Hiển thị các bài đăng có nhãn tríthức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tríthức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Người trí thức bị ruồng bỏ

Năm 1989, một sinh viên cũ từ xứ sở bị đô hộ xưa trở lại thăm “mẫu quốc” đã được hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Paris 7, một trong nhũng trường uy tín nhất của nước Pháp, khẩn khoản: “Nhân dịp giáo sư sang đây, ban giám hiệu chúng tôi xin dành trọn một ngày để kính mời giáo sư giới thiệu phương pháp và kinh nghiệm học tập của giáo sư với toàn trường chúng tôi”, bởi vì “Đã sáu mươi năm qua, trên đất Pháp này chưa có sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục: đạt hai bằng tiến sĩ quốc gia Pháp ở tuổi 22.

Người cựu sinh viên ấy tên là Nguyễn Mạnh Tường.

Ông sinh năm 1909 ở phố Hàng Đào, Hà Nội. Theo học tại trường Albert Sarraut, năm 16 tuổi ông đỗ tú tài rồi sang Pháp du học từ năm 1927. Năm 1932 bảo vệ thành công luận án tiến sĩ luật “Cá nhân trong đô thị cổ Việt Nam” tại Đại học Montpellier. Một tháng sau tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn chương “Việt Nam trong văn chương Pháp”.

Khi ông về nước, hai viên mật thám Pháp, trong đó có Louis Marty, gặp và gợi ý đưa ông vào làm thượng thư trong triều Bảo Đại. Bị gây khó khăn do từ chối lời mời này, ông chỉ ở nhà ba tháng rồi lại trở lại Pháp. Ông đã bỏ ra năm năm trời đi tham quan và nghiên cứu các nước châu Âu: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập… để viết bốn cuốn sách bằng tiếng Pháp: Nền tảng Pháp, Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Kinh nghiệm và nước mắt tuổi trẻ, Du lịch và cảm xúc (kịch).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy học ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An).

Do bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ trường về mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự số 1 và số 2 Mai Xuân Thưởng. (Những biệt thự này về sau đã được gia đình ông hiến tất cả cho Nhà nước để rồi gần đây được sử dụng làm trụ sở cơ quan tiếp dân của Thanh tra Chính phủ).

Ngay từ năm 1936, khi trở về Việt Nam, Nguyễn Mạnh Tường đã dành thời gian học tiếng Trung, tham gia phác hoạ văn phạm Việt Nam với nhóm Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và hợp tác làm tự điển với Khai trí Tiến Đức.

Ông đã góp vào kho tàng tri thức Việt Nam 18 tác phẩm quý gồm 14 cuốn viết bằng tiếng Pháp và 4 tác phẩm tiếng Việt, như:

* Văn phạm Việt Nam (cùng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, 1941)
* Việt Nam Tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức)
* Construction de l’Orient (1937)
* Sourires et Larmes d’une Jeunesse (1937)
* Pierres de France (1940)
* Apprentissage de la Méditerranée (1940)
* Le Voyage et le Sentiment (1940)
* Một cuộc hành trình (1955)
* Un Excommunité – Hà Nội: 1954-1991: Procès d’un intellectuel (Quê Mẹ, Paris 1992)
* Lý luận giáo dục châu Âu: Từ Érasme tới Rousseau thế kỷ XVI, XVII, XVIII ( NXB Khoa học Xã hội, 1994)
* Aikhylos(Eschyle) và bi kịch cổ đại Hi Lạp (NXB Giáo dục 1996)
* Virgile – nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại (NXB Khoa học Xã hội, 1996)

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được mời dạy văn chương Tây phương tại trường Đại học Văn khoa do ông Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng.

Năm 1946 Hồ Chủ tịch cử Nguyễn Hữu Đang đến trịnh trọng mời ông để giao một nhiệm vụ quan trọng.

Ông kể: “Cụ Hồ nói: Ta sẽ ký với Pháp một tạm ước, nhưng lại muốn đạt được cao hơn một tạm ước. Sẽ có hội nghị, lúc đầu ở Việt Nam (Đà Lạt), sau ở Pháp. Nhờ ngài xây dựng cho lập trường Việt Nam để đi đấu tranh. Tôi từ chối, nói còn có nhiều người giỏi hơn tôi. Cụ Hồ khẩn khoản:

Tôi đã hỏi nhiều anh em, họ đều bảo chỉ có ngài làm được, xin ngài về suy nghĩ và giúp cho Chính phủ. (Hồi này cụ Hồ cứ gọi tôi là ngài!) Đi Đà Lạt là đoàn liên hiệp các đảng phái. Trưởng đoàn là Nguyễn Tường Tam. Phó là Võ Nguyên Giáp. Không thuộc đảng phái nào thì có Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên và tôi. Lúc tiễn đoàn lên đường, cụ Hồ nói to: Xin chúc anh em đi thành công, đặc biệt tôi có lời khuyên: Nội bộ đoàn kết, phải đấu tranh găng nhưng không được gãy”.[1]

Một “sự cố” ở Hội nghị này cũng đã được ghi lại như sau: “Kết thúc Hội nghị, D’Argenlieu có tổ chức tiệc trà tiễn đoàn. Một sĩ quan hầu cận Pháp đến nói: Thủy sư Đô đốc muốn gặp riêng ngài. Tôi nói: Tôi chưa hân hạnh được quen biết ngài Thủy sư Đô đốc. Có anh em nói: Nó mời thì anh cứ đi. Tôi đi xuyên qua phòng họp, đông khoảng một trăm người, đến gặp nó, chỉ toàn nói chuyện xã giao vớ vẩn. Thế mà khi về Hà Nội, có dư luận nói: Tường là tay trong của Pháp, Tường phản quốc”. Hoàng Xuân Hãn tức mình, đến gặp Võ Nguyên Giáp, dư luận mới được dập tắt.”[2]

Sau Hội nghị Đà Lạt ông còn được cử đi dự Hội nghị Bảo vệ Hòa bình châu Á-Thái Bình Dương ở Bắc Kinh năm 1952 và Đại hội Hòa bình Thế giới ở Wien năm 1953.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Mạnh Tường tản cư và vào dạy dự bị đại học tại phố Đu Thanh Hóa. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông kể niềm hân hoan, tự hào khi trở về Thủ đô: “Ngày 10 tháng 10 năm 1954 đúng 10 giờ sáng, lực lượng kháng chiến trọng thể tiến vào Thủ đô. Dẫn đầu là đoàn quân với những lá cờ tung bay với tiếng trống liên hồi. Những cán bộ đứng trên những chiếc xe tải vẫy tay chào đồng bào đứng đầy hai bên đường đang hô to những tiếng vui mừng, phất phất những lá cờ nhỏ. Tất cả hai bên nhà phố đều trang trí và niềm vui không tả trên ánh mắt của từng người dân. Từng chặp, đoàn quân phải ngừng lại để nhận những vòng hoa của từng đoàn thiếu nữ mang tặng. Sự nồng nhiệt của dân chúng đã lên đến cao độ, thật chân thành và nồng hậu. Kể cả những người mà con tim còn đang nhịp nhẹ những tiếc nuối với người chủ hôm qua, tất cả đều chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc găp gỡ dễ thương bằng sự rộng rãi và lịch sự, họ vỗ tay hoan hô những người đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ: chiến công của họ khơi động lại niềm hãnh diện của người dân Việt và phục hồi lại danh tiếng cho nước nhà.”[3]

Ông hồ hởi nhận lãnh nhiều trách nhiệm vinh dự: Hiệu trưởng trường Đại học Luật, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Luật sư đoàn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủy viên BCH Hội Hữu nghị Việt–Pháp và Hội Hữu nghị Việt-Xô, thành viên của Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, chủ tịch sáng lập Câu lạc bộ Đoàn kết Trí thức…

Năm 1956, trong cương vị Chủ tịch Luật sư đoàn, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, luật sư Nguyễn Mạnh Tường được giao nhiệm vụ lãnh đạo đoàn Việt Nam tại Hội nghị Luật gia Dân chủ Thế giới tổ chức ở Bruxelles, Bỉ. Nhiệm vụ của đoàn Việt Nam là làm sao được Hội nghị đưa ra nghị quyết ủng hộ công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của ta.

Năm 2009, nhân kỷ niệm 100 năm sinh của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Trần Thanh Đạm, thầy dạy của nhiều cán bộ lãnh đạo Đảng ngày nay, đã viết về thầy giáo cũ của mình như sau: “Nhớ lại hình ảnh thầy Tường, tôi thường cảm kích nghĩ rằng chỉ riêng sự có mặt của Thầy trong hàng ngũ những nhà trí thức yêu nước đi kháng chiến theo cụ Hồ ngày ấy đã là một sự cổ vũ lớn đối với thế hệ thanh niên chúng tôi. Chỉ riêng điều đó đã là một cống hiến vô giá của Thầy đối với đất nước, xứng đáng với sự hàm ơn và tưởng nhớ của các thế hệ sau này, cần được vinh danh mãi mãi trong lịch sử văn hóa và giáo dục của dân tộc ta.”[4]

* * *

Thế mà! Bỗng đâu…, ông “đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng. Chìm trong vùng cát sa mạc của tuyệt vọng làm cạn khô giòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn, với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn của chua cay và vị đắng của mật. Không một tia sáng của niềm vui trong đêm đen của địa ngục trần gian mà tôi đang bị quét đi trong nỗi cô đơn.”

tôi không bị ném vào tù hay bị còng tay. Tôi không bị bắt đưa ra bất cứ toà án hình sự hay chính trị nào. Tôi không bị bắt đày đi xa nhà hay xa gia đình. Nhưng cả xã hội và mọi người đều biết: để tránh phải chịu những phiền phức, những ai muốn tiếp xúc với tôi, dù bất cứ chuyện gì, đều không dám. Nhà tôi như đang chứa một người đang bị bệnh dịch, không nên đến gần. Ra đường, mọi người thấy tôi từ xa đã quay ra ngõ khác để tránh đụng mặt, nếu người nào đó, vì vô tình vô ý hay vì can đảm đến gõ cửa gặp tôi, ngay sau khi vừa rời khỏi nhà là đã có công an mời về cơ quan để tra tấn họ với những câu hỏi về họ là ai, về gia đình và tầng lớp xã hội và đặc biệt là có quan hệ gì đến tên tội phạm là tôi đây.

Không chỉ bị đầy đọa về mặt tinh thần, về vật chất thì: “Cả mấy tháng qua, buộc phải mua thực phẩm và những thứ nhu yếu trên chợ đen vì tôi không còn được phát tem phiếu kể từ khi tôi bị loại, mặc dù với tất cả dành dụm có được, số tiền dự trữ ngày càng thu hẹp. Ngay từ lúc đầu, với viễn tượng những ngày khó khăn trước mắt, với dự trữ ít oi, chúng tôi bắt đầu một giai đoạn hạn chế, tiết kiệm. Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen xa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tối. Khẩu phần cơm và rau mỗi ngày một ít đi. Và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn.

Nghĩ đến chuyện vay mượn bạn bè là điều vô ích vì chính bản thân họ cũng đang cùng số phận, đang trong cảnh chỉ đủ cầm hơi khỏi bị chết đói. Vợ tôi đã nghĩ đến chuyện bán thuốc lá bên lề đường để kiếm sống, nhưng làm sao có được mớ vốn ban đầu và có chút tiền để bôi trơn móng vuốt làm khó của những tên công an hay cán bộ thuế, để chúng để yên cho chúng tôi khó khăn kiếm sống? Tìm ở đâu những nguồn hàng mà chỉ qua con đường buôn lậu mới có được? Món duy nhất mà vợ tôi không phải bán là cái máy may để mua gạo cho gia đình, mà dùng nó để may đồ mang ra chợ bán. Nếu bà còn trẻ bà có thể đạp xe về nhà quê mua rau cải lên bán ở những nơi đông người qua lại. Nhưng tất cả những dự tính dễ thương nhỏ nhoi đó đều không thể thực hiện đã làm cho vợ tôi khóc trong sầu khổ vì không thể làm một chút gì đề mua gạo cho gia đình.

Tôi muốn dạy tiếng Pháp tại nhà. Nhưng vừa mới bắt đầu là đã có một đám công an, chắc chắn là đã được bọn gián điệp và điểm chỉ quanh tôi báo động cho họ, xuất hiện và bảo cho tôi là dưới chế độ cộng sản không có gì là tư nhân mà được cho phép, dù chỉ là việc dạy học của những ông thầy tận tuỵ. Phải làm gì đây? Tôi không thể ra đạp cyclo như một số đồng nghiệp trẻ đang làm, không phải vì chuyện thiên hạ xầm xì mà chỉ vì tôi đã không còn ở tuổi để làm chuyện đó: hoặc người ta không dám gọi tôi, hoặc nếu có, số tiền công còm cõi của một hai chuyến đi không đủ để mua thuốc cho tôi lại sức với cái thân thể đã tiều tuỵ lắm rồi. Tự nhủ là không có nghề gì là đáng khinh, tôi xoay ra sửa chữa xe đạp bên vệ đường như những sĩ quan cao cấp già của bộ đội về hưu đang làm. Những kiến thức về văn chương và ngôn ngữ trở nên vô dụng trước những chiếc xe đạp hư cần sửa chữa như một quan hoạn đứng trước người đàn bà không mảnh vải che thân.

Cuối cùng tôi cũng phải hiểu ra là mình không nên đắm mình trong cái ảo tưởng về số phận của những cuốn sách không bán được của tôi. Tôi đành phải cân ký bán cho những người thu mua giấy vụn về bán lại cho nhà máy làm bột giấy. Những cuốn sách được mang lên trên cái cân hiệu Roberval. Tôi được trả tiền theo số cân đo được. Tim tôi đập loạn lên mỗi khi tôi phải chất những cuốn sách vào cái giỏ sau của chiếc xe đạp để đem đi bán giấy vụn. Không, nó không phải là giấy, nó là những thịt da của tôi đang bị xé ra từng mảnh. Khi những người mua ném chúng vào góc nhà, tôi phải quay mặt đi nơi khác cố giấu giọt nước mắt đang trào ra! Không có người cha nào còn dám nhìn con mình đang bị ném vào lửa bởi bọn đao phủ! Cái tra tấn đó cứ tái hiện mỗi lần đi bán sách làm giấy vụn, tôi như bị một mũi tên bắn xuyên qua tim mình. Nhiều lần, tôi phải nhờ vợ hay con tôi làm chuyện đó vì tránh cho tôi phải chịu nỗi đau.”[5]

* * *

Vì đâu? Và từ lúc nào người trí thức lỗi lạc từng được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cung kính gọi bằng “ngài” và khẩn khoản: “Việc này chỉ có ngài làm được, xin ngài giúp cho Chính phủ”, bỗng rơi xuống điạ ngục ngay giữa trần gian?

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi nghe ông Trường Chinh thay mặt Đảng CSVN đọc bản kiểm điểm về sai lầm của Cải cách Ruộng đất trước Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Tường không nén nổi xúc động: “Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói, được chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết bởi địch, cho ta. Đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, những người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh.”[6]

Thế rồi, sự “xúc động thái quá” đó, trớ trêu thay đã biến ngày ấy thành định mệnh đời ông khi ông dám chân thành đứng giữa hội trường trình bầy bản báo cáo: “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

Ông chân thành căn vặn: ”Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu ‘Thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch’ thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng thì là gì? Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan.

Ông quy kết: “Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì ba lý do: 1. Quan điểm ta – địch, thù-bạn của ta rất mơ hồ; 2. Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn át pháp lý; 3. Ta bất chấp chuyên môn.

Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý.”[7]

* * *

Cho đến bây giờ do cần tạo ra những cái bồ sứt cạp thủng đáy để rót vô tội vạ tài nguyên đất nước, mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân nhằm vỗ béo bọn tư bản đỏ người ta vẫn chỉ thị phải củng cố doanh nghiệp nhà nước bằng bất kể giá nào để thể hiện đường lối XHCN thiêng liêng của Đảng thì cách đây hơn nửa thế kỷ Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ rõ thực tế:

Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có ít ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ.

Về Mậu dịch, nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình…

Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc chuyển hướng bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt.”[8]

Ngày nay, trước thực trạng xuống cấp thảm hại của giáo dục và đạo lý xã hội người ta mới càng thấm thía biết bao cái điều mà vị giáo sư khả kính từng cảm thấy bất an: “Chỉ mới hôm qua, trước ngày những người cộng sản tràn vào các nơi, truyền thống của cha ông ta là dạy học trò phải biết kính trọng Thầy mình, thương yêu và kính trọng Thầy còn hơn cả cha ruột. Cái vinh dự được giao phó là chăm lo đào tạo con người, sao cho được đơm hoa kết trái, đã là khuôn thước do tâm hồn và cách sống của các Thầy Cô. Họ có trách nhiệm với chính mình, với các học trò và cả xã hội. Điều đó đã nuôi dưỡng tâm tánh thuần khiết của Thầy Cô. Những sách dạy của tổ tiên về đạo đức con người được cả thế giới công nhận nay bị ném vào giàn lửa.

Cái khác biệt cơ bản và sâu sắc giữa xã hội ngày xưa và xã hội ngày nay là mục tiêu của giáo dục đã thay đổi. Ngày xưa người ta tôn vinh con người và đạo đức. Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản và cái chính trị quốc tế chủ nghĩa của nó thì được ca tụng bằng trời. Khi cái giá trị chính trị nó đánh bật cái giá trị trí thức và đạo đức, đó là cả một cuộc cách mạng, những thành viên của Đảng không nghi ngờ điều đó.”[9]

Văn hoá phương Tây sẽ kết án chủ nghĩa cộng sản là tạo ra những con người cháy bỏng với những cuồng tín về chính trị, chỉ biết theo chân của lãnh đạo, nhắm mắt bịt tai với những thực tế của thế giới, ngậm miệng không dám chỉ trích bất cứ chuyện gì. Thật đáng ngạc nhiên khi nhìn thấy một con người, được nhào nặn trong lò bánh của cộng sản, đã mất cả con người riêng, còn mất luôn cả nhân cách của mình, thay vào mình một con người chỉ biết động đậy theo những tín hiệu từ xa bấm nút bởi người khác. Cổ tích phương Tây kể chuyện một kẻ bán linh hồn cho quỷ dữ. Người cộng sản, được đào tạo trong lò văn hoá cộng sản, đã bán linh hồn cho Đảng.”[10]

Thói quen luôn cúi đầu để tỏ vẻ sự tán thành, dùng hai bàn tay luôn để vỗ tay, mồm luôn mở chỉ để nói câu đồng ý, tất cả chỉ cho thấy sự tê liệt của lý trí, cái chết tiệt của trí thông minh, chặt bỏ những phản xạ của phê bình.

con người được đào tạo bởi nhà cầm quyền chỉ là một công cụ để thi hành những chính sách cầm quyền và không là gì khác hơn.

Một cán bộ lãnh đạo Đảng đã chỉ vào mặt Nguyễn Mạnh Tường mà răn dạy giữa một Hội trường: “Ông không biết những gì đang chờ đợi ông. Nhà nước cộng sản của chúng tôi chỉ chấp nhận duy nhất một thái độ sống của người trí thức. Họ phải nằm trong đường lối chính trị của cộng sản, biểu lộ lòng tin nơi Đảng, trung thành với Đảng, sống và suy nghĩ dưới sự chỉ đạo và theo cách mà lãnh đạo Đảng đã xếp đặt. Những ai đi chệch xa con đường này, trở thành kẻ xa lạ dị giáo, sẽ bị trừng phạt như những kẻ phản bội phản động. Đây là cơ hội chót để ông tự ăn năn hối cải về sự táo tợn và trơ trẽn của mình. Rán mà biết lấy nhé.

Ngày nay tham nhũng đã trở thành quốc nạn vô phương cứu chữa. Cách đây mấy thập niên, Nguyễn Mạnh Tường đã gay gắt cảnh báo: “những quan chức của Đảng, với những chữ ký sinh ra vàng, đã để cho mình bị tiêm nhiễm những con vi trùng của tiền của, để tự mình ngày càng chìm sâu trong vũng lầy của tội ác. Những kẻ thuộc quyền, được khuyến khích bởi sự bất bị quy trách của xếp mình, trở nên những kẻ đồng lõa, tập họp nhau thành băng thành nhóm. Thời sẽ đến khi mà Đảng vẫn còn tiếp diễn những ung nhọt như thế: họ sẽ không còn niềm tin yêu của nhân dân, niềm tin mà họ đã mất cả một thời gian dài mới có được.

Tham nhũng là muôn mặt, nhưng cái chính là trực tiếp hay gián tiếp ăn cắp tài sản Nhà nước, tham ô, làm và sử dụng những giấy tờ giả mạo, chiếm đoạt đất công, dùng tài sản công vào những chuyện riêng tư. Ngoài tính chất muôn mầu muôn vẻ của nạn tham nhũng ta còn có thể kể thêm là sức sinh sôi của loại dịch bệnh này là rất nhanh. Những lãnh đạo chóp bu đã làm gương rất xấu và chuyện họ không bị hình phạt nào chỉ khuyến khích cấp dưới bước chân vào con đường kiếm chác mà không sợ bị một rủi ro nào. Sớm hay muộn, sự vô đạo đức sẽ chiếm lĩnh xã hội trên bề mặt cũng như bề sâu. Chưa bao giờ ở bất cứ nước nào, ngay cả ở các nước tư bản, mà người ta thấy được một cảnh tượng kinh hoàng, một sự băng hoại vô cùng của đạo đức: toàn bộ guồng máy nhà nước ngập chìm trong sự mua chuộc. Đối với hàng công nhân viên hạng nhỏ cấp dưới, mức lương nhỏ bé là lý lẽ để biện minh cho tội tham nhũng của họ khuyến khích từ gương xấu của cấp trên của họ là những kẻ phạm tội nhưng không chịu bất cứ trừng phạt nào của pháp luật hay phải ra trước toà thông qua hệ thống kỷ luật của Đảng và họ tham nhũng để mưu cầu được mau thăng quan tiến chức. Sự vô đạo đức nó như một cơn thuỷ triều đen chồm lên tràn ngập tất cả mọi cơ phận. Những lương tâm run sợ bay biến khỏi vùng địa chấn, xa tắp khỏi tầng khí độc mà ngập trong đó là một nhà nước đang thối rửa và hấp hối, một nhà nước kết cấu bằng những con người mà quyền hạn là vô chừng và độc đoán đang nắm giữ.

cả nước bàng hoàng thất vọng và kinh hoàng trước tội ác của những đảng viên biến chất, nhiều quan chức cao cấp của Đảng và của Nhà nước đã hành xử như những băng đảng trộm cướp, đã nuốt nhiều tỉ đồng của công quỹ để thoả mãn ham muốn đê tiện của mình.

Ông đau đớn nhận ra mục tiêu Cách mạng tháng Tám bị đánh tráo và kịch liệt lên án sự chuyên quyền, độc đoán: “Trong cuộc cách mạng tháng Tám, toàn thể nhân dân cùng một lòng đứng dậy để giành lại tự do và độc lập. Nhân dân đặt niềm tin vào lời nói của lãnh đạo cộng sản là toàn những người với quá khứ vinh quang đầy hy sinh cho Tổ quốc. Nhưng sau đó, từng bước, nhân dân bị áp đặt dưới cái gọi là ‘dân chủ nhân dân’, rồi sau đó là chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không còn tôn thờ Khổng Tử, trong khi vẫn gìn giữ những giá trị của đạo Khổng, chúng ta bị cải đạo sang tôn giáo Ba ngôi của chủ nghĩa Marx: Marx-Lenin-Stalin, với ba tấm hình được treo cao để ba ông được nhìn xuống đám thần dân! Từ lúc nào và ở đâu chúng tôi được hỏi ý về những ước ao và mong muốn của chúng tôi? Chuyện chẳng hề xảy ra. Đảng là con mắt nhìn mọi chuyện giùm chúng tôi, quyết định cho chúng tôi, rồi ra lệnh chúng tôi phải tuân theo quan điểm của Đảng mà họ cho rằng sẽ mang đến một tương lai huy hoàng và hạnh phúc.

Đa nguyên là chấp nhận những ý kiến trái ngược, những sự thật không giống nhau và đó là ý nghĩa thực của một nền dân chủ. Những người cộng sản không chấp nhận chuyện đó. Họ bám chặt vào độc quyền chính trị, tự cho mình là kẻ duy nhất nắm mọi thước đo về bản chất của dân chủ. Đa nguyên trở thành bãi chiến trường nơi mà dân chủ và chủ nghĩa cộng sản tấn công lẫn nhau.

Nhà nước chỉ là bàn tay nối dài của Đảng và con người lãnh đạo Đảng chính là người đang nắm trọn quyền lực. Nhân dân không là gì hết, tiếng nói của họ đã bị bịt kín. Tất cả những bộ phận của Nhà nước là gồm những con người của Đảng hay những người toàn tâm toàn ý với Đảng; tất cả cái giống người này chỉ có cái lưỡi gỗ và cái lưng cong cúi luồn với chủ. Trong những điều kiện như thế, làm sao có được những tiếng nói dấy lên để đòi truất phế và thay những kẻ bạo quyền, hay ít ra là để đưa ra những đề nghị, những ý kiến để làm đứng lại cái xe đang lao mình với tốc độ kinh hoàng về phía hố sâu của sự xấu? Mọi chuyện được quyết định từ hậu cung của Đảng, nơi thần bí nhất của thiên cung, bao quanh bởi một vòng thành kín bưng như Vạn lý Trường thành bên Trung Quốc!

Chưa bao giờ trong lịch sử con người mà lưỡi tầm sét của Thần Zeus – tức cái búa của Thiên Lôi – cùng với cây gậy thần của Circé lại nằm cả trong tay của một người, làm thành một bộ máy thống trị và áp bức cực kỳ hoàn hảo, một bộ máy chuyên dùng khủng bố làm chất nhờn bôi trơn những trục máy!

Vốn là người cương trực, ông không chỉ nói khoáng đại giữa Hội nghị mà đã từng giãi bầy trực tiếp vào tai Chủ tịch nước Hồ Chí Minh trong buổi trò chuyện riêng giữa hai người sau Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ Thi đua họp ở Việt Bắc mùa xuân năm 1952: “Chế độ chuyên quyền tha hồ chủ quan, tự do duy ý chí và làm luật lệ lung tung, trái khoa học, trái lẽ phải, tác động tai hại đến uy tín của chính quyền và đến hạnh phúc của quần chúng, rất bất bình với bao hành động thiếu đạo đức và ngu dốt. Giải pháp duy nhất của sự khôn ngoan là mở rộng tai nghe, mở rộng cửa cho người thứ ba, cho tiếng nói từ ngoài vào, từ nhân dân đưa lên.

Cho đến nay Đảng bao trùm lên trên và nuốt chửng Nhà nước và không ít người nghĩ rằng Đảng lãnh đạo và cai trị vì lợi ích của Đảng hơn là vì lợi ích của nhân dân.”[11]

Ông nói lên sự thật về hai tổ chức Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc một cách chua chát: “Hai tổ chức Quốc hội và Mặt trận khác nhau là ở chỗ Quốc hội gồm có những đại biểu được ‘bầu’ lên từ mọi vùng lãnh thổ trên toàn quốc, Mặt trận gồm những người được chọn lựa trong các đoàn thể quần chúng để tiêu biểu cho mọi ngành nghề xã hội hay khuynh hướng tôn giáo khác nhau. Nhưng cả hai đều gặp nhau trong cùng một thái độ vì Đảng, trong những lần đưa ra đưa ra ý kiến, đều đồng ý với Đảng trên bất cứ chuyện gì và bất cứ lúc nào, hoàn toàn không có một ý kiến khác hay ồn ào kháo chuyện. Toàn Quốc hội biểu quyết bằng cách đưa tay lên, Mặt trận biểu quyết bằng cách cúi đầu và buông thõng hai tay. Nhưng cả hai đều biểu hiện một sự nhất trí với lãnh đạo làm cho mặt lãnh đạo ngửa cao với nụ cười mãn nguyện. Đảng tự cho mình là người nắm sự thật và hai tổ chức kia chỉ có nhiệm vụ là phổ biến và tuyên truyền, mỗi tổ chức lo chuyện trong khu vực ảnh hưởng và trong vùng sinh hoạt của mình. Đó là hai cái nạng giúp Đảng tiến bước.”[12]

(Gần đây Quốc hội mới rón rén phản biện để Chính phủ tạm dừng kế hoạch xây dựng đường xe lửa cao tốc. Thực tế, mức độ hệ trọng của việc này rất không đáng kể so với chủ trương cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên; vấn đề xác định biên giới lãnh thổ, lãnh hải; vấn đề mở đường Hồ Chí Minh; vấn đề chọn đặt nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất… mà những hệ quả thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế, chính trị, xã hội phát sinh từ đấy đáng đưa những người chịu trách nhiệm chính đối với những sai lầm ấy ra xử tử.)

* * *

Giãi bầy những tưởng niệm muộn mẳn đối với người trí thức lỗi lạc khả kính Nguyễn Mạnh Tường, chúng tôi muốn cùng độc giả soi xét để nêu câu hỏi: Nguyễn Mạnh Tường (và những người như kẻ viết bài này) đã nói câu gì không đúng? Đã làm việc gì sai pháp luật? Sao người ta nỡ / dám nhân danh Đảng đầy đọa hãm hại chúng tôi! Trù dập vợ, con chúng tôi! Uy hiếp, khủng bố bạn bè, thân thích của chúng tôi!

Hãy thắp nhang cung kính tạ tội và thành khẩn tụng niệm những lời cảnh báo sau đây:

Thay vì giáng búa rìu lên đầu người trí thức mà tội lỗi duy nhất của họ là yêu Tổ quốc và dân tộc, người cộng sản cần phải hiểu rằng kẻ thù của họ chính là họ chứ không ai khác. Kẻ thù của họ là ai? Là tính chủ quan, một cách quá mức, đã làm cho họ tưởng mình là thượng đế được phú cho sức mạnh siêu nhân không thể thất bại… Thật điên khùng khi họ tin rằng họ luôn luôn đúng, ngay cả những khi họ đã sai lầm rõ ràng!

Nếu cứ vướng mãi với những hành động dại dột, mất trí hay điên khùng, quý vị sẽ đưa dân tộc vào nghèo đói và đau khổ, tiếp tục làm những chuyện chuyên quyền, phạm luật và vô nhân đạo thì quý vị sẽ không thể tồn tại dài lâu! Ngay sau khi quý vị chết, nhân dân sẽ tiếp tục nguyền rủa, đào mồ và quăng cái xác thối của quý vị cho sài lang và diều hâu cắn xé! Tên tuổi của quý vị sẽ bị ‘tạc ghi’ trong lịch sử và sẽ bị khinh bỉ trong hàng trăm năm sau.

Về phía chúng tôi, dẫu sao chúng tôi cũng sẽ không bao giờ quên lưu giữ cái nhin thể tất và ưu ái của vị giáo sư bồ tát:

Dù có ghét hay thương cộng sản, mình cũng phải công nhận rằng những người lãnh đạo nó đã phải chịu đoạ đầy vì lòng yêu nước của họ. Những thế hệ kế tiếp và những người nối nghiệp thì không thể tự hào là có cùng cái hào quang đó. Dẫu vậy, trong số những kẻ kế thừa vẫn có những người dù ít tài cán nhưng lòng trung chính vẫn đáng để chúng ta ngả mũ chào. Trong khi đó biết bao nhiêu kẻ khác không những đã chẳng có chút khả năng nào mà còn vô đạo đức nhưng hết mực núp vào Đảng vì Đảng đã gây dựng và bảo vệ quyền lợi cá nhân của họ.

Vấn đề còn lại được nêu lên là: “Chủ nghĩa anh hùng của các ông có làm cho các ông dám hy sinh Đảng của quý ông trên bàn thờ của Tổ quốc và Nhân dân? Đất nước và nhân dân Việt Nam đang chờ câu trả lời của các ông.”[13]

Hà Nội 14 tháng 7 năm 2010

© 2010 Nguyễn Thanh Giang

© 2010 talawas

____________________

[1] Nguyễn Mạnh Tường, Kẻ bị vạ tuyệt thông, Paris 1991

[2] Sđd.

[3] Sđd.

[4] Tạp chí Hồn Việt tháng 11 năm 2009

[5] Nguyễn Mạnh Tường, Kẻ bị vạ tuyệt thông, sđd.

[6] Bài thuyết trình tại Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam 30-10-1956

[7] Bđd.

[8] Bđd.

[9] Sđd.

[10] Bđd.

[11] Tạp chí Xưa và Nay số 286, tháng 6 năm 2007

[12] Bđd.

[13] Sđd.

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

GS CHU HẢO SUY NGHĨ VỀ TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM

I. Trí thức và tầng lớp trí thức

Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng “thế nào là một trí thức?” thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận rất nghiêm túc và lý thú, có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển. Để đi đến đồng thuận chắc cần phải có thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ xin đặt vấn đề và gợi mở, mong các bạn đọc cùng chia sẻ.

Ai là trí thức? Đã từ lâu, ở nước ta tồn tại một khái niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức, chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” viết năm 1947 Hồ Chủ tịch đã dùng định nghĩa này. Theo chỗ tôi hiểu thì Người đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách hết sức đơn giản, dễ hiểu, thích hợp với trình độ dân trí của nước ta thời đó. Ngày nay, chúng ta không nên quá câu nệ vào việc giữ nguyên định nghĩa này của Bác Hồ.

Thật ra ngay từ khi từ “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, và sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau công xã Paris (1871), đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng: đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người: “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” là những bất cập của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn.

Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau: 1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Trong đó, hai điểm đầu tiên là chung cho những người lao động trí óc. Còn hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng lớp trí thức.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!

Cái cơ hội “đổi đời” dường như duy nhất ấy đã tạo ra, một mặt là cái mà chúng ta vẫn thường tự ca ngợi là truyền thống hiếu học của dân ta, mặt khác, quan trọng hơn đã tạo nên sự lệ thuộc đến nô dịch của những người “có học” vào Nhà nước phong kiến. Và do đó, có thể nói rằng dưới các triều đại phong kiến ở nước ta chưa bao giờ tồn tại một tầng lớp trí thức theo cách hiểu đúng đắn của từ này. Các sĩ phu là những người “có học” có danh tiếng của các thời đại phong kiến, do vậy hầu hết cũng chỉ là các “quan văn” mang sứ mệnh “phò chính thống” mà thôi - họ không hẳn là người trí thức, hoặc tầng lớp trí thức, như cách hiểu thông thường.

Đến giữa thế kỷ 19 cùng với sự suy đồi của triều Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh công nghiệp phương tây, tầng lớp Nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc và xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến bộ có đầu óc canh tân - tiền thân của nhóm trí thức đầu tiên của nước ta nửa đầu thế kỷ 20. Những nhân vật điển hình có thể kể đến là Vũ Tông Phan (1800 - 1851, cùng với Hội Hướng thiện); Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871); Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895); Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890); Phạm Phú Thứ (1820 - 1883) v.v... Đó chính là những sĩ phu có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dù là theo đường lối bạo lực, như các phong trào Cần Vương (Phan Đình Phùng, 1844 - 1895), và Đông Du (Phan Bội Châu, 1867 - 1940); hay chủ trương tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa - giáo dục như phong trào Duy Tân (Phan Châu Trinh, 1872 - 1920), và Đông Kinh nghĩa thục (Lương Văn Can, 1854 - 1927).

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự tàn lụi của chế độ phong kiến và sự thiết lập chế độ của thực dân, ảnh hưởng của tư tưởng Dân chủ tư sản và khoa học - kỹ thuật phương tây đã tràn vào xã hội Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Hoa. Trong bối cảnh đó phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục đã quy tụ được một tầng lớp sĩ phu trí thức bao gồm các nho sĩ cách tân (Huỳnh Thúc Kháng, 1876 - 1947; Trần Quý Cáp, 1870 - 1908; Đào Nguyên Phổ, 1861 - 1907 v.v...), và các trí thức mới dùng quốc ngữ và tiếng Pháp (Trương Vĩnh Ký, 1837 - 1898; Phan Khôi, 1887 - 1960; Nguyễn Văn Vĩnh, 1882 - 1936; Phạm Quỳnh, 1892 - 1945; Nguyễn Văn Tố, 1889 - 1947 v.v...). Đây chính là tầng lớp trí thức đầu tiên của nước ta.

Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra cho một số người điều kiện có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền, có thể sống bằng nghề lao động trí óc của mình chứ không nhất thiết phải ra “làm quan”, và tiếng nói của họ càng ngày càng có uy tín trong xã hội. Họ phần đông là người hành nghề tự do như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, nhạc sĩ, và nghệ sĩ... Những phần tử ưu tú trong số đó chính là tầng lớp trí thức mới, và nhiều người đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt động công khai. Đó là các hội, chẳng hạn Trí Tri, Khai trí Tiến đức, Truyền bá Quốc ngữ và Tự lực Văn đoàn v.v... Là các báo hoặc tạp chí, chẳng hạn Đông Dương, Nam Phong, Tiếng Dân, Tri Tân, Thanh Nghị, Khoa học v.v... Tình trạng này đã tiếp diễn cho đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được tầng lớp trí thức ấy tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ của mình. Những nhân vật tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hòe... (xuất thân từ các sĩ phu Nho học); Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên.... (xuất thân từ tầng lớp trí thức “Tây học”) đã và sẽ luôn là tấm guơng mẫu mực về phẩm tính cao quý của người tri thức.

Tiếc rằng từ đầu những năm 50 của đầu thế kỷ trước, ngay khi còn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tầng lớp trí thức của chúng ta với những nhân cách văn hoá đẹp đẽ ấy, lại rơi vào một thời kỳ phát triển đặc biệt mà chắc còn cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách nghiêm túc sự tồn tại và vai trò của họ trong xã hội. Thời kỳ phát triển đặc biệt này có thể phân kỳ thành ba giai đoạn 1945 - 1950 là thời kỳ cách mạng và kháng chiến nhưng hết sức “lãng mạn” của tầng lớp trí thức yêu nước, 1950 - 1965 là thời kỳ du nhập một cách hoàn chỉnh ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Maoist vào Việt Nam, qua các phong trào chính huấn tư tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, phê phán nhân văn gia phẩm và chống “xét lại”; 1965 - 1975 là thời chiến mọi nhu cầu tinh thần và các giá trị văn hóa đều hướng vào mục tiêu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước; 1976 - 1986 là thời kỳ quan liêu bao cấp, đặc biệt là về mặt tư tưởng; 1986 cho đến nay là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn trên đây đều có hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội khá đặc biệt đối với sinh hoạt tinh thần - tư tưởng của tầng lớp có học.

Sau giai đoạn giao thời 1945 - 1950, có lẽ tầng lớp trí thức trước cách mạng đã không tồn tại nữa. Từ năm 1950 trở đi tầng lớp có học ngày càng đông; các cá nhân trí thức thì lúc nào cũng tồn tại, có lúc hết sức hiếm hoi như giai đoạn 1950 - 1965; nhưng tầng lớp trí thức thì không tồn tại, ít nhất là cho đến trước đổi mới (1986). Từ năm 1986 đến nay tầng lớp có học có bằng cấp cao ngày càng đông nhưng phẩm tính tri thức thì chỉ thấy ở những cá nhân lẻ tẻ. Những cá nhân này ngày càng đông cùng với quá trình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt xã hội, nhưng điều kiện để cho họ tự liên kết lại thành một tầng lớp có vị trí xác định trong xã hội dân sự thì chưa đủ.

Cần phải có những nghiên cứu nghiêm chỉnh về tầng lớp “có học” từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay để có được bức tranh hoàn chỉnh về trí thức Việt Nam từ khi có độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Muốn vậy ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến động về số lượng và tính chất hoạt động của những người có học vấn nói chung, cần phải nghiên cứu hồ sơ của những trí thức tiêu biểu qua từng thời kỳ. Hồ sơ của những người như: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Nguyễn Đình Thi... cũng như của Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường... sẽ nói lên được rất nhiều điều đáng quan tâm.

Vì chưa có điều kiện tìm hiểu một cách có hệ thống nên ở đây chúng tôi đã không đề cập đến tầng lớp trí thức (hoặc “có học ”) ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975.

II. Phẩm tính “trí thức” Việt Nam

Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách chung là: Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ; Độc lập tư duy; Hoài nghi lành mạnh; và Tự do sáng tạo. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân tộc cũng có bản sắc riêng. Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã, v.v... Vậy trí thức Việt Nam có đặc điểm gì? Chúng ta đã từng nghe nói đến tính cách “phò chính thống”; và tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tuỳ thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội” hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định. Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới “trí thức” Việt Nam chính là ở chỗ này!

Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Bởi lẽ, còn có một thực tế khác nữa cần phải xem xét. Đó là tính cách uyển chuyển, kết hợp “hành” và “tàng” của sĩ phu - trí thức nước nhà. Điều kiện cho phép thì bung ra hoạt động; lúc khó khăn thì tạm ẩn dật chờ thời, có khi “tàng” ngay trong lòng cường quyền với tâm trạng “cấp lưu, dũng thoái” (trước dòng nước xiết, can đảm thoái lui). Thế nhưng ranh giới giữa thái độ đúng đắn này với cái sự hèn thật là mong manh; chỉ “tự mình, mình biết cho mình” chứ khó lòng mà phán xét từ phía ngoài. Vậy thực sự trí thức Việt Nam có phẩm tính gì?

Phẩm tính cao quý nhất của người trí thức là Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ, không bị gò bó bởi ý thức hệ, dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, không khuất phục trước uy quyền và không bị tha hóa bởi danh lợi. Nếu trong một xã hội có nhiều người có học vấn cao đồng thời có những phẩm tính như vậy lại liên kết được với nhau (chủ yếu bằng diễn đàn và giao lưu tư tưởng chứ không phải bằng các hội đoàn) thành một tầng lớp, thì đấy là một xã hội dân sự lành mạnh, có nhiều tiềm năng phát triển.

Tạm gác sang một bên khái niệm “tầng lớp trí thức” như cần được làm rõ ở mục I., chúng ta hãy xem xét tầng lớp những người “có học” trong giai đoạn hiện nay phù hợp với đối tượng điều chỉnh của NQTW7 khóa 10, mà từ những năm 60 thế kỷ trước được Đảng và Nhà nước coi là “ tầng lớp Trí thức XHCN ”. Trước Cách mạng tháng Tám, tầng lớp “có học”, như được xã hội đương thời công nhận, có thể bao gồm những người có học vấn từ trung học, thâm chí tiểu học, trở lên. Ngày nay, những người có bằng cấp từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp “trí thức ”. Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp. Lực lượng này cũng được tập hợp trong một số Hội hoặc Liên hiệp hội như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam...

Những nét đặc trưng của “ tầng lớp trí thức XHCN ” này là gì? Ngoài những đặc tính được Đảng và Nhà nước và phần nào là xã hội thừa nhận là ưu điểm, là tích cực như: Yêu Tổ quốc và CNXH; Trung thành với Đảng và Nhân dân; Cần cù, thông minh,sáng tạo; Không ngại khó khăn gian khổ... thì những tiêu cực không thể phủ nhận được là hết sức điển hình. Đó là:

1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.
2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử.
3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng.
4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha.

Tất cả những mặt tiêu cực điển hình của tầng lớp có học nói trên đều xuất phát từ một nguyên nhân chính là sự mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng, trước hết trong nội bộ Đảng, rồi từ đó trong toàn xã hội. Sự mất dân chủ này đã bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, sau chiến dịch Biên giới, khi ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn vào Việt Nam theo con đường chính thống, được một bộ phận chủ chốt của Đảng tiếp thu và áp dụng một cách rốt ráo cho đến tận trước Đại hội VI.

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, phát huy dân chủ và tự do tư tưởng đã được Đảng đề xướng (qua chủ trương “cởi trói” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và được toàn dân hân hoan đón nhận, nhất là tầng lớp “có học”, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ “được cởi trói”. Nhưng tiếc rằng chỉ ít năm sau đó không khí dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng dần dần bị loãng hẳn đi cho đến trước Đại hội 10. Khi Đảng chủ trương lấy ý kiến của quần chúng đóng góp cho văn kiện Đại hội 10, bầu không khí dân chủ lại đuợc thổi vào một luồng sinh khí mới từ nhân dân. Tiếc rằng ngay sau Đại hội 10 cho đến nay, càng ngày càng có những biểu hiện đáng lo ngại về thực chất của nền dân chủ của chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ trong việc quản lý các hoạt động báo chí và xuất bản gần đây.

Báo chí và xuất bản là mặt tiền, là thước đo của mỗi nền dân chủ. Chúng ta muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản dân chủ và công bằng. Sách và báo chí còn là vật mang, là phương tiện trường tồn của các nền văn hóa. Chúng ta muốn có một nền văn hóa tiên tiến, thấm đượm bản sắc dân tộc thì một lần nữa, trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản tiên tiến và nhân bản. Những nhiệm vụ nặng nề ấy không phải của riêng ai mà của tất cả: Nhà nước, cộng đồng người viết và cộng đồng người đọc.

III. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tầng lớp trí thức ở Việt Nam

1.Các bài học lịch sử.

Khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào đào tận gốc, trốc tận dễ”, nghe nói có từ thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng hình như không có văn bản nào chứng tỏ đó là chủ trương chính thức của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau Đại hội lần thứ 2, nói chung khẩu hiệu này đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trừ một số trường hợp được chính phủ Cụ Hồ trọng dụng, nâng đỡ ngay từ đầu hoặc có hoàn cảnh đặc biệt mà cách mạng không thể bỏ qua. Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chúng ta đã trả giá đến tận ngày nay cho thái độ kỳ thị của cách mạng đối với các tầng lớp trí thức, công thương gia và địa chủ.

Thái độ kỳ thị này cũng giống hệt như thái độ của những người cộng sản Nga từ sau Cách mạng tháng 10 đối với tầng lớp trí thức của nước họ. Ngay sau Cách mạng tháng 10, hàng ngàn gia đình trí thức Nga đã buộc phải lưu vong ra nước ngoài. Số còn lại hầu hết đã trở thành đối tượng của cách mạng và dần dần không còn tồn tại như một tầng lớp xã hội nữa: Số muốn giữ nhân cách trí thức thì bị đàn áp không những về mặt tư tưởng mà thậm chí bị tù tội ở các khu cải tạo; số khác tự đánh mất mình bằng thái độ “chùm chăn” hoặc cơ hội chính trị. Trong cuốn sách “Về trí thức Nga” (ở mục Tài liệu tham khảo) các tác giả cũng phân tích khá sâu sắc sự hình thành về phẩm chất và thái độ chính trị của tầng lớp có học (mà có người gọi là “trí thức nửa mùa”) trong suốt thời kỳ Xô Viết cũ. Họ chỉ ra rằng nhà nước Xô Viết cũ đã thực hiện chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” để không còn tồn tại tầng lớp tinh hoa - tầng lớp trí thức không đáng tin cậy dưới con mắt của tầng lớp lãnh đạo. Một số nhỏ cá nhân trí thức tiêu biểu đã chỉ được sử dụng như những bông hoa làm cảnh cho chế độ mà thôi!

Tình trạng này không khác mấy so với các biến cố đã xảy ra ở Trung Quốc đối với tầng lớp trí thức, nhất là trong cuộc cách mạng văn hóa hồi những năm 60 và cuộc vận động dân chủ hồi cuối những năm 80. Tầng lớp trí thức ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng như vậy, cũng hầu như tan rã sau những biến cố thăng trầm.

Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao tất cả các nước theo xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đều có một kết cục như nhau đối với tầng lớp trí thức như vậy? Câu trả lời có thể là: Vì trong tất cả các nước ấy đã không thực sự có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Tình trạng đó đã bắt đầu từ khi Lê Nin áp dụng nguyên tắc Tập trung Dân chủ trong Đảng Cộng sản Nga trước và sau Cách mạng tháng 10 và trở thành truyền thống của các Đảng Cộng sản. Thay vì Dân chủ Tập trung, tức là trước hết phải thực hành Dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau kể cả khi tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưói phục tùng cấp trên v.v... các Đảng Cộng sản đã áp dụng nguyên tắc Tập trung là chủ yếu, Dân chủ chỉ là thêm vào. Sau khi nắm chính quyền, nguyên tắc Tập trung Dân chủ sai lầm này lại được áp dụng trong toàn bộ máy Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cơ chế mất dân chủ này đã xiết chặt cái “vòng kim cô” mất lập trường giai cấp và chệch hướng XHCN lên toàn bộ sinh hoạt tinh thần - tư tưởng trong nội bộ Đảng và toàn xã hội ở tất cả các nước đã áp dụng mô hình chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết.

Cơ chế mất dân chủ với cái “vòng kim cô” ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước ta đặc biệt từ khi giải phóng miền Nam: Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn chưa quy tụ về một cõi, khối đại đoàn kết dân tộc không được như chúng ta mong muốn, nhiều khi không có sự đồng thuận xã hội trong những vấn đề quan trọng của đất nước.

2. Quan điểm và định hướng

Trong quan điểm và định hướng nhất thiết chúng ta phải khẳng định rằng: Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức đã nêu rõ. Muốn vậy, điều cốt lõi là phải thực hành nghiêm chỉnh chế độ dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng.

Phát huy dân chủ phải được đặt trên nền tảng mục đích chung của dân tộc là xây dựng một quốc gia “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Mục đích chung ấy là quyền lợi của dân tộc, phải được đặt lên trên hết, trên mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ và mọi lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau.
Dân chủ không phải là sản phẩm chỉ của phương Tây (dù là Hy Lạp cổ đại hay Tây Âu và Bắc Mỹ hiện đại) mà là sản phẩm của cả nhân loại, trong đó có phương Đông. Phật giáo hết sức đề cao Đối thoại và Khoan dung, là cốt lõi sâu xa của Dân chủ. Dân chủ là một chế độ, trong đó mọi công dân thực có quyền được nhận xét, phê phán và chất vấn trực tiếp các cấp lãnh đạo (ở nước ta là của Đảng và của Nhà nước). Đúng như lời của Nelson Mandela nói: “Bất cứ ai muốn phát biểu có thể được nói. Đó là Dân chủ trong hình thức thuần tuý nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng dẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người này với người kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thày thuốc, buôn bán hay nông dân, đại chủ hay tá điền, người nào cũng được nói... chính đó là nền tảng của Dân chủ: Tất cả mọi người đều được tự do phát biểu ý kiến của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân ”.

Định hướng quan trọng nhất mà chúng ta cần là phải làm rõ nội dung công thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay cũng vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đằng làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo quyền Dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do Dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử, căn cứ vào những quan điểm và định hướng kể trên, để nâng cao chất lượng thực hành Dân chủ đối với đội ngũ trí thức (hay là “có học” như nói ở trên) cần thiết phải có các giải pháp sau đây:

3.1. Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trên thực tế Đảng lãnh đạo và chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội. Nếu trong Đảng mà không thực sự có Dân chủ thì ngoài xã hội không thể có Dân chủ.

Trước hết trong Đảng phải thực sự tôn trọng nguyên tắc Dân chủ Tập trung chứ không phải Tập trung Dân chủ. Đại hội đại biểu của Đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, sau đó đến Ban chấp hành Trung ương, rồi mới tới Bộ Chính trị. Nguyên tắc này lâu nay bị vi phạm, thường là Bộ Chính trị có quyền hạn tuyệt đối không những trong nội bộ Đảng, mà còn đối với mọi vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước mà lẽ ra phải là trách nhiệm của Quốc hội.

Trong nội bộ Đảng, mọi Đảng viên nên đều phải được phát biểu và bảo vệ chính kiến của mình song song với nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cần phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để ý kiến của thiểu số được thảo luận một cách công khai và bình đẳng.

Cơ chế dân chủ trực tiếp cần phải được phát huy tối đa trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Việc bổ nhiệm Đảng viên vào các vị trí lãnh đạo trong hệ thống Nhà nước phải được tiến hành một cách dân chủ hơn. Không áp đặt tiêu chuẩn cấp uỷ Đảng vào tiêu chuẩn lãnh đạo các cấp nhà nước. Một vị trí lãnh đạo nhà nước có thể tiến cử hai Đảng viên có ý kiến khác nhau về chủ trương về cách thực hiện để Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước lựa chọn, v.v....

Chỉ trong những điều kiện tối thiểu như trên thì tầng lớp trí thực thực thụ của nước ta mới có thể tự hình thành và phát triển một cách lành mạnh được.

3.2. Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh.

Trong điều kiện chế độ chính trị có một Đảng lãnh đạo, những khiếm khuyết do chế độ toàn trị gây ra có thể được khắc phục, điều chỉnh một cách hữu hiệu bằng xã hội dân sự. Xã hội dân sự lành mạnh là đối trọng, chứ không phải là đối lập với Nhà nước. Sự đồng thuận xã hội được giải quyết chủ yếu thông qua xã hội dân sự .
Trước mắt phải xây dựng được một Luật về Hội. Các hội nghề nghiệp và quần chúng là thành phần quan trọng nhất của xã hội dân sự. Quyền tự do thành lập Hội được ghi trong Hiến pháp phải được thể hiện đầy đủ trong Luật về Hội.

Chỉ trong một xã hôi dân sự lành mạnh như vậy tầng lớp trí thức mới phát huy được phẩm tính trí thức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.3. Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân như được ghi trong Hiến pháp.

Tự do ngôn luận là quyền được bình đẳng phát biểu công khai ý kiến của mỗi công dân. Đó là cốt lõi của Dân chủ, không có tự do ngôn luận thì không thể dân chủ.

Báo chí và xuất bản sách là công cụ chủ yếu để thực hiện tự do ngôn luận. Luật về Báo chí và Xuất bản cần được cải thiện hơn nữa, hướng tới chấp nhận nền báo chí và xuất bản tư nhân và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm về các ấn phẩm của mình.

Không có tự do ngôn luận thì những người “có học” chỉ có thể là những người là những người lao động trí óc ( thậm chí rất giỏi ) nhưng không thể trở thành một tầng lớp trí thức mà các xã hội văn minh coi là tinh hoa.
Hà Nội, tháng 6 năm 2010.


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, 1947.
2.N.M Voskpesenskaia và N.B Davletshina, Chế độ Dân chủ - Nhà nước và xã hội (Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
3.Nhiều tác giả (Nga), Về Trí thức Nga, (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
4.Việt Phương, Dân chủ, Tài liệu tham khảo cá nhân, Hà Nội, 9 - 2008.
5.Trần Hữu Dũng, Dân chủ và phát triển, Thời đại mới, Số 10 tháng 3 năm 2007.
6.Võ Văn Kiệt, “Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”, 2006.

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Đường sắt cao tốc hay "đặc khu tri thức"?

Tác giả: Kỳ Duyên

Những "đặc khu tri thức" nếu hình thành sẽ là những hạt nhân, trước hết đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội các vùng miền và đất nước; kích thích sự phát triển, sự chuyển động tích cực của cả hệ thống đào tạo về chất lượng.

 

Những ngày này, có một vấn đề không chỉ làm nóng lên bầu không khí tranh luận căng thẳng trong nghị trường Quốc Hội, mà còn như hun đốt thêm xã hội vốn đang hầm hập bởi nắng nóng. Đó là chủ trương làm đường sắt cao tốc với số vốn vay đầu tư nước ngoài khổng lồ- 56 tỷ USD.

Có một thứ cần ưu tiên "cao tốc": Giáo dục đại học

Không biết cái nút bấm ĐSCT sắp tới trong QH ngả về bên nào, bên đồng tình hay phản đối, xin hãy cứ chờ đợi tới giờ...G! Nhưng trong khi ý kiến phản biện liên tiếp, từ các chuyên gia về kinh tế, tài chính, giao thông...còn chưa ngã ngũ; cũng như ý kiến phản đối quyết liệt của người dân chưa hề nhượng bộ; thì những người ưu tư đến giáo dục lại đặt một câu hỏi- như một phương án phát triển khác, thay thế hợp lý hơn. Đó là đất nước lúc này có một thứ cần ưu tiên "cao tốc" hơn cả đường sắt: Giáo dục đại học?

Phương án này xuất phát từ thực tiễn GDĐH nhiều năm nay.

- Tuy nhà nước có quan điểm "GD là quốc sách hàng đầu", với tỷ lệ đầu tư GD chiếm 20% ngân sách, (dành riêng cho GDĐH 10%), nhưng so với con số tuyệt đối, sự đầu tư này vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu đào tạo có chất lượng.

- Nhìn ra thế giới, so với GD các nước phát triển, nếu như GD phổ thông không đáng lo ngại lắm, thì ngược lại, GDĐH đã và đang tụt hậu rất nguy hiểm, trong khi đó, đây lại là khu vực tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội giai đoạn hội nhập. Thực trạng lạc hậu kéo dài đó của GDĐH đòi hỏi nhà nước cần có những quyết sách táo bạo, dựa trên cách tư duy mới và khôn ngoan.

- Việc đầu tư tới 56 tỷ USD, một số tiền quá lớn vào ĐSCT, cho dù đó là xu hướng phát triển hiện đại trong tương lai, nhưng hiện tại, nhu cầu đi lại của con người chưa tăng cao, và còn có nhiều phương tiện giao thông thay thế, thì nên chăng, xin nhà nước hãy ưu tiên đầu tư 6 tỷ USD, con số lẻ, chỉ bằng gần 1/9 của số tiền đi vay, cho việc xây dựng 6 trường đại học có chất lượng cao, tạo ra 6 "đặc khu tri thức" gắn với sự phát triển kinh tế xã hội vùng miền.

"Đặc khu tri thức"- hạt nhân của sự phát triển

Gợi ý này, xuất phát từ quan điểm bất di bất dịch- GD là động lực phát triển, đầu tư cho GD là đầu tư có lãi.

Những "đặc khu tri thức" đó nếu hình thành sẽ là những hạt nhân, trước hết đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội các vùng miền và đất nước. Thứ nữa, kích thích sự phát triển, sự chuyển động tích cực của cả hệ thống đào tạo về chất lượng.

Nếu làm được như vậy, những "đặc khu tri thức" ấy sẽ chính là những đường cao tốc trí tuệ đưa đất nước cất cánh vào tương lai.

Chỉ cần đầu tư 6 tỷ USD, con số lẻ trong số tiền đầu tư đường cao tốc dự kiến, cho việc xây dựng 6 trường đại học có chất lượng,  sẽ tạo ra 6 "đặc khu tri thức" gắn với sự phát triển kinh tế xã hội vùng miền. Ảnh minh họa

Sẽ có một câu hỏi đặt ra: Tại sao chúng ta không chọn lựa cách dựa vào hệ thống các trường ĐH đầu bảng phát triển tiếp lên như nhiều ý kiến khi bàn về ĐH "đẳng cấp quốc tế" trước đây, mà lại muốn tìm một con đường mới, riêng biệt?

Có 3 lý do sau:

- Bản chất của nền GDĐH truyền thống vốn có tính ổn định tương đối, thậm chí là bảo thủ. Do nhiều nguyên nhân, bản thân các trường ĐH công lập lâu nay với cung cách quản lý xơ cứng, lạc hậu, lại bị "lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm" chi phối, dường như chưa thể bước ra khỏi vùng trũng của tư duy GD cũ.

- Hệ thống các trường ĐH tư thục có thể mới về cơ chế, nhưng nhiều khiếm khuyết trong quản lý, tính mục đích vì lợi nhuận quá nặng, hiệu quả đào tạo lại thấp.

- Nếu trông chờ vào chiến lược phát triển hay cải cách GDĐH mà hiện nay chính ngành GD còn tranh cãi, chần chừ, hoặc lửng lơ...thì còn rất lâu, ý tưởng tạo ra những "đặc khu tri thức" rất khó thành hiện thực.

Cần một con đường đi mới, táo bạo, mạnh mẽ và quyết đoán hơn.

Cần những chính sách ưu tiên và đặc thù

Tạo nên chất lượng ĐT cao, mang tính đẳng cấp, có nhiều điều kiện, nhưng trong đó, có hai điều kiện tiên quyết: Cơ sở vật chất và đội ngũ quản lý, giảng viên. Như vậy, nếu đã gọi là "đặc khu tri thức", các trường này cần được hưởng những chính sách ưu tiên và đặc thù. Để ngoài cơ sở vật chất được đầu tư thỏa đáng, từ diện tích mặt bằng, đến cơ sở nhà xưởng, thiết bị kỹ thuật tiên tiến, phòng thí nghiệm hiện đại...điều đặc biệt, các trường phải hút được những giảng viên giảng dạy, nghiên cứu khoa học thực tài trong nước, nước ngoài.

Theo các chuyên gia ĐH, sự ưu tiên cho đội ngũ này thể hiện ngay ở những chính sách thu hút để họ thực sự nhiệt tâm. Đó là chấp nhận không phân biệt đối xử về "quốc tịch" với đội ngũ quản lý, giảng viên (là người nước ngoài, hoặc là những trí thức Việt kiều giỏi giang). Giảng viên người nước ngoài có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu có nhu cầu.

Để bảo đảm chất lượng cao, trong bối cảnh đời sống GD nước ta, ở các "đặc khu tri thức", tỷ lệ giảng viên là người nước ngoài, Việt kiều, nên chiếm khoảng 90-95%. Tỷ lệ sinh viên Việt Nam: 50-70%, còn lại là sinh viên nước ngoài.

Đây không phải vấn đề gì mới mẻ, mà là kinh nghiêm thực tế của nhiều trường ĐH danh tiếng của các quốc gia phát triển, như Singapore chẳng hạn (2 trường ĐH Quốc gia Singapore, ĐH Công nghệ Nanyang - lọt vào tốp 200 trường ĐH châu Á vừa được xếp hạng)(1). Tỷ lệ giảng viên là người nước ngoài của các trường nói trên thường chiếm khoảng 60%; đội ngũ này sau 3 năm lại được sàng lọc lại, bảo đảm chất lượng theo yêu cầu mục tiêu đào tạo.

Những "đặc khu tri thức" có thể đặt ở 6 vùng: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng (Hà Nội), miền trung (Đà Nẵng), đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ), TP Hồ Chí Minh, và Tây Nguyên gắn với 6 vùng kinh tế đặc thù khác nhau. Nhưng trước mắt, nên chọn và đặt 3 "đặc khu tri thức" ở 3 vùng: Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM, những nơi có các điều kiện sống, sinh hoạt thuận lợi hơn.

Với việc tạo ra những "đặc khu tri thức" cùng lúc, ngành GD quy hoạch lại mạng lưới các trường ĐH sao cho phù hợp thực tiễn phát triển kinh tế xã hội các vùng miền, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư và đào tạo.

Giữa sự vay mượn tốn kém nhưng chưa phải lúc, với sự vay mượn không quá lớn, để đầu tư GD, có lãi lâu dài cho nhân lực và sự phát triển quốc gia, đâu là cái cần ưu tiên "cao tốc": Đường sắt hay "đặc khu tri thức"?

Câu trả lời có lẽ cũng rõ ràng.

---

(1) Tham khảo: http://www.tuanvietnam.net/2010-05-17-dai-hoc-viet-nam-chan-khong-toi-dat-

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Quyền lực và tri thức

Được biết Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất sắp diễn ra từ ngày 21-23/11.

Việt Nam kêu gọi người Việt ở nước ngoài về giúp xây dựng đất nước

Chủ đề cuộc gặp, theo ban tổ chức, là “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Tiêu chí thì hay, nhưng không hề mới đã làm nảy sinh câu hỏi là sao vấn đề hay như vậy mà qua hằng chục năm vẫn không tiến bộ khả quan? Thiết nghĩ trong một cái nhìn dài hơi, thì sự đóng góp của kiều bào quan trọng nhất là chuyển tải thông tin và tri thức tiên tiến về nước, đặc biệt khi kiều hối cùng những quan hệ trực hệ theo thời gian mà ít dần đi.

Suy tính về phương pháp và hiệu quả chuyển giao tri thức, chắc chắn không thể bỏ qua thực tế sử dụng trí thức trong nước. Người viết muốn hình dung những rào cản với trí thức Việt kiều, thông qua việc khảo sát giới trí thức Việt Nam.

Trí thức Việt Nam - cắt một lát!

Thôi thì ta tạm gọi những người được đào tạo có trình độ đại học trở lên ở Việt Nam là trí thức, mặc dù GS Phan Đình Diệu đã từng cho rằng Việt Nam chưa có đội ngũ trí thức theo đúng nghĩa.

Tìm đọc lại lớp trí thức Tây học tiêu biểu như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguỵ Như Công Tum…có vẻ các cụ chỉ được chính quyền sử dụng như những “lá bài” chính trị hơn là tạo điều kiện để tri thức của các cụ tỏa sáng, truyền bá tới các tầng lớp nhân dân và hậu thế.

Nhắc lại như vậy để thấy, loại trí thức cây Đa, cây Gạo ở Việt Nam hầu hết là bắt nguồn đào tạo từ “lò” Liên Xô, Đông Đức, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ. Riêng Liên Xô (cũ) cho tới lúc rã đám (1990) đã đào tạo cho Việt nam 52.000 đại học, sau đại học và khoảng 100.000 công nhân kỹ thuật. Trong suốt chiều lịch sử của chiến tranh lạnh, do lằn phân chia ý thức hệ, “kênh” thông thương của trí thức Việt nam với thế giới cơ bản là các nước XHCN.

Khối XHCN Đông Âu sập đổ, giới trí thức Việt Nam mất đi chỗ dựa tinh thần và hệ thống chính trị thì mất điểm tựa về ý thức hệ. Trí thức Việt Nam đồng thời mất cơ hội đào tạo cơ bản và nâng cao trình độ, nhưng nghiêm trọng nhất là mất đi “chiếc cầu trung gian” để giúp họ mường tượng ra thế giới bên ngoài đã biến đổi sang nền kinh tế tri thức như thế nào, dù rằng trình độ của các nước Đông Âu lúc ấy còn đi sau các nước Tây Âu hàng chục năm.

Mô hình công nghiệp ở những năm cuối thập kỷ 80 tại Liên xô và Đông Âu là những công xưởng “đại tướng” nhưng lãng phí tài nguyên, năng lượng và ô nhiễm. Nền công nghiệp hóa được vẽ ra bởi đội ngũ trí thức lãnh đạo Việt nam cho tương lai 2020, có dáng dấp của “thời đại công nghiệp” này vay mượn cách tổ chức của các tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc.

Trong các quốc gia phát triển, giới trí thức thường đi đầu trong các trào lưu tư tưởng và sáng tạo, làm lực lượng tiên phong đưa cả xã hội đi lên. Có thể gọi đó là tính tiên phong và “lãng mạn” mà xã hội đòi hỏi ở đội ngũ này.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ, đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực tới trạng thái tâm lí duy lợi.

Hoàng Kim Phúc

Sức mạnh của trí thức phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, trình độ cập nhật thông tin và điều kiện tự do tư tưởng. Thiếu một trong ba yếu tố trên, giới trí thức không thể phát triển được. Cả ba điều trên đều là những thứ còn thiếu vắng trong xã hội Việt nam hiện nay.

Trong cả một thập kỷ 90 biến động và “cô lập”, giới khoa bảng Việt Nam xào xáo lại những kiến thức cũ, quay lại đào tạo lẫn nhau theo những quy chuẩn tự họ đặt ra. Đa phần những “tri thức” này giúp họ hợp thức hoá bằng cấp để giành chỗ trong hệ thống chính trị nhưng nó còn ít giá trị phục vụ xã hội vì đã lỗi thời. Lớp cán bộ này hiện nay đang nắm hầu hết các vị trí quan yếu của đất nước.

Nền tảng tri thức như vậy dĩ nhiên dẫn tới sự mất niềm tin vào khả năng tự tác nghiệp khi cọ sát với sự phát triển khoa học, công nghệ chóng mặt ở thế giới.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ được tuyên huấn ngay từ thơ ấu đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực trong các sở, vụ, viện, bộ, trung ương … tới một trạng thái tâm lí duy lợi, và giữ quyền lực bằng mọi giá. Tâm tư phổ biến của lớp cán bộ này là nhìn sự nhũng lạm quyền lực với con mắt vừa căm ghét, vừa thèm khát nhưng cũng đầy sợ sệt. Thực trạng mua quan bán tước rộng khắp từ thấp tới cao là một hệ quả nhỡn tiền.

Mọi thứ lý tưởng hoa mỹ sau “sụp đổ Đông âu” chỉ còn là màn trình diễn nhằm biện bạch cho tính chính thống hay tính tiên phong mà thực ra họ đã không còn thủ đắc nữa.

Phía bên kia

Trong những năm tháng đó, ở phía bên kia của lát cắt có một thành phần mới khác đang lớn lên. Dẫn đầu họ là những trí thức xuất sắc do may mắn nào đó “sống sót” sau những cơn “lũ quét” hồng hơn chuyên như Hoàng Tụy, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A…

Lớp trẻ hơn nằm trong nhóm người may mắn tìm được cơ hội đào tạo từ ở những nước dân chủ phát triển, bao gồm một số “con ông cháu cha”, hay những du học sinh cuối cùng ở Đông Âu XHCN tìm được cơ hội học tập và làm việc ở nước thứ ba. Số khác được đào tạo tại Việt Nam nhưng sau đó có cơ hội làm việc và trưởng thành trong các công ty, tổ chức nước ngoài, thậm chí đang làm việc trong thể chế nhưng bắt buộc phải cọ sát có hệ thống với bên ngoài do công việc đòi hỏi. Nhiều người là du học tự túc.

Sự khác biệt cơ bản của tập hợp này với những người ở phía bên kia lát cắt không hẳn là nền tảng tri thức nghề nghiệp cập nhật, tiếng Anh hoặc phương pháp tổ chức làm việc hiệu quả, vì đó chỉ là những kĩ năng nếu có đầu tư và phương cách đúng là có thể đào tạo được ở Việt Nam.

Nhiều người Việt đang được các trường lớn ở phương Tây đào tạo

Khác biệt chính là ý thức của họ về một xã hội dân chủ.

Hoàn cảnh cọ sát học tập và làm việc đã chỉ cho họ một điều rõ ràng rằng “hoàn toàn có thể xây dựng một xã hội ít tham nhũng hơn, con người có cơ hội được đào tạo và chăm sóc sức khỏe tốt hơn nếu vận hành xã hội theo những nguyên tắc kỹ trị trên nền tảng của dân chủ và thượng tôn tam quyền phân lập.

Mặc dù về số lượng họ còn rất nhỏ so với cả một bộ máy cầm quyền, chưa kể bộ máy này còn luôn được bổ sung những “kế cận” là sản phẩm của nền giáo dục lạc hậu đang tạo ra, nhưng nhóm “thiểu số” này có những điểm mạnh tuyệt đối, đó là nó phát triển đúng với xu thế của nhân loại nên được bổ sung liên tục bởi nhiều phần tử trẻ từ lát cắt bên kia, mỗi khi họ có cơ hội đào tạo ở thế giới văn minh và nhận thức lại. Hơn nữa, khát vọng của “tập hợp” này hướng tới chính là ước vọng của cả dân tộc. Khát vọng mà trào lưu cộng sản đã hứa mang đến nhưng thất bại vì chính những phi lí từ nguyên lí của nó.

Thực tế và viễn cảnh

Người Việt chưa có văn hóa phản đối tập thể nhưng việc hàng ngàn cán bộ có năng lực, sau khi được đào tạo, bỏ “khu nhà nước” để ra tư nhân thực chất là họ đã “tỏ thái độ bằng chân” thể hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa hai lát cắt này.

Viện IDS của nhiều trí thức tự giải thể để phản đối một quyết định của chính phủ

Mâu thuẫn kể trên sẽ bị trầm trọng hóa và biến thành đối kháng khi những vấn đề liên quan tới ngoại xâm và an ninh quốc gia nổi lên, vì lúc đó sự cố kết để giữ quyền lợi của các nhóm quyền lực và lợi ích trở thành vật cản để đất nước cải biến và tìm lối thoát hiểm cho cả dân tộc.

Từ thực tế trên cho thấy, ngay cả những tinh hoa trí thức hiện tại đang sống trong nước cũng không được phát huy hay sử dụng hiệu quả, thì việc kêu gọi góp sức chấn hưng đất nước từ trí thức Việt kiều, những người đang sống và làm việc trong môi trường tự do, với nhân sinh quan và thế giới quan khác biệt với không gian chính trị trong nước sẽ khó mà đồng điệu và khả thi.

Để một đất nước phát triển bền vững, giới cầm quyền cần nhận thức những quy luật có tính tất yếu để tìm kiếm những chính sách phù hợp, giải phóng năng lực sáng tạo và tránh tổn thất. Điều đó sẽ khôn ngoan hơn là làm chậm sự phát triển quy luật bằng mọi giá. Hơn nữa, chỉ khi nào những mâu thuẫn nội tại giữa quyền lực và tri thức bên trong giới trí thức tại Việt Nam được giải quyết thì khi đó mới hy vọng động viên hiệu quả trí tuệ của trí thức Việt kiều.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2009

Trí thức Việt Nam quanh Bồn Trí tuệ

Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn Giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:

“Súc tiền!” Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”

Nhan Súc trả lời:

“Vương tiền!” Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”

Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:

“Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!”

Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị.

Trí thức Việt Nam xưa nay phần đông thường ở thế yếu – thế bị động và chống đỡ – trước những thế lực chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa như những ông nghè, ông cống suốt một đời đèn sách và hành xử lý tưởng kinh bang tế thế của đời mình quanh quẩn trong những ao hồ Tứ  thư, Ngũ kinh. Khi còn đèn sách thì cố công dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan. Khi ra trường đời lại loay hoay trong giới hạn của lòng trung quân ái quốc tù đọng Nho giáo. Bởi vậy, bao nhiêu tên tuổi các bậc đại khoa ghi đầy ở Văn Miếu Hà Nội, ở đền Văn Thánh Huế hay đâu đó khắp xứ cũng chỉ còn là… hương trầm trong gió sương cổ tích mà thôi.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, quần chúng ngó lên, kẻ sĩ ngó xuống và thì thầm vào tai nhau: “Bốn nghìn năm văn hiến!” Tất cả đều cảm thấy tự hào về một quá khứ trong trí tưởng. Trong lúc đó, suối nguồn tư tưởng trong ta lại chưa đủ sâu dày để xây lên một dòng chảy riêng cho một triết lý thuần Việt. Ta có hơi nhiều ông Trạng thông minh đĩnh ngộ và ranh mãnh đầy tiểu xảo trong hiện thực và ước mơ; nhưng lại không có được một triết gia trầm tĩnh và vững chãi của một cánh rừng đại mộc tư tưởng. Ta có nhiều câu lạc bộ trí thức từ Bắc chí Nam, khắp trong nước và ngoài nước, nói chuyện hoàn cầu và hoàn vũ nổ giòn như pháo bông ngày đại khánh; nhưng lại chưa có những nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn làm chỗ dựa tham khảo đáng tin cậy cho sinh hoạt tri thức và những vấn đề quốc kế dân sinh. Thế giới ngày nay càng ngày càng có nhìều nhóm trí thức cùng lĩnh vực chuyên môn tập hợp lại để tạo nên một trí tuệ tập thể gọi là Bồn Trí tuệ (Think Tank). Giáo sư Lê Xuân Khoa gọi Think Tank là “Vựa Tư tưởng”. Vựa, là hình ảnh bình dân, diễn cảm như vựa cá, vựa thóc; nhưng Tư tưởng, có xa rời đại chúng quá chăng. Trạng Quỳnh, thằng Bờm cũng có Bồn Trí tuệ riêng trong điệu sống độc đáo giữa đời.

Đối với truyền thống văn hóa hiếu học, xếp sĩ đứng đầu sự phân chia giai cấp xã hội của dân ta thì vai trò người trí thức xưa nay vẫn là hình ảnh tiêu biểu cho chất xám, cho trí tuệ của đại chúng. Chất xám đơn thuần không tạo ra trí thức mà trí thức là người biết sử dụng hữu hiệu chất xám. Hay nói theo khái niệm nôm na của quần chúng thì trí thức là người có tri thức, có trí tuệ.  Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy.

Dầu đứng ở bất cứ phía nào, ta cũng không thể phủ nhận được rằng, đầu tư trí thức (giáo dục, nghiên cứu) là một trong những phương tiện thiện xảo nhất giúp làm cho dân giàu nước mạnh.  Đa số các nước nghèo trên thế giới hiện nay đều có sự thiếu quân bình giữa số dân và các cơ sở đầu tư giáo dục. Cụ thể là môi trường đào tạo trí thức quá thấp so với số dân cư. Nước Mỹ tuy mới lập quốc 233 năm nhưng hưởng được sự giàu mạnh như hiện nay, không phải là một sự tình cờ may rủi mà rõ ràng là do sự đầu tư xông xáo và lâu dài vào môi trường giáo dục; nhiệt tình và thành thật chiêu hiền đãi sĩ; mở rộng tấm lòng và vòng tay đón nhận chất xám toàn cầu không phân biệt biên cương màu sắc. Hiện nay, với số dân 305 triệu người, Mỹ có tới khoảng 4500 trường đại học và trên dưới 100 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn – Think Tank – phần lớn có thế lực toàn cầu. Riêng một tiểu bang California giàu nhất nước Mỹ, với dân số 36 triệu người thì cũng đã có tới 399 trường đại học. New York, với dân số 20 triệu, có 307 trường đại học. Trong lúc đó, Việt Nam ta có một dân số tới 85 triệu người nhưng mới có khoảng trên dưới 50 trường đại học to nhỏ và chỉ 001 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn đầu tiên có tên là Viện Nghiên cứu Phát triển – Think Tank IDS – vừa mới tự động giải tán sau Quyết định 97 đã ban hành của chính phủ Việt Nam.

Giới quan sát khách quan và nghiêm chỉnh trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra ngạc nhiên không ít về những tình huống hầu như nghịch lý về phía chính phủ cũng như về phía nhóm chuyên viên IDS. Nếu nói một cách hồn nhiên đầy tính hoạt kê của người bình dân không xu phụ quyền thế mà cũng chẳng đeo mang trí thức thì chính quyền Việt Nam “chưa tậu được bò đã lo rình mò kẻ trộm”; trí thức IDS thì “muốn vào rừng mà nửa chừng bó tay” (?!)

Sau hơn 30 năm trải qua nhiều chặng đường có lúc phong quang, có lúc gập ghềnh với nhiều mày mò, trăn trở Việt Nam đã lọt qua nhiều cửa ải không kém phần gian khó, truân chuyên để bước vào cộng đồng thế giới. Ngày nay, Việt Nam đã có mặt với thế thành viên bình đẳng trong hầu hết các tổ chức then chốt toàn cầu và phân vùng như Liên Hiệp Quốc, WTO, Ngân hàng Thế giới, Thế vận Hội, ASEAN… Nhu cầu hiển nhiên trước một vị thế mới trong quan hệ đa dạng như thế là sự hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt và chuyên môn.

Người Việt trong cũng như ngoài nước vốn cần cù, thông minh; đầy đủ khả năng chất xám, tinh thần tự tin và lòng tự trọng để tiến bước song hành với mọi thành viên đối tác trong cộng đồng thế giới ngày nay. Xã hội càng tiến nhanh, nhu cầu học hỏi và tham khảo càng bức thiết. Giới lãnh đạo trong các nước giàu mạnh trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã công khai tham khảo và dựa vào những dữ kiện được tìm tòi, phân tích và chắt lọc từ các nhóm Tham vấn Chuyên môn (Bồn Trí tuệ – Think Tank). Mỗi Bồn Trí tuệ trong từng khung cảnh chuyên môn như thế là một tập đại thành của nhiều đầu óc xuất sắc. Nhà nước, tập đoàn, công ty của Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước công nghiệp phát triển nói chung đều phải trả những món tiền rất lớn mỗi khi cần tham khảo ý kiến chuyên môn cho những vấn đề đối ngoại cũng như đối nội cần thiết. Có khi nhà nước phải trực tiếp tài trợ cho các Think Tank. Hàng trăm Think Tank của Mỹ đã đóng góp trực tiếp hay gián tiếp vào sự giàu mạnh của xứ nầy. Ngay ở Ấn Độ, một quốc gia mà giới lãnh đạo luôn có mặc cảm tự tôn là thuộc giai cấp minh triết, nhưng Bồn chứa Trí tuệ IDSA (Institute of Defense Studies and Analysis) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cho chính sách đối ngoại và quốc phòng của xứ nầy. Gần xứ ta nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, những Think Tank đã đóng một vai trò tích cực để giữ cho Trung Hoa lục địa và các vùng thuộc địa tự trị công khai hay âm thầm tìm hiểu và đối thoại với nhau, giữ được sự độc lập và phồn vinh có lợi cho tất cả mọi phía như ngày nay.

Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến, sao lại chỉ mới có một Bồn Trí tuệ chưa đầy đã vỡ? Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí tuệ nầy chăng?

Câu trả lời cố nhiên là không phải thế. Vậy thì tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại ra Quyết định 97 với danh nghĩa là minh thị và bổ sung quy chế thành lập hội đoàn trí thức, quy định nội dung nghiên cứu, khống chế tinh thần phản biện?

Trước nhu cầu tạo sức mạnh tổng hợp để đánh giặc và quản lý xã hội trong thời chiến, khái niệm “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ” các sản phẩm tinh thần và vật chất tập thể tuy hơi ngồ ngộ trong cảm nhận, nghịch lý trong tư duy và chẳng có chi trong thực tế nhưng có thể hiểu được. Thế nhưng, đất nước đã hết chiến tranh gần 35 năm và đang chen vai thích cánh bước vào thị trường thế giới đầy gai góc và thử thách thì rõ ràng một quyết định quản lý tự do nghiên cứu, giới hạn lĩnh vực, môi trường; kiểm soát tham luận và phản biện của giới trí thức dân tộc như thế là một “tuyệt đại tối siêu sản phẩm của thế kỷ” – nói theo kiểu tưng tửng của một nhân vật trong Harry Porter khi đụng đến những chuyện kỳ lạ khó hiểu. Không hiểu thì làm sao yêu mến được; không yêu mến được thì làm sao nhận lãnh; không nhận lãnh thì làm sao cống hiến, dấn thân?

Nếu Quyết định 97 của Thủ tướng Việt Nam mang đầy đủ những điều nghịch lý khó hiểu như thế đối với trí thức IDS thì quyết định tự giải thể để khỏi đương đầu với những vấn nạn không có cơ hội lý giải hay viễn ảnh xung đột, mâu thuẫn không có khả năng hóa giải là một sự lương thiện trí thức của những người chủ xướng đang đứng quanh Bồn Trí tuệ.

Một khi tự do phát kiến của trí thức bị trói buộc và giới hạn thì học thuật chỉ còn là một quá trình thụ động học thuộc lòng, bắt chước, vuốt đuôi như cái học nhà Nho đã làm đất nước chững lại giữa suy đồi. Chỉ tiêu đào tạo hàng vạn tiến sĩ trong những năm tớì của Việt Nam ta sẽ về đâu?  Luận án tiến sĩ không thể là những tập hợp của các tập bài học, bài thi Tam Trường ngày xưa nữa. Luận án tiến sĩ (doctoral dissertation) ngày nay phải là những phát kiến, phát minh mới mẽ, sinh động trong môi trường học thuật. Muốn sáng tạo và phát huy tác dụng chất xám của giới trí thức thì điều kiện tiên khởi là phải có tự do tri thức. Mặc cảm lo sợ phạm trường quy và “trọng húy” ngày xưa đã đào tạo một lớp kẻ sĩ thụ động, tầm chương trích cú. Sự lãnh đạo sáng suốt của bất cứ thời nào và nơi đâu đều có sự nhất quán rằng, muốn cho dân giàu nước mạnh thì cần phải biết đầu tư trí thức. Những vị minh quân trong những triều đại cực thịnh đều có những vị gián quan can đảm và những quốc sư sáng suốt bên cạnh. Kẻ sĩ nịnh thần ngày xưa và trí thức diễn văn phòng hội làm vui lòng lãnh đạo ngày nay đã tự liệt mình vào hàng sĩ phiệt. Học phiệt đào tạo sĩ phiệt là cặp phạm trù nhân quả chỉ làm cho chế độ chính trị và đất nước suy vong như lịch sử nhân loại đã chứng minh.

Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) tưởng như đã lãng quên đang bừng sống lại trong những năm gần đây với dân Việt ở quê nhà cũng như ở hải ngoại. Đó là ngày giỗ của Khuất Nguyên, một trí thức thi nhân đã trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn cách đây hơn 2300 năm.  Khuất Nguyên tuyệt vọng vì bị vua Sở Hoài Vương một thời trọng dụng và về sau bạc đãi vì vua nghe nịnh thần tâu dối. Nghe chuyện, có lão ngư ông ngồi trên bến sông, vuốt râu, gõ bồn (trí tuệ?) mà hát:

Thương Lương chi thủy thanh hề khả dĩ trạc ngã anh.

Thương Lương chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngã túc.

Xin tạm phóng dịch:

Thương Lương dòng nước trong xanh,

Thì ta ngả nón rửa quanh mái đầu.

Thương Lương dòng nước đục ngầu,

Thì ta vẫn rửa, mặc dầu rửa chân.

Nước trong ta rửa mặt, nước đục ta rửa chân, cớ sao lại phải hủy diệt chính mình?

Với người trí thức, rửa là cống hiến chất xám và dấn thân hòa điệu sống phục vụ cho đời. Lời lão ngư ông trên bến sông ngày xưa ấy đã nói gì với sự lựa chọn thái độ của người trí thức hôm nay?

PSY-EASTWEST FOUNDATION

Sacramento, ngày lụt bão đầu mùa Thu 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Biến trí thức thành công cụ của người cầm quyền

Cựu chuyên viên và hiện đang là cố vấn cho Liên Hiệp Quốc, ông Vũ Quang Việt, vừa lên tiếng chỉ trích Quyết định 97.

Quyết định 97 hạn chế giới nghiên cứu tư nhân ra ý kiến phản biện về chủ trương, chính sách của chính phủ.

Viết bài đăng trên mạng viet-studies.info ông Việt cho rằng quyết định 97 có ý đồ biến trí thức thành công cụ của người cầm quyền.

Trao đổi với BBC Việt Ngữ ngày 16/9 ông Vũ Quang Việt, định cư tại Mỹ và là chuyên gia về thống kê kinh tế của Liên Hiệp Quốc nói:

“Đảng CS Việt Nam có một quá trình dài lâu muốn dùng trí thức làm công cụ. Để làm đẹp cho chế độ là chính.”

Thời gian trước đây ông Việt ghi nhận, Việt Nam có tình trạng ngăn sông cấm chợ khiến người dân bị đói ngay trên ruộng lúa của mình. Một số trí thức, trong đó có ông, tham gia góp ý, đề xuất cách quản lý mới.

“Có những lúc trong đảng hoặc những người lãnh đạo thời đó họ nhìn thấy vấn đề và sẵn sàng nghe trí thức. Thế còn bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao họ lại sợ hãi, lại muốn bịt miệng trí thức lại. Hoặc họ không muốn cho trí thức phát triển nghiên cứu vào vấn đề liên quan đến xã hội.”

Trong một lần trả lời phỏng vấn mạng VietnamNet Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Quân đã nói đến nguyên nhân ra đời của Quyết định 97.

“Trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta cần có sự đồng thuận cao của xã hội đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước…thì việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối chủ trương, chính sách điều hành kinh tế xã hội phải hết sức thận trọng.”

Với cái nhìn như vậy, kể từ nay, theo tiến sỹ Vũ Quang Việt, sẽ rất khó cho các chuyên gia, trong nước cũng như hải ngoại, tham gia đóng góp cách điều hành kinh tế của chính phủ.

Vị chuyên viên về toán thống kê của Liên Hiệp Quốc gọi cách làm như vậy là đi vào ngõ cụt.

“Tôi thí dụ, năm ngoái lạm phát tại Việt Nam có những lúc tính ra có thể lên tới 60% một năm. Mặc dù cả năm khoảng 25%. Bản thân tôi cũng đã nhìn thấy vấn đề như vậy. Nhưng khi đưa chủ đề này ra, một số người trong nước cảm thấy họ như bị phê phán.

Có những lúc trong đảng hoặc những người lãnh đạo thời đó nhìn thấy vấn đề và sẵn sàng nghe trí thức. Bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao họ lại sợ hãi, lại muốn bịt miệng trí thức lại

Vũ Quang Việt

“Và bây giờ cái quyết định này có nghĩa là những vấn đề liên quan đến chính sách vĩ mô của nền kinh tế thì sẽ không được góp ý kiến nữa. Nếu muốn thì đưa cho ông thủ tướng, hoặc là ông bộ trưởng nào đó, chứ nguyên tắc không được phổ biến công khai.”

Luật pháp tùy tiện

Mặc dù Quyết định 97 liên quan đến các tổ chức nghiên cứu tư nhân trong lĩnh vực khoa học công nghệ, nhưng ‘tầm ngắm’ của nó, theo ông Vũ Quang Việt, bao trùm lên tất cả các hoạt động về tri thức và phản biện. Và những nhận xét về cách điều hành kinh tế tại Việt Nam.

“Nếu Việt Nam áp dụng cái quyết định này tới cùng thì tất cả những nghiên cứu về xã hội hay kinh tế của những công ty đang làm ăn ở Việt Nam, ví dụ của các ngân hàng nước ngoài, họ muốn khuyên bảo khách hàng không nên đầu tư trong nước vì nguyên nhân thế này thế kia, thì rõ ràng là vi phạm quyết định này rồi.”

Ông Việt là tác giả của rất nhiều bài viết, phân tích về chính sách kinh tế gửi đăng trên các tạp chí chuyên môn, hoặc báo chí trong nước. Quá trình cộng tác với báo trong nước, theo ông, từ trước đến nay, chỉ liên quan đến việc “chỉnh sửa câu văn, yêu cầu bỏ ý này, ý kia, sửa lại câu chữ để tránh đụng chạm, hoặc quá lắm thì không đăng.” Và ông cho rằng con đường này “hiện đang rộng mở để mọi người có thể đóng góp ý kiến, dù phê bình hay phản biện.”

Ông nhấn mạnh “việc phát biểu ý kiến như thế đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và là điều rất nhiều nước trên thế giới đang làm.” Ông không tin là chính quyền sẽ bãi miễn Quyết định 97, dù nó hạn chế hoạt động nghiên cứu và phản biện của công dân.

“Họ không bãi miễn đâu. Nếu có họ đã làm rồi. Hoặc họ sửa lại. Dĩ nhiên không phải ai có ý kiến họ cũng cấm cả. Hoặc báo chí đăng rồi họ đi săn lùng, gây trở ngại cho báo chí. Dĩ nhiên là tùy trường hợp mà họ sử dụng quyết định này, để chặn đứng, để hạ bệ người nào, hoặc hoặc bỏ tù ai đó. Thế còn người nào họ không muốn thì họ lờ đi. Tức là họ sẽ dùng QĐ 97 tùy từng trường hợp. Tức là đất nước nó không ra một thứ luật pháp nào cả.

Và chuyên gia Việt Kiều lo ngại về việc áp dụng QĐ 97 một ‘cách chọn lọc’ trong thời gian tới.

“Luật pháp được áp dụng cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc chứ không thể nào một cái thứ luật pháp áp dụng tùy từng trường hợp. Mà tôi thấy rõ ràng sắp tới họ sẽ dùng cái này tùy từng trường hợp.”