tuy vậy, tôi tin rằng về mặt cá nhân, các anh chị vẫn luôn là nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do như tất cả mọi hội viên, nhưng về mặt tổ chức, khi ngồi vào chiếc ghế chức quyền thì các anh chị lại phải tự hủy cái tư cách yêu dân yêu nước yêu tự do ấy đi. Nếu không tự hủy thì tại sao lại im lặng ?

Vậy là chúng ta thấy hiện ra một sự thật hết sức đau lòng : từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc trước 1945 đến Hội nhà văn hiện nay là một quá trình thoái hóa khủng khiếp về tổ chức, càng phát triển số lượng thì chất lượng càng đi xuống thảm hại; sự thoái hóa về tổ chức làm thoái hóa con người, những nhà văn cách mạng tiêu biểu nhất như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…cuối đời cũng phải tự buộc mình trải lòng lên trang giấy thổ lộ phần nào sự tha hóa của bản thân;  Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất” , Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay” : “Người tôi còn nhiều bùn tanh/Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/Nhiều dây nhợ tự buộc mình(đã in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi trước khi ông mất ít tháng, NXB Văn Học, 2001). Đau xót quá. Những tài năng trác việt, những tâm hồn trong sáng, những trí tuệ sắc sảo từ tuổi thanh xuân phơi phới đi vào Cách mạng để xây dựng “Một nền văn hóa mới” với một đội ngũ những nhà văn kiểu mới, Nhà văn – Chiến sĩ, lại tha hóa thành những con người như thế, là một thất bại lớn về văn hóa, về xây dựng Hội phải không các anh, chị ? Đã đành con người ta không ai toàn vẹn cả, nhưng vấn đề ở đây là sự thoái hóa của tổ chức làm thoái hóa con người, từ tổ chức của các nhà văn – chiến sĩ thành tổ chức của các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức với phần khá đông là các nhà văn yêu thẻ và số ít các nhà văn yêu ghế, số yêu ghế dựa vào số yêu thẻ để giữ ghế và xin tiền nhà nước ; tức tiền thuế của dân bồi dưỡng để các nhà văn nâng cao sức chiến đấu cho Tự do nhưng lại biến thành thứ bổng lộc ban phát nhằm  đổi lấy sự im lặng trước những sự thật mà cái thế lực sợ sự thật trong giới cầm quyền muốn bưng bít.Chúng ta không thể để kéo dài mãi kiểu tổ chức như thế này nữa. Lâu nay có không ít hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định theo đuổi con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập, cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt.Đấy là một cách lựa chọn, nhưng cách này có một cái gay là tự mình làm ngơ trước tình trạng gương mặt tử tế của mình bị một số quan chức văn chương mượn làm bình phong, làm mặt nạ để thực hiện các mưu đồ vị kỷ của họ.

Rõ ràng Hội ta đang đứng trước một yêu cầu bức bách là phải đổi mới căn bản về tổ chức.Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội dung hàng đầu trong nghị trình đại hội 8 của Hội ta.Xin mạn phép nêu ra một gợi ý đổi mới, trước hết là xác định lại tính chất của Hội như sau :

Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do.Các nhà văn trong Hội – là những cá nhân với tư duy độc lập tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và công chúng về tư tưởng và ngôn luận của mình -  tự nguyện tập hợp để giúp nhau phấn đấu tạo nên những tác phẩm giá trị nhất trong khả năng mình có, và bảo vệ, bênh vực, cưu mang nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn vì ngòi bút.Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi, tự quản đồng thời hoan nghênh sự hỗ trợ vô tư công khai minh bạch không điều kiện của Nhà nước và công chúng.

(Tiếp theo dưới đây là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đai hội)

Hội Nhà văn của chúng ta bấy lâu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.Nay nếu chúng ta chuyển thành tổ chức xã hội nghề nghiệp, không để là tổ chức chính trị nữa thì có mấy cái lợi cho sự phát triển chung :

Thứ nhất, với nhiệm vụ chống thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh, với tư cách là tổ chức xã hội nghệ nghiệp, một tổ chức bình thường trong xã hội dân sự của các nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, chúng ta hoàn toàn chủ động bày tỏ lòng yêu nước mà không ảnh hưởng gì đến ứng xử đối ngoại lúc mềm dẻo lúc cứng rắn của nhà nước.

Thứ hai, khi chúng ta không phải là tổ chức chính trị, chúng ta mới thực sự chủ động thực hiện được chủ trương tôn trọng các chính kiến, các ý kiến khác biệt, thực sự mở rộng mặt trận văn hóa văn nghệ của tất cả mọi nhà văn Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, vì tự do của mỗi con người Việt Nam, vì sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới.

Thứ ba, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở đây được xác định rành mạch là tổ chức của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do, các nhà văn thuộc hội này không đặt hội mình là tổ chức chính trị nhưng cái phẩm chất chính trị KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT trong con người từng nhà văn thì không những không mảy may bị xói mòn, mai một (như thường thấy ở các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức), mà ngày càng vững vàng hơn, tích cực hơn, chủ động hơn, bởi đó là phẩm chất chính trị quyện chặt với lý tưởng xã hội lý tưởng thẩm mỹ từ trong máu thịt được thử thách cả một đời.

Hội sẽ hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản. Đây chính là chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng đề ra từ đại hội 6.Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể, nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc tự quản của các đoàn thể.Khi chuyển sang Hội tự nuôi tự quản, chúng ta sẽ đỡ cho nhà nước một khoản chi phí lấy từ tiền thuế của dân tính cả trụ sở phương tiện là rất lớn. Nếu Hội không chuyển sang hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản mà cứ tiếp tục là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước như cũ thì nên tách Hội ra làm hai, một hội là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước, một hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản…

(Nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng vụ văn học ban Tuyên giáo trung ương từ dưới hàng ghế đầu nói chen một cách thân tình : “Tự nuôi thì chết đói ông Quốc ạ”). Không chết đói được đâu ông Cuông ơi, mà chết đói tôi cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là tôi được như ông Nguyễn Hiến Lê ở Sài Gòn trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản tự đem bán, chi phí thấp thu nhập cao, ông Đốt-xtôi-ép-xki ở Nga dưới chế độ Sa Hoàng cực kỳ hà khắc đi tù về vẫn được ra báo, mở nhà xuất bản, ông viết và in ngay những chuyện đã trải      trong tù. Nghị quyết 23 ghi rõ đảm bảo tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, vậy đảm bảo bằng cách nào nếu không phải là thực hiện nguyên tắc tự do sáng tác gắn liền với tự do công bố (nếu không thì chỉ là tự do sáng tác cất vào ngăn kéo à ?), tôi đòi tôi phải được như bà con nông dân làm ra cân thóc được tự do đem bán, nếu thóc có chứa độc tố thì phải ra tòa, tôi cũng đòi được tự xuất bản quyển sách mình viết ra và tự đem bán, nếu sách tôi có độc tố thì tôi ra tòa, nếu sách tôi được nhiều người mua thì tôi sống khỏe, đủ để nuôi mình và góp phần nuôi Hội, nếu sách tôi bị người đọc vứt vào sọt rác thì tôi cũng cam chịu. Nhưng tôi tin rằng trong số hơn 900 hội viên của Hội ta hiên nay, ít nhất cũng có 100 nhà văn thích chọn mô hình Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản, trụ sở Hội chỉ cần 1 ngôi nhà nhỏ, hội viên góp tiền nhau mà thuê hoặc hội viên nào có nhà rộng thì cho Hội mượn. Vâng, nếu thực sự vì dân vì nước thì hãy làm như thế đi, hai Hội nhà văn, một Hội xin tiền nhà nước, một Hội tự nuôi tự quản, hai Hội đối sánh xem Hội nào có thành tựu văn học cao mà chi phí thấp thì tự thân Hội đó có sức sống và phát triển, đây chính là con đường xây dựng phát triển Hội hợp quy luật.

Ý kiến tôi hôm nay có thể chỉ là nói lên tiếng nói của thiểu số nhưng tôi tin chắc rằng nhất định sẽ được nhân dân hoan nghênh và đồng nghiệp đồng tình ngày càng rộng rãi.

(Vào cuối phiên thảo luận buổi sáng, nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội lên diễn đàn có ý kiến lại với nhà thơ hội viên Bùi Minh Quốc, rồi nhà thơ Bùi Minh Quốc lại lên diễn đàn đáp lại các “ý kiến lại” của chủ tịch Hữu Thỉnh.Tôi, Bùi Minh Quốc, xin văn bản hóa phần trao đổi ý kiến qua lại này thành cuộc đối thoại theo từng vấn đề như sau) :

HỮU THỈNH : Về việc lên tiếng về Hoàng Sa Trường Sa, tôi đã nghe anh Quốc nói nhiều lần, tôi cũng đã báo cáo cấp trên nhưng cấp trên bảo Hội Nhà văn không lên tiếng.

BÙI MINH QUỐC : À, ra thế…

HỮU THỈNH : Cái vụ “Chuyện kể năm 2000”, tôi là người bênh vực anh Bùi Ngọc Tấn, nghe tin tôi vội chạy lên thì người ta đã ký lệnh nghiền mất rồi, tôi xuống ngay Hải Phòng gặp anh Tấn, anh Tấn đề nghị để tớ đi thăm Trung Quốc, tôi ủng hộ ngay mặc dù về thủ tục rất khó vì danh sách đoàn đi đã xong xuôi rồi chỉ còn 6 ngày nữa là đi, nhưng tôi đã cố gắng giải quyết tốt.

Cũng như với anh Hữu Loan, anh ấy có bị giam lỏng đâu, anh ấy tự ý bỏ biên chế về quê đấy chứ, thế nhưng anh Quốc không biết chứ, tôi và anh Nguyễn Hoa đã phải cố gắng như thế nào để làm lương cho anh Hữu Loan, lương chuyên viên đấy, kết quả là anh ấy được truy lĩnh lớn đấy.

Rồi việc giải thưởng nhà nước, chính tôi đã đề nghị anh Hữu Loan phải được trao giải cùng với các anh Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán nhưng giải này phải Chủ tịch nước ký, ở trên có người nhất định không đồng ý trao giải cho anh Hữu Loan.

Cũng như đối với anh Bùi Minh Quốc, khi in kỷ yếu Hội Nhà văn, nhiều người, có cả những ủy viên trung ương yêu cầu phải gạch tên Bùi Minh Quốc, Trần Độ, tôi không chịu, sách đã in rồi, anh em bảo lấy giấy dán chỗ ấy lại, tôi bảo cứ để nguyên.

Cũng như cái việc anh Quốc bị quản chế, vì những lý do ngoài văn chương, tôi đã xin cho anh giảm được thời hạn mấy chục ngày, anh có biết đâu, nói chung là anh Quốc thiếu thông tin…

BÙI MINH QUỐC : Đúng là tôi thiếu thông tin về các việc ấy vì các anh có thông tin cho tôi đâu, nhưng điều quan trọng nhất, việc quản chế tôi là phi lý, giảm được có 19 ngày, mà cũng vì sắp Tết rồi, hết hạn đúng ngày mùng 1 Tết, tôi đã sẵn sàng chấp nhận đúng ngày mùng 1 Tết lên phường làm thủ tục kết thúc quản chế kia mà. Vấn đề tôi yêu cầu là Ban chấp hành Hội phải thực hiện trách nhiệm của mình, phải xông vào tìm hiểu đầu đuôi vì sao tôi bị quản chế, việc này đúng hay sai và Hội phải có tiếng nói.

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc góp ý thì cứ góp ý nhưng sao lại nặng lời xúc phạm nhau, anh bảo chúng tôi mạo danh hội viên để mưu đồ vị kỷ theo lệnh của một thế lực nào đó, làm gì có thế lực nào, chúng tôi là do hội viên bầu lên, chúng tôi làm việc theo chính danh sao lại bảo là chúng tôi mạo danh mưu đồ vị kỷ, anh Quốc không được xúc phạm chúng tôi như thế.

BÙI MINH QUỐC : Anh Thỉnh nên đọc kỹ lại câu tôi viết trong bài phát biểu tôi vừa trao cho thư ký đoàn đại hội, đây là tôi nói về việc có tình hình nhiều hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội. Họ ra bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt, đấy, ra khỏi Hội mà không tuyên bố công khai dứt khoát. Họ chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt Hội thì tất nhiên các quan chức làm việc Hội nhân danh Hội là nhân danh cả những hội viên bỏ sinh hoạt một cách lặng lẽ đó, và lấy gì đảm bảo trong các quan chức ấy không có người nào không mưu đồ vị kỷ, bản kiểm điểm của Ban chấp hành chẳng đã nêu có ủy viên Ban chấp hành mấy năm không làm việc Hội đó sao, vậy tôi nói thế thì có gì là xúc phạm ?

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc từng tham gia chiến đấu thì tôi cũng có quá trình chiến đấu vào sinh ra tử, mà anh Quốc lại cứ cố ý ráo riết đòi bỏ cái tổ chức chính trị, sao lại bỏ chính trị đi, chính trị của chúng ta là chính trị yêu thương con người, anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta…

BÙI MINH QUỐC : Chính trị yêu thương con người thì trước hết phải yêu thương những người bị áp bức, yêu thương các ngư dân của ta, và với các nhà văn chiến sĩ yêu thương con người thì trước hết phải chiến đấu cho tự do, tự do là giá trị cao quý nhất của mỗi con người.

Tôi yêu cầu các ý kiến của anh Hữu Thỉnh và của tôi phải đăng lên báo Văn Nghệ để chúng ta cùng tiếp tục thảo luận, các ý kiến của chúng ta chẳng có gì là bí mật cả, nên tôi yêu cầu báo Văn Nghệ có trách nhiệm phải đăng.

Bùi Minh Quốc

Đà Lạt 20.06.2010

(Đã gửi báo Văn Nghệ, báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam, báo điện tử Văn Nghệ Sông Cửu Long, đang chờ đăng)

http://www.trannhuong.com/news_detail/5186/C%E1%BA%A6N-D%E1%BB%A8T-KHO%C3%81T-%C4%90%E1%BB%94I-M%E1%BB%9AI-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-H%E1%BB%98I

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Lại tiến sĩ dỏm từ trường giả

Nguyễn Văn Tuấn – Không khó gì để thấy rằng “Trường Đại học Nam Thái Bình Dương” mà vị quan chức đó nói không phải là một đại học, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu…*

Một bạn đọc gửi mail cho tôi [[i]] hỏi về bài “Làm tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh”.  Thật ra, đâu phải ai học xong Tiến sĩ ở Anh hay Mỹ đều thạo tiếng Anh cả (không tính đến những người tự cho rằng họ rành tiếng Anh!); có nhiều người dù đã mang hàm Giáo sư mà vẫn còn chưa thạo tiếng Anh.  Do đó, đâu có gì ngạc nhiên với cái tít trên.  Thoạt đầu đọc tựa đề thì cũng chẳng lấy gì ngạc nhiên, nhưng đọc bài báo thì tôi nghĩ đây là một trường hợp mua bán bằng cấp mà thôi, chứ chẳng phải Tiến sĩ gì cả.

Bài báo mà bạn đọc giới thiệu viết về một quan chức ngành văn hóa thuộc tỉnh Phú Thọ có bằng Tiến sĩ về kinh tế quản trị kinh doanh (tên dài quá!) từ trường “Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ”.  Vậy trường này ở đâu và đào tạo ra sao?  Không khó gì để thấy rằng “Trường Đại học Nam Thái Bình Dương” mà vị quan chức đó nói không phải là một đại học, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu.

Trường này có tên là Southern Pacific University (tên pháp lý là Southern Pacific University, Inc, a Hawaii corporation), thậm chí có hẳn một website hoành tráng nữa.  “Trường” này tuy nói là đặt ở Hawaii, nhưng gốc gác ở… Malaysia.  Theo tài liệu của Bộ Thương mại và Tiêu thụ vụ (Department of Commerce and Consumer Affairs) thì “trường” đã bị giải thể từ ngày 28/10/2003 (nguyên văn: “Although incorporated in Hawaii, SPU was based in Malaysia. SPU’s Hawaii corporation was dissolved on October 28, 2003”). Cần nói thêm rằng Malaysia và Phi châu là xứ sở của rất nhiều cơ sở chuyên lường gạt người trên mạng, cũng giống như Việt Nam là nơi phát tán thư rác và quảng cáo vớ vẩn nhiều vào hàng nhất nhì thế giới.

Bằng cấp của trường Southern Pacific University không được Mỹ công nhận.  Có thể xem danh sách các trường dỏm này ở đây.  Trường này thậm chí còn được liệt kê vào danh sách scam, tức là những nơi chuyên lừa gạt người nhẹ dạ để lấy tiền bằng cách bán bằng cấp dỏm.

Tuy nhiên, cần phải phân biệt “trường” dỏm này với trường thật ở Fiji.  Đại học Nam Thái Bình Dương, với tên chính thức là “The University of South Pacific” của Fiji (một quốc đảo gần Úc) là trường thật, nhưng hình như họ không có chương trình đào tạo cấp Tiến sĩ.

Nói tóm lại, tôi nghĩ vị quan chức này đã bị lừa gạt và chắc tốn nhiều tiền để có cái giấy Tiến sĩ đó. Mà cũng chưa hẳn bị lường gạt, hay họ lại lợi dụng sự kém hiểu biết của nhau để lừa gat lẫn nhau!  Tờ giấy gọi là Tiến sĩ đó chỉ là chứng từ của một sự lường gạt, chứ không phải là một học vị gì cả.

Vấn đề này đã được nêu lên khá lâu, vậy mà vẫn có người bị (hay muốn bị) lường gạt.  Đó chỉ là một quan chức, nhưng theo như thư của bạn đọc trên đây thì có hàng chục quan chức khác cũng nằm trong tình cảnh bị lừa.  Trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay ở Việt Nam, những danh xưng Tiến sĩ hay Giáo sư, nhất là trong giới quan chức, càng ngày càng trở thành chuyện tiếu lâm dân gian.  Đúng là một quốc nạn.

NVT

http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/923-lai-tien-si-dom-tu-truong-gia

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Google thách thức cả nước Trung Hoa

Ngô Nhân Dụng

Khi công ty Google từ chối không tiếp tục làm công việc kiểm duyệt mà chính quyền Trung Quốc bắt họ phải chịu để được làm ăn ở xứ này, nhiều người coi đây là một vụ thách thức đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng, tính trên đường dài thì đây cũng là một thách thức đối với mọi người dân Trung Hoa trong lục địa. Ðặc biệt, là thách thức giới trí thức trẻ tuổi. Hơn 300 triệu người Trung Hoa đang sử dụng Internet. Dùng Internet là một bước tiến vào cuộc sống văn minh toàn cầu của thế kỷ 21. Trong hai thế kỷ qua, loài người đã tiến những bước dài trên con đường sống tự do dân chủ. Giới trí thức Trung Quốc chịu cúi đầu trước một bạo quyền của thế kỷ 19 cho tới bao giờ?

Tháng Giêng năm 2010, khi Google bắt đầu phản đối chính phủ Bắc Kinh về những vụ đột nhập vào mạng lưới của họ để ăn cắp các dữ liệu về các nhà trí thức đối lập, rất nhiều thanh niên Trung Hoa đã can đảm bày tỏ ý tán đồng hành động đó. Họ dám đương nhiên mang hoa đến đặt trước trụ sở công ty này ở Bắc Kinh. Trong một ngày, hàng trăm ngàn người bày tỏ ý kiến trên mạng, đại đa số ủng hộ lập trường của công ty ngoại quốc trẻ trung này, mà những người sáng lập cũng cùng tuổi với đa số dân Nét ở Trung Quốc. Một dân Nét đã viết: Nếu Google rút đi, Trung Quốc sẽ trở về “thời đồ đá” trong thế giới mạng lưới! Chúng ta phải khâm phục những bạn trẻ can đảm này.

Nhưng các hành động tỏ ý tán thành như trên cũng chỉ có tính cách “phản kháng bất bạo động” và thụ động. Ba tháng đã qua, Google đã thương thuyết với chính quyền Trung Quốc nhưng không tìm ra giải pháp nào thỏa đáng, bây giờ công ty đã tiến thêm một bước nữa: Rút hẳn dịch vụ dò tìm trên mạng ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa lục địa, hướng dẫn các người muốn dùng dịch vụ tìm kiếm của Google sang mạng lưới của họ ở Hồng Kông. Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục “đánh trả đũa” với “Trường Thành Lửa,” không cho người dân trong lục địa sử dụng Google. Nghĩa là người dân Trung Hoa muốn tìm hiểu gì về Tây Tạng, về Thiên An Môn thì chỉ được coi những tài liệu đã được chính quyền kiểm duyệt.

Cuộc đấu giữa chính quyền Bắc Kinh và Google tiêu biểu cho hai thế lực, hai quan niệm về văn minh. Một bên là một công ty trẻ mới ra đời được hơn 10 năm, đi tiên phong trên mặt kỹ thuật, lớn mạnh rất nhanh nhờ tinh thần khai phá, dám làm và dám chấp nhận rủi ro. Công ty này, ngay từ khi thành lập, đã chọn một khẩu hiệu: “Không làm ác” (Don't Be Evil), đề cao mục tiêu đạo đức chứ không còn là thương mại nữa. Bên kia là một chính quyền độc tài hủ lậu muốn kìm hãm tự do của một dân tộc với nền văn minh thuộc hàng xưa nhất thế giới. Chính quyền đó cũng là tàn tích còn sót lại của ý thức hệ Mác xít, đã bị khai tử ngay tại Âu Châu nơi chủ nghĩa và chế độ này được phát sinh. Cuộc đấu trí giữa hai bên sẽ đưa tới kết quả nào, nó sẽ định nghĩa đời sống của thế kỷ 21. Bạo Lực sẽ thắng? Hay sau cùng Ðiều Thiện sẽ thắng?

Nhiều người phê bình hành động của Google là vì hiện nay họ chỉ chiếm 30% thị trường “tra tìm thông tin” ở trong lục địa, cho nên họ có thể bỏ qua mà không bị thiệt hại bao nhiêu; nếu họ chiếm 70% thị trường thì có thể họ sẽ hành động khác. Hơn nữa, công ty này không kiếm lợi ở Trung Quốc được bao nhiêu. Tất cả số thu của họ trong lục địa chỉ chiếm vài phần trăm tổng số thu nhập hơn hơn hai chục tỷ Mỹ kim trên toàn thế giới. Do đó, quyết định từ giã thị trường Trung Quốc không khó khăn lắm. Lời phê bình này chỉ “phỏng đoán” động cơ của công ty Google, gán cho họ những động cơ xấu nhất. Hơn nữa, nói như trên là quên rằng thị trường lục địa phát triển rất mạnh, giá trị tính bằng đô la có thể tăng 40% mỗi năm. Khi tính đến tiềm năng đó, thì phải công nhận hành động từ bỏ một thị trường như vậy là rất can đảm, Google đã đặt nguyên tắc đạo lý lên trên mưu tính doanh lợi lâu dài.

Thông điệp chính của Google là, “Chúng tôi không chấp nhận đóng vai trò kiểm duyệt” cho một chế độ độc tài, để hưởng các lợi lộc kinh tế. Ðây là một thách thức. Thông điệp này có đánh thức giới trẻ Trung Quốc hay không, và họ sẽ hành động như thế nào, chúng ta còn phải chờ tương lai mới biết câu trả lời. Bởi vì hành động của cộng sản Bắc Kinh đối với Google chỉ là một trong nhiều bộ mặt của chế độ này, khi họ kiểm soát thông tin, đàn áp tư tưởng tự do, bấờt chấp quyền sống và phẩm giá của người dân Trung Hoa. Chế độ Bắc Kinh cũng kiểm soát các phương tiện thông tin hiện đại khác, như việc sử dụng Facebook, Twitter, vân vân.

Người dân, và nhất là giới trẻ Trung Hoa, đang phải sống trong một vòng kiểm tỏa giống như những con cua trong một cái giọ. Trong cái giọ đó, con cua này tìm cách leo lên đầu con cua kia, nhưng vẫn không bao giờ leo ra khỏi giọ được. Họ có tự biết như vậy hay không? Chúng tôi nghĩ là họ có ý thức về điều đó.

Một bài trong tờ Vãn Báo (Báo Buổi Chiều) xuất bản trong lục địa, số ra ngày 3 tháng 7, năm 2000, có kể một câu chuyện để tự chỉ trích bản tính thích đấu đá nhau của người Trung Hoa. Bài báo của tác giả Thẩm Xương, kể một chuyện xảy ra ở New York, có thể do tác giả bịa ra để khuyến cáo đồng bào của ông tự răn mình.

Có một công ty Mỹ ở New York thuê rất nhiều công nhân ngoại quốc gốc Á Châu. Cuối năm, ông chủ báo tin sẽ tặng 500 đô la cho các công nhân giỏi nhất. Ông yêu cầu mỗi nhóm người thiểu số họp lại một người trong bọn họ để lãnh thưởng.

Nhóm công nhân Nhật họp rất nhanh chóng, đề nghị một người. Ông chủ cũng đồng ý, vì thấy đó là một công nhân tài giỏi thật. Nhóm người Việt Nam và nhóm người Hàn Quốc họp lâu mới đưa đề nghị lên. Hai người đó đều được tặng 500 đô la, nhưng ông chủ biết họ không giỏi giang gì cả. Người Việt được chọn vì các đồng hương thấy anh ta nghèo nhất, đáng giúp đỡ! Người công nhân Hàn Quốc thì được bầu vì anh ta tính hiền lành, ba phải, không làm mất lòng ai bao giờ. Nhưng nhóm công nhân Trung Hoa thì đến chiều cũng không đề nghị ai cả. Họ không chịu bỏ phiếu coi ai là người đáng lãnh thưởng. Họ đề nghị xin chia đều 500 đô la cho tất cả mọi người trong nhóm, tất nhiên bị từ chối. (Bài này được đăng lại trong sách “Người Trung Quốc và những căn bệnh về nhân cách”).

Thực sự người Trung Hoa có tánh ưa “tranh giành” với nhau về tính nhỏ nhặt mà không nghĩ được chuyện lớn hay không, chúng ta không dám quả quyết như tác giả bài báo trên. Nhưng nói đến tật xấu này thì chắc dân Việt hay người Hoa cũng ngang ngửa như nhau!

Chính quyền cộng sản không phải là triều đại đầu tiên ở Trung Quốc muốn kiểm soát thông tin và đàn áp tự do tư tưởng của người dân. Vào đời Nam Tống, Tống Huy Tông (tên Triệu Cấu) đã ra lệnh “cấm tuyệt” không ai được viết dã sử: “Những kẻ không đắc chí, ẩn nấp khắp nơi, nhòm ngó việc triều đình, bí mật viết dã sử để rao bán tà thuyết!” Các người làm blog, bloggers bây giờ cũng không khác gì những nhà viết dã sử đời trước. Họ cũng “nhòm ngó việc triều đình” và thông báo cho nhau những ý kiến mà nhà nước coi là “tà thuyết!”

Vào thế kỷ 12 kỹ thuật thông tin còn rất thô sơ, Triệu Cấu tưởng rằng chỉ ra lệnh cấm là bưng bít được tin tức. Nhưng cuối cùng lịch sử vẫn biết và vẫn phê phán chế độ hủ bại của ông vua Huy Tông và “thủ tướng” Tần Cối. Thế kỷ 21, việc cấm người ta “viết dã sử” còn khó hơn nữa. Những cố gắng “bịt miệng dân” của chế độ cộng sản cuối cùng sẽ thất bại. Thất bại nhanh hay chậm là tùy theo thái độ và phản ứng của các thanh niên trí thức đang sống trong các giọ cua đó.

Công ty Google đã đứng ra thách thức chính quyền cộng sản Trung Hoa. Họ sẵn sàng từ bỏ các lợi lộc kinh tế để giữ tư cách, bảo vệ phẩm giá của họ. Giới trí thức Trung Hoa có chấp nhận một thử thách như vậy hay không? Tất nhiên, đây cũng là một câu hỏi đặt ra cho giới trí thức và thanh niên Việt Nam!

Chúng ta không cần so sánh người Hán với người Việt. Nhưng thế nào cũng có người đặt câu hỏi rằng “Liệu dân Việt Nam hơn gì người Hán khi phải đối đầu với một chế độ độc tài chuyên chế hay không?” Chúng ta đang chứng kiến một cuộc chạy đua xem hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam, cùng sống dưới các chế độ độc tài cộng sản, xem bên nào sẽ dám đứng lên phản kháng và đòi tự do mạnh bạo hơn!

Trong lịch sử, dân tộc Trung Hoa, mà đại đa số là người Hán, đã chịu sống dưới các chế độ độc tài chuyên chế do người “ngoại tộc” đứng đầu trong nhiều thế kỷ. Thời Nhà Nguyên, người Mông Cổ đã cai trị nước Tầu trong hơn một thế kỷ. Người Mãn Thanh cũng làm chủ nhân nước Trung Hoa trong gần 400 năm. Người Việt Nam có thể coi là có ý chí rất quật cường. Sau khi ý thức dân tộc phát khởi để giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, không bao giờ người Việt chịu cho ngoại bang cai trị nữa. Ngay trong thời Pháp thuộc kéo dài 60 năm, không lúc nào thiếu các phong trào phản kháng. Có thể nói người Việt bất khuất hơn người Hán khi cần chống ách cai trị của ngoại tộc. Nhưng trước các chế độ độc tài chiếm đoạt các quyền tự do và xúc phạm đến phẩm giá con người thì chúng ta chưa biết dân tộc nào thật sự dũng cảm hơn!

Chỉ khi nào chế độ độc tài hủ lậu đó cũng cho thấy họ khiếp nhược đối với ngoại bang, thì người Việt thế nào cũng phản ứng mạnh! Trong Tháng Ba năm 2010, người Hán đã làm lễ kỷ niệm chiến thắng của Phục Ba Tướng Quân Mã Viện vào năm 43, mà báo chí họ gọi là “Anh hùng Vệ quốc.” Không biết họ nghĩ lúc đó nước Trung Hoa bị ai đánh mà phải có anh hùng vệ quốc? Một đoàn văn nghệ của cộng sản Việt Nam đã được tham dự lễ hội này, ngay tại thị xã Ðông Hưng, sát biên giới Trung-Việt, họ mặc áo dài khăn đóng, chụp hình đăng báo rất đẹp.

Người Việt Nam phải làm gì để tưởng niệm nhớ ơn công đức Hai Bà Trưng đây?

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

NIỀM TIN LẠI LỚN THÊM LÊN



Tôi không phải là người đầu tiên và duy nhất bị khủng bố tinh thần bằng lực lượng “cựu chiến binh” đến tận nhà. Tôi chỉ là người tiếp bước và tiếp tục phải chịu đựng một phần những gì mà nhiều vị đấu tranh tiền bối cho cái đúng, cái thiện đã phải trải qua. Những vị đó trước đây còn ở trong những bối cảnh khắc nghiệt và ghê rợn hơn nhiều ngày nay. Nhưng sự việc “cựu chiến binh” đến tận nhà để khủng bố tôi ngày 23/03/2010 đã cho tôi nhiều trải nghiệm quí giá.

Ngay trong vòng vây của sự lăng mạ, hăm dọa tôi vẫn bắt gặp những nét thiện trong chính những người đã được phái đi thực hiện một nhiệm vụ bất lương. Không phải ánh sáng lý trí của tất cả những con người đó đã bị dập hết. Sự lặng đi của họ khi nghe được những lý lẽ không thể không đồng ý đã chứng minh điều đó. Lương tâm của những con người đó vẫn chưa phải đã kiệt tới mức vì chút bổng lộc mà bất chấp đạo lý. Có người lao lên để đỡ cú nạng phóng về tôi đã tự nói lên điều đó. Và cũng không phải tất cả những con người đó đều hoàn toàn thanh thản khi phải làm những việc hại người. Những cái nhìn lảng tránh và cử chỉ lóng ngóng của vài người khi tôi tiễn, tôi dìu họ ra về đã buộc tôi phải tin vào điều đó.

Niềm tin của tôi vào tính thiện của con người còn được tôn thêm bởi sự chia sẻ của chính những người mà nhiều người thường thành kiến (một anh công an phường, một cựu bí thư chi bộ đảng cộng sản, người cùng khu phố đã có trên 30 năm tuổi đảng cộng sản). Tôi không thể cho phép mình nghi ngờ sự chân thành của những người với những lời chia sẻ: “Anh rất lo lắng cho Sơn” hoặc “Anh rất không đồng ý với những người đã chỉ đạo việc này. Chính trị phải xử sự cho đàng hoàng chứ!

Và niềm tin về con đường mà tôi đã đeo đuổi trong nhiều năm qua lại lớn hơn nữa khi lần đầu tiên tôi cảm nhận được rõ ràng, như sờ thấy, nắm thấy sự chuyển động trong nhận thức của người dân trong nước. Số người gửi SMS, gọi điện thoại trực tiếp động viên tôi từ trong nước[1], lần này, nhiều hơn ở ngoài nước. Những chia sẻ đã đến từ khắp ba miền Bắc Trung Nam và từ hoàn cầu. Nhiều blog và website trong nước đã đăng tải giúp tôi bản “Tường trình và kiến nghị khẩn”. Điều đáng nói hơn nữa là đa phần đều là những người tôi chưa quen biết. Và xúc động hơn là có cả các anh, các chú cựu chiến binh, thương binh tôi chưa từng gặp mặt. Tôi xúc động vì nhiều người đã lại băng qua được những nỗi sợ mà tôi đã phải gắng vượt qua. Tôi xúc động vì chúng ta lo lắng cho nhau thật sự, chúng ta đang nghe được nỗi lòng của nhau. Chúng ta đang giúp nhau cảm được đúng và sâu hơn nghĩa của hai chữ “đồng bào”, dù chúng ta có hay không có quốc tịch Việt nam. Chúng ta đang rợn được nỗi nhục của kẻ nô lệ và sự đắng cay của người dân mất nước.

Con đường của tôi và chúng ta đang đi vẫn còn dài ở phía trước. Những bất trắc, hiểm nguy, cạm bẫy vẫn luôn rình rập và chắn ngang trên con đường đó. Nhưng niềm tin trong tôi vào con đường đó lại vừa được lớn lên thêm sau sự cố ngày 23/3. Sự cố đó đã làm cho tôi càng tin thêm vào sức mạnh của truyền thông tự do và tình yêu thương. Truyền thông tự do sẽ giải thoát con người khỏi sự vô minh và tình yêu thương sẽ giúp chúng ta vượt qua lòng thù hận.

Phạm Hồng Sơn
24/03/2010
(Một ngày sau khi bị những người tự xưng là “cựu chiến binh” khủng bố tại nhà)

--------------------------------

[1] Sau đây là 03 trong số những chia sẻ đến với tôi từ trong nước:

- “Anh Sơn thân mến, tuy không biết anh nhưng tôi nghĩ lúc này việc thăm hỏi động viên anh là điều mà một công dân như tôi có thể làm được. Chân thành chia sẻ và chúc anh “Chân cứng đá mềm”. Tạm biệt.” SMS gửi lúc 21:24:38, 23-Mar- 2010. Từ số máy 0903…

- “Anh Sơn hãy yên tâm, tôi tên L.V.T hiện nay tôi là thương binh 2/4 và cũng là cựu chiến binh như người tới nhà anh làm cái việc bỉ ổi kia với anh. Tôi ủng hộ những bài anh viết. Chúc anh khỏe để viết bài tiếp.” SMS gửi lúc 12:57:18, 24-Mar-2010. Từ số máy 0908…Anh thương binh này còn gửi thêm SMS cho biết rõ họ tên và địa chỉ rõ ràng của anh cho tôi, nhưng vì quyền riêng tư và để hạn chế tối đa những phiền lụy không nên có tới anh nên tôi không ghi ra ở đây.

- Một anh gọi điện từ Đà Nẵng giới thiệu anh là cựu chiến binh của Mặt trận Tây nam, tham gia chiến dịch Tây nguyên, là bạn đồng ngũ của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc, có 40 năm tuổi Đảng. Anh bức xúc với những hành động của những người xưng là cựu chiến binh như thế, anh động viên tôi bình tĩnh và vững tâm. Anh nói với tôi “Cần phải có những phản biện để làm cho chính sách của nhà nước và của Đảng tốt hơn.”

Nguồn: DCCTVN

Cách đây mấy chục năm, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã thuộc về Trung Quốc?

Ngày 2 tháng 9 năm 2009, tại một cuộc đấu giá của tập đoàn Sotheby ở London, có một sản vật rất hấp dẫn. Đó là một tấm bích chương của Trung Quốc, trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà được khẳng định là thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc.

Các nhân viên của Sotheby đã trình bày tấm bích chương này trước những người đi đấu giá. Trong bích chương có ghi rõ hàng chữ “Cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là cuộc xâm lăng vào Trung Quốc”.

 
Local time November 2nd, 2009. London, England, Workers at Sotheby's Auction House displayed a poster,
on it wrote: America's invasion of the Democratic Republic of Vietnam is an invasion of China.

 

-------------

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2010

Ngàn Năm Thăng Long trong mắt người nghệ sỹ

2010-03-24

Giới văn nghệ sỹ, những người suốt cả cuộc đời gằn bó với Hà Nội đã nghĩ gì về ngày đại lễ Ngàn Năm Thăng Long. Mặc Lâm xin gởi đến qúy vị ý kiến của một số văn nghệ sỹ.

Screen capture: ngannamthanglong.gov

Ngàn Năm Thăng Long. Screen capture: ngannamthanglong.gov

Câu nói Ngàn Năm Thăng Long từ hai năm nay đã trở nên thân quen với người dân thủ đô khi nhà nước vận động cả nước chuẩn bị ăn mừng ngày kỷ niệm này vào tháng 10 tới đây.

Biến cố này có thể người dân Hà Nội chưa bao giờ chứng kiến trong đời, sự nôn nao chờ đợi ngày đại lễ đang âm ỉ trên từng lãnh vực, từ kinh doanh nhỏ lẻ cho tới dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí tất cả đang đua nhau chuẩn bị cho 10 ngày hội lớn mà theo dự kiến sẽ có hàng triệu người tham gia.
Tính chất hội hè thấy rất rõ trên mọi công trình đang chuẩn bị hiện nay. Nhà nuớc không ngần ngại khi bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng mới hay trùng tu những địa điểm lịch sử. Nhiều công trình liên quan tới ngày hội cũng đang được nhanh chóng hoàn thành cho kịp thời hạn.

Thì cái điều này không biết là cái cách làm của nhà nước và thủ đô Hà Nội họ sẽ hy vọng mang lại những hiệu quả gì lớn hơn những cái sự mình phải chi tiền bạc có tới tay ai hay không thì không thể tính được.

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo

Hà Nội sẽ đổi mới sau lễ hội?

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo cho biết suy nghĩ của ông về biến cố này với những đắn đo giữa sự tôn vinh văn hóa và những yếu tố không cân bằng đang xảy ra hiện nay:
- Ở dất nước nào thì cái vấn đề thủ đô cũng rất là quan trọng vì nó là đầu não, nó là trái tim, nó là tất cả những cái gì mà để đại diện cho văn hiến, kinh tế, chính trị của đất nước đó. Cái việc nhắc lại truyền thống của một thủ đô thì điều ấy luôn luôn là tốt, luôn luôn là hợp ý tất cả mọi người dân và đất nước.

Ở Việt Nam mà làm cái kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long thì họ cũng nhắc đến một truyền thống, là một cái truyền thống yêu nước và cống hiến, thì tôi nghĩ đấy là một cái việc cũng đáng làm, chỉ có cái điều là trong điều kiện kinh tế của đất nước và nhân dân nó cũng đang còn thấp, đời sống cũng đang rất vất vả thì cái việc chuẩn bị cho ngày đại lễ như thế thì tôi nghĩ là rất tốn kém, mà thậm chí là rất quá tốn kém.

Thì cái điều này không biết là cái cách làm của nhà nước và thủ đô Hà Nội họ sẽ hy vọng mang lại những hiệu quả gì lớn hơn những cái sự mình phải chi tiền bạc có tới tay ai hay không thì không thể tính được. Nhưng mà dầu sao nó cũng có một cái điều kiện để mà thay đổi phần nào cái bộ mặt của thủ đô Hà Nội, thì điều ấy là điều

Thành Thăng Long thời Pháp thuộc. Photo courtesy of Wikipedia
Thành Thăng Long thời Pháp thuộc. Photo courtesy of Wikipedia
mong muốn.
Giới trẻ xôn sao chờ đợi ngày hội này qua các buổi trình diễn nghệ thuật hoành tráng. Người lớn thì sẵn sàng cho những ngày nghỉ lễ vui chơi với gia đình. Cả xã hội hình như đang vận hành cùng với guồng máy chính quyền trong biến cố được xem là lịch sử này. Thế nhưng đối với nhà thơ kiêm đạo diễn phim Phan Huyền Thư thì không mấy quan tâm lắm tới những xao động chung quanh. Chị nói:
- Thực ra thì em nghĩ rằng cái việc Nghìn Năm Thăng Long ấy nếu nó là việc của lịch sử, việc của trời đất, việc của dân tộc, một thể chế nào đi chăng nữa thì em không nghĩ rằng nó là cái gì riêng của nhà nước hay là của gì cả. Tất cả kể cả nhà nước cũng như là các cơ quan tổ chức cũng như là mỗi một người dân, một công dân, đặc biêt là Hà Nội như em, đều có một cách khác để kỷ niệm cho cái lễ hội này một cách khác nhau.

Em nghĩ là đối với nhiều thế hệ con người là cũng rất tốt, rất tích cực và rất là cần thiết. Nhưng mà vấn đề em nghĩ tới là sau một nghìn năm thì OK, rồi từ một nghìn năm trở đi thì thế nào đây, thì đấy là câu hỏi mà mình nghĩ đến .

Cô Phan Huyền Thư, nhà thơ-đạo diễn

Nhưng mà thực hiện những cái đó thì nó cũng là cái tốt thôi, nhưng mà nó không phải là cái gì đó quá lớn để có thể mất nhiều thời gian quan tâm đâu vì mình còn nhiều việc khác. Thực ra thì cái kiến thức về lịch sử của em thì nó chả đợi cái dịp này.

Tự em trau dồi và tự em tìm hiểu lịch sử dân tộc từ lâu rồi. Còn cái việc khuếch trương tất cả những kỷ niệm này để giúp cho cá nhân em thì em không biết, em nghĩ là đối với nhiều thế hệ con người là cũng rất tốt, rất tích cực và rất là cần thiết.

Nhưng mà vấn đề em nghĩ tới là sau một nghìn năm thì OK, rồi từ một nghìn năm trở đi thì thế nào đây, thì đấy là câu hỏi mà mình nghĩ đến .

Sự tham gia của người Trung Quốc

Như mọi dự án lớn nhỏ từ trước tới nay, Hà Nội Ngàn Năm vẫn không tránh khỏi những vết xe cũ mà nhiều người cho là khó thể tránh, đó là vấn nạn chia chác trong dự án. Công trình càng lớn thì mối lợi càng nhiều khiến không ít người có trách nhiệm khó cưỡng lại sức cám dỗ tới việc rút ra một ít từ khối lượng tiến quá lớn của dự án.

Tượng Lý Thái Tổ tại Hà Nội
Tượng Lý Thái Tổ tại Hà Nội. Photo courtesy of Wikipedia
Phim Lý Thái Tổ là một. Báo chí theo dõi cuốn phim từ khi kịch bản đầu tiên hoàn thành, rồi sửa đi sửa lại, qua tay nhiều đạo diễn, và cuối cùng cuộn phim được giao cho một đạo diễn người Trung Quốc phụ trách.
Mọi công đoạn đều được hoàn tất từ Trung Quốc, từ việc thuê áo quần, đạo cụ cho đến quay phim, hậu kỳ…đều do Trung Quốc đảm trách. Cũng may diễn viên là người Việt nên dân chúng thủ đô không phải nghe người lồng tiếng.
Nhà biên kịch kiêm đạo diễn Doãn Hoàng Giang cho biết suy gẫm của ông, cũng như những dự tính mà ông từng nghĩ tới khi được mời làm tổng đạo điễn cho chương trình Ngàn Năm Thăng Long trước đây:

Mọi công đoạn đều được hoàn tất từ Trung Quốc, từ việc thuê áo quần, đạo cụ cho đến quay phim, hậu kỳ…đều do Trung Quốc đảm trách. Cũng may diễn viên là người Việt nên dân chúng thủ đô không phải nghe người lồng tiếng.

- Trước hết, với Hà Nội thì nó là thủ đô của cả nước mà lại là một thủ đô có một nghìn năm, nghìn năm văn hiến, trải qua bao nhiêu biến thiên lịch sử. Bây giờ kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long thì tất cả những người trong đất nước này thì đều mong muốn đóng góp một cái gì đó cho Nghìn Năm Thăng Long cho nó tốt đẹp, cho Hà Nội nó đẹp đẽ lên, cho Hà Nội nó văn minh lên, cho Hà Nội nó lịch sự lên, chớ không phải chỉ là một cái ngày kỷ niệm không thôi. Vấn đề là sau cái kỷ niệm đấy Hà Nội lại là cái gì? Nhân cái kỷ niệm này phải làm sao biến Hà Nội trở thành một Hà Nội văn minh lịch sự hơn, đó mới là điều quan trọng.

Cái này người ta không nghĩ đến vấn đề kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long mà nó như là một miếng bánh chia phần ra, mỗi người làm một tí một tí thành ra cái tổng thể để cho kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long, nó vẫn không hay. Cái kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long nó thì phải để lại cho con cháu mình một điều gì đó. Thí dụ như có một nghìn cái đài lửa được rải khắp đất nước để kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long. Trên cái đài lửa ấy thì có thể mỗi một tỉnh, mỗi một thành phố họ sẽ làm một cái đài theo ý của họ, và trên cái đài lửa ấy thì khắc tên các danh nhân của địa phương ấy, những người đã đóng góp cho đất nước này. Đấy, đại khái kiểu như thế.

Nhà nước đang có vẻ lệch hướng khi đặt trọng tâm quá nhiều vào các chương trình lễ hội mà không chú trọng đúng mức tới tầm quan trọng của ý nghĩa lịch sử để tôn tạo những hình ảnh hào hùng mở mang bờ cõi của cha ông. Lễ hội càng nhiều thì ý nghĩa đích thực của lịch sử càng ly tán.

Quan trọng là bài học lịch sử ngày đại lễ để lại

Những vết đen đang làm cho ngày đại lễ mất dần vẻ đẹp của một ngày trọng đại. Nhà nước đang có vẻ lệch hướng khi đặt trọng tâm quá nhiều vào các chương trình lễ hội mà không chú trọng đúng mức tới tầm quan trọng của ý nghĩa lịch sử để tôn tạo những hình ảnh hào hùng mở mang bờ cõi của cha ông.

Lễ hội càng nhiều thì ý nghĩa đích thực của lịch sử càng ly tán. Người ta không thể tập trung ý nghĩ trên mỗi chặng đường giữ nước của cha ông bằng pháo bông, bằng ca nhạc hiện đại hay những đám rước linh đình với múa rồng, rước lân  tràn ngập đường phố.
Đạo diễn Doản Hoàng Giang cho rằng phải để lại điều gì đó đáng nhớ đối với Ngàn Năm Thăng Long hơn là chạy theo những cuộc vui chơi vô ích:
- Phải để lại điều gì cơ, chứ còn kỷ niệm xong rồi nhảy nhót, rồi vui chơi, rồi là đánh trống, rồi là múa hát, xong rồi nghìn năm thế mà thôi thì cũng không hay. Nhân kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long này thì Hà Nội phải có một biến chuyển lớn cơ, chứ Hà Nội bây giờ nó có vẻ đẹp cổ kính của ngày xưa nhưng mà đồng thời bây giờ nó cũng luộm thuộm, nó nhếch nhác, nó nhiều thứ lôi thôi lắm.

Giao thông thì hỗn loạn, đường phố thì chật chội, rác rưởi này, vân vân, tức là bây giờ nó phải làm thế nào để Hà Nội kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long, tức là kỷ niệm một nghìn năm văn hiến của Hà Nội thì Hà Nội đừng mất đi cái màu sắc văn hiến của mình, đừng mất đi vẻ đẹp của mình, đừng mất đi cái thanh lịch của mình. Đấy, cái điều đó mới quan trọng.
Ý kiến cho rằng đầu tư thêm vào các bài học lịch sử để dạy dỗ các em ý nghĩa đích thực của việc dời đô vẫn tốt hơn những món tiền lớn lao vung vãi trong lòng Hà Nội để rốt lại có thể sẽ còn nhiều chuyện nhiêu khê không ai đoán trước được sẽ xảy ra làm cho hình ảnh Thăng Long lu mờ thêm trong lòng người dân cả nước.

Theo dòng thời sự:

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Mỹ lại chỉ trích VN về nhân quyền

Phúc trình thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề về nhân quyền, trong khi tổ chức RSF giữ Việt Nam trong danh sách 'Kẻ thù của internet'.

Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới năm 2009 được công bố hôm 11/03/2010.

Hàng năm Bộ Ngoại giao Mỹ đều ra phúc trình này với các nhận định về nhân quyền ở các nước để chính phủ có thể đưa ra quyết định về đối ngoại.

Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa có phản ứng trước phúc trình mới nhất, nhưng mọi năm Việt Nam luôn bác bỏ chỉ trích của phía Mỹ và nói rằng nhân quyền được tôn trọng ở trong nước.

Phần về Việt Nam trong báo cáo 2009 của Bộ Ngoại giao Mỹ viết rằng cuộc bầu cử Quốc hội 2007 đã không được tổ chức một cách tự do và bình đẳng vì các ứng cử viên đều phải qua chuẩn thuận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

'Còn là vấn đề'

"Hồ sơ nhân quyền của chính phủ Việt Nam vẫn còn là vấn đề."

Phúc trình giải thích: "Người dân không thể thay đổi chính phủ, hoạt động chính trị đối lập bị cấm đoán".

Văn bản này cũng đề cập các vụ bắt bớ và giam cầm bất đồng các nhà hoạt động chính trị đối kháng trong năm 2008. Bên cạnh đó, phúc trình cũng nói tới việc nhiều biên tập viên và phóng viên gặp rắc rối khi viêt về các vụ tham nhũng lớn, một số blogger bị bắt vì chỉ trích chính quyền vv..

Bản phúc trình nhận xét: "Tuy tính chuyên nghiệp của ngành công an đã được cải thiện, tham nhũng vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng".

"Chính quyền tiếp tục cấm các tổ chức nhân quyền độc lập" và tình trạng phân biệt đối xử, bạo hành với phụ nữ vẫn đang tiếp tục.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng cho rằng chính phủ Việt Nam tiếp tục kiểm soát tự do báo chí, ngôn luận, đi lại, tụ họp và lập hội.

Bản phúc trình cũng đề cập tới các trường hợp mà phía Mỹ cho là vi phạm nhân quyền, như vụ Bát Nhã của các tu sinh Làng Mai.

Một số dân biểu Mỹ đã lên tiếng đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách Các nước gây quan ngại về Nhân quyền và Tự do Tôn giáo (CPC). Tuy nhiên các yêu cầu như vậy đã được đưa ra nhiều năm nay nhưng không được chính phủ chấp thuận.

Trong khi đó, tổ chức theo dõi tự do báo chí Phóng viên không Biên giới (Reporters Without Borders) giữ tên Việt Nam lại trong danh sách Kẻ thù của mạng internet, bên cạnh Trung Quốc, Cuba, Ai Cập, Iran, Miến Điện, Bắc Hàn, Ảrập Saudi, Syria, Tunisia, Turkmenistan và Uzbekistan.

Việt Nam đã bị đặt vào danh sách này hồi năm ngoái.

Nguồn: BBC Vietnamese

Phúc trình thường niên năm 2009 về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ (phần nói về Việt Nam)

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Hy vọng và chờ đợi

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một trong các tác giả bức thư kiến nghị về việc giao đất cho nước ngoài trồng rừng, nói ông trông đợi Chính phủ dừng các dự án dù có phải bồi thường.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận về việc cho nước ngoài thuê đất trồng rừng, trong đó thừa nhận tình trạng một số địa phương cho thuê rừng tự nhiên và đất tại các vùng nhạy cảm.

Công văn 405/TTg-KTN của thủ tướng cũng chỉ đạo không cấp mới giấy phép đầu tư và không ký tiếp hợp đồng cho thuê trong thời gian một chương trình kiểm tra-rà soát liên bộ được tiến hành.

Ông Nguyễn Trọng Vĩnh cho hay ông chưa được đọc công văn của thủ tướng, nhưng sự hậu thuẫn và ủng hộ mà các bạn bè, cựu chiến binh và người dân bình thường cho kiến nghị của ông và của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên khiến ông hy vọng sẽ có cách giải quyết tốt đẹp cho chủ đề gây bức xúc dư luận này.

Tướng Vĩnh, người từng giữ chức Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, nói với BBC từ Hà Nội: "Tôi hy vọng là như vậy, và chờ đợi (Chính phủ) ra quyết định."

Ông khẳng định nếu cần phải bồi hoàn tiền đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trong lĩnh vực thuê đất trồng rừng ở Việt Nam, thì cũng nên làm ngay.

"Trong kiến nghị, chúng tôi đã nói rõ: nếu đã lỡ ký kết, thì phải hủy hợp đồng và bồi thường cho nước ngoài để khỏi mất rừng."

Tố giác của các vị cách mạng lão thành nói 10 tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng cho một số công ty nước ngoài với tổng diện tích trên 300.000 ha.

Báo cáo sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa lệnh thủ tướng xác nhận một số địa phương đã cho thuê đất chưa đúng quy định.

Công văn của thủ tướng thì viết: "Có nơi đã cho thuê đất chồng lấn lên phần đất đã được giao và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình nông dân địa phương".

"Có nơi đã cho thuê cả diện tích đất có rừng tự nhiên; quy hoạch cho các dự án thuê đất vào những vùng nhạy cảm đã phải thu hồi lại".

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói thực tế cho tới nay, các tỉnh mới chỉ quyết định cho thuê và cho phép liên doanh, liên kết được gần 34.000 ha (11% so diện tích dự kiến). Trong số đó, diện tích đã cho thuê là trên 15.600 ha và diện tích cấp phép liên doanh, liên kết giữa các nhà đầu tư với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước là trên 18.000 ha.

Ngày thế giới chống kiểm soát internet

Thứ sáu 12-3-2010 này được Reporters Sans Frontieres, tức Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF, trụ sở tại Paris, Pháp chọn là “Ngày Thế Giới Chống Kiểm Soát Internet”. 


Danh sách những người bị tù tội tại Việt Nam vì bày tỏ chính kiến qua internet, được đăng tải trên trang web của RSF.
Theo RSF, internet là phương tiện thông tin tự do, nhanh chóng và hữu ích, một kho tàng trí thức quý báu của nhân loại, nhưng lại bị các chế độ độc tài hạn chế, ngăn cấm và kiểm soát bằng mọi cách, vì xét thấy bất lợi cho chính sách cầm quyền độc đoán của họ.
Nhân dịp Tổ chức Phóng viên Không biên Giới phát động “Ngày Thế Giới Chống Kiểm Soát Internet”, Đỗ Hiếu hỏi chuyện bà Lucie Morillon, Trưởng Văn phòng Internet của RSF.

Hãy cùng nhau lên tiếng
Đỗ Hiếu: Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là “Ngày Thế Giới Chống Kiểm Soát Internet” mang ý nghĩa và mục đích gì, thưa bà?

Hãy bày tỏ thái độ rõ rệt, hãy sát cánh với nhau hầu tìm cách hoá giải, phá vỡ sự gia tăng kiểm soát trên mạng.

Bà Lucie Morillon, RSF

Lucie Morillon: Những tháng gần đây, chắc quý vị cũng nhận thấy rõ là tại một số quốc gia đã có sự kiểm soát chặt chẽ hơn, nghiêm khắc hơn trên mạng Internet.
Chính vì thế mà công luận trên toàn cầu trong đó có RSF chúng tôi cho rằng, mọi người cần phải có phản ứng chung đối với những biện pháp độc đoán đó và phương cách hay nhất lúc này, là hãy bày tỏ thái độ rõ rệt, hãy sát cánh với nhau hầu tìm cách hoá giải, phá vỡ sự gia tăng kiểm soát trên mạng.
Hãy cùng đóng góp ý kiến, quan điểm, biện pháp kỹ thuật, song song với việc đẩy mạnh vận động yêu cầu các chánh phủ phi dân chủ, trả tự do cho các phóng viên, nhà báo, bloggers bị cầm tù vì đã nói lên nguyện vọng yêu chuộng dân chủ, công lý, lẽ phải trên mạng Internet.

RSF phát động "Ngày Thế Giới Chống Kiểm Soát Internet" 12-3-2010. RFA PHOTO 
RSF kêu gọi mọi người hãy tích cực ủng hộ những ai còn bị cầm tù chỉ vì họ dám công khai đòi hỏi quyền tự do chính đáng của nhân loại qua phương tiện Internet. 

Danh sách “kẻ thù của Internet”
Đỗ Hiếu: Thưa bà, hàng năm RSF đều có đúc kết, phân tích và phổ biến danh sách các nước trên thế giới bị xem là “kẻ thù của Internet”, vậy năm 2010 này, những quốc gia nào có tên vào bảng xếp hạng đó?
Lucie Morillon: Năm nay danh sách này cũng gần giống như năm rồi vậy, trước hết phải kể đến Ả Rập Xê-út, Miến Điện, Trung Quốc, tiếp theo đó là Iran, Ai cập, Bắc Hàn, Cuba, Uzebekistan, Syrie, Tunisie, Turmenistan và Việt Nam, là các quốc gia không chấp nhận việc tự do sử dụng Internet.
Bên cạnh các nước này còn có nhiều quốc gia khác bị xem là hay “dòm ngó” vào dân cư trên mạng, theo dõi họ bằng cách này hoặc cách khác, đó là Australia, Belarus, Bahrain, Nam Hàn, Eritree, Malaysie, Sri Lanka, Thái Lan. Hai nước mới có tên trong danh sách hạn chế Internet là Nga và Thổ Nhĩ Kỳ.
Đỗ Hiếu: Theo ghi nhận và đánh giá của RSF về vấn đề kiểm soát Internet thì bản xếp hạng phổ biến năm 2010 có điều gì khác với năm vừa qua không?
Lucie Morillon: Xin thưa với quý vị là danh sách vừa được công bố vào lúc 20 giờ thứ Năm 11-3-2010 tính theo giờ Paris, là kết quả nghiên cứu trọn năm 2009. Phải nói ngay rằng trong năm 2009, số quốc gia tăng cường kiểm soát lên tới 60 nước, tức là kể như gấp đôi so với năm 2008.
Tuy nhiên, cho dù các chánh quyền độc đoán có đối xử mạnh tay hơn đối với các “cư dân trên mạng” thì sự đối kháng từ những đối tượng này cũng mãnh liệt, sôi nổi, tích cực, sáng tạo và đồng bộ hơn. 
Họ nghĩ ra cách thức làm thế nào để chống đỡ hữu hiệu việc ngăn chặn, cấm đoán, phong toả Internet, và chúng tôi tin rằng những việc họ làm đã mang lại ít nhiều kết quả, có nghĩa là “qua mắt” được bộ máy sàn lọc, những “bức tường lửa” do các chánh phủ toàn trị thiết kế và quản lý.
Điều ấy có nghĩa là hành vi ngăn chặn, cấm đoán Internet đã không mang lại kết quả trọn vẹn, như các thế lực cầm quyền mong muốn làm cho bằng được.

Trường hợp Việt Nam
Đỗ Hiếu: Hầu như năm nào Việt Nam cũng được đưa vào danh sách những kẻ thù hàng đầu của Internet, bà có thể nói rõ hơn về sự đánh giá này không?
Lucie Morillon: Điều đáng nói nhất là tại Việt Nam trong những tháng gần đây nhiều đợt đàn áp mạnh tay đã xảy ra với những nhà dân chủ, người cầm bút, trí thức, bloggers, nhà báo, luật sư…
Trước đây, vì muốn được kết nạp vào các định chế quốc tế như WTO, Hà Nội đã bày tỏ thịên chí khiến người ta cho là Việt Nam thực sự muốn cải tiến dân chủ, tôn trọng nhân quyền. Nhưng nay thì chuyện cởi mở ấy trở thành xa vời, bị rơi vào quên lãng.
Hơn nữa theo dư luận thì trước khi tổ chức đại hội đảng cộng sản vào năm tới, nhà nước Việt Nam đang cho gia tăng sự đàn áp đối với các nhân vật bất đồng chính kiến, đặc biệt là họ chú trọng đến những tiếng nói thường xuyên bày tỏ ý kiến đòi hỏi dân chủ, tự do trên Internet, yêu cầu đa đảng, đa nguyên.
Qua tin tức thời sự, công luận cũng biết rõ là Hà Nội rất nhạy cảm đối với những ai dám công khai phản đối chính sách bá quyền của Bắc Kinh, cũng như đã mạnh mẽ phê phán việc Hà Nội cắt đất, nhượng biển cho Hoa Lục, đụng chạm đến thực tế đó là bị bắt bớ, giam cầm, kêu án nặng nề.

Hiện nay Internet là một phương tiện thông tin bình dân, rất phổ biến tại Việt Nam, mà giới trẻ là thành phần đặc biệt ưa chuộng và vào truy cập ngày càng đông hơn.

Bà Lucie Morillon, RSF

Hiện nay Internet là một phương tiện thông tin bình dân, rất phổ biến tại Việt Nam, mà giới trẻ là thành phần đặc biệt ưa chuộng và vào truy cập ngày càng đông hơn.
Đa số người Việt trong nước thường vào các trang mạng như Vietnamnet, Vietnamnews, VNExpress vì có nhiều đề tài thời sự hấp dẫn được nói đến, từ nạn tham nhũng, của quyền, đạo đức xã hội suy đồi, tranh chấp quyền lực chính trị, mua quan bán chức, chạy theo thành tích, dân oan khiếu kiện đất đai...

Những sự việc này được các bloggers tìm tòi, điều tra, phanh phui sự thật, phơi bày ra ánh sáng, nên được dư luận ráo riết theo dõi, vì những hiện tượng bị xem là tiêu cực, nhạy cảm như thế, không khi nào được cơ quan ngôn luận nhà nước nhắc tới trên báo đài. Nhà nước Việt Nam đã ban hành một số thông tư, quy định, điều lệ nhắm vào mục tiêu ngăn cản quyền tự do ngôn luận, trong đó có các biện pháp truy cản Internet.
Mặt khác, cũng trong chủ trương khoá miệng những tiếng nói đối lập, những chỉ trích về việc Hà Nội cho phép Trung Quốc khai thác bauxite, lấn chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, hàng chục nhà dân chủ, bloggers, nhà báo đã bị kêu án nặng nề tại các phiên toà ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn.
Nhà nước đã cáo buộc họ vào những tội danh như vi phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống phá nhà nước, lạm dụng quyền tự do dân chủ hay cấu kết với ngoại bang để lật đổ chế độ.

Trong chủ trương khoá miệng những tiếng nói đối lập, những chỉ trích về việc cho phép Trung Quốc khai thác bauxite, lấn chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, hàng chục nhà dân chủ, bloggers, nhà báo đã bị kêu án nặng nề tại các phiên toà ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn.

Bà Lucie Morillon, RSF

Đỗ Hiếu: Dư luận vẫn thường xuyên bác bỏ những cáo buộc mà Hà Nội gán ghép cho những nhà hoạt động dân chủ vừa được bà nhắc đến, nhân Ngày Thế giới chống kiểm soát Internet, RSF có thể làm gì thiết thực cho những người còn bị ngồi tù thưa bà?
Lucie Morillon: Phải xin thưa là những bản án nặng nề mà Hà Nội dành để cho các nhân vật bất đồng kiến, với tổng số trên 20 người đã làm dư luận rất quan ngại và có phản ứng đều khắp, nhiều chánh phủ và tổ chức quốc tế gởi công văn can thiệp với nhà nước Việt Nam, yêu cầu trả tự do vô điều kiện cho các đối tượng đó, đồng thời khuyến cáo Hà Nội phải chấp nhận tự do Internet.
Đây là một trong những biểu hiệu đích thực của quyền làm người ngoài ra cũng là một phương tiện hữu hiệu tạo ra sự phát triển kinh tế, xã hội. Hy vọng rằng công luận quốc tế sẽ có thái độ quyết liệt hơn, cứng rắn hơn hầu buộc Hà Nội ngưng đàn áp phong trào dân chủ cũng như chấm dứt ngay chính sách kiểm duyệt Internet.
Riêng RSF chúng tôi, thì mới đây đã khẩn yêu cầu Liên hiệp Châu âu hãy ngưng mọi cuộc đối thoại về nhân quyền với chánh phủ Việt Nam, để phản đối việc Hà Nội cầm tù 21 nhà văn, nhà báo và bloggers. Hãy nuôi hy vọng là những người kém may mắn đó sẽ không bao giờ bị bỏ quên.

Đỗ Hiếu: Xin cám ơn bà Lucie Morillon!

RFA Việt Nam