Hiển thị các bài đăng có nhãn diễnbiếnhoàbình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn diễnbiếnhoàbình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2010

Roger Cohen – Những vị thánh 70% của Châu Á

Trần Quốc Việt dịch

Bắc Kinh – Tôi đã có dịp đến thăm các vị thánh Châu Á trong những lăng tẩm có hàng dãy cột của họ và lòng tự hỏi họ sẽ nghĩ gì về các xã hội đã được kiến tạo nhân danh họ. Tương lai của các vị thánh này rồi ra sao sẽ là một câu hỏi trọng tâm trong thế kỷ 21.

Trước tiên, ở Hà Nội, có Hồ Chí Minh, con người phiêu bạt khắp thế giới (có một dạo đã dừng chân ở Brooklyn), một khắc tinh quỷ quái của quân đội Pháp và Mỹ, người thống nhất một nước Việt Nam độc lập, “Bác” của cả nước, giờ bị ướp xác ngược lại ý nguyện của ông là muốn tro mình được đem rải. Cậu con trai 15 tuổi của tôi, lóng ngóng vụng về như thường thấy ở Brooklyn, bị khiển trách là đã đút hai tay vào túi vì làm như thế là thiếu tôn kính.

Tôi nghĩ con tôi chưa từng bao giờ nhìn thấy một xác chết, lại càng chắc chắn chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy một xác chết đã được ướp suốt trong bốn thập niên. Những người lính Việt Nam bảo vệ lăng lại lầm tưởng sự vụng về là thái độ. Đầu óc ta cứ quay cuồng theo ý nghĩ miên man về vị thánh đã không còn dương khí ở ngay trước mặt.

Rồi, ở đây trong một Bắc Kinh lạnh như cắt thịt, vào một buổi sáng trời đầy nắng ở quảng trường Thiên An Môn, sau khi đi ngang qua một tiệm McDonald, tôi chợt nhận ra rằng chỉ có mỗi mình tôi với Mao Trạch Đông, Người Cầm Lái và Người Thầy Vĩ Đại, người trông hơi hồng hào hơn so với Hồ. Thấy chẳng có ai khác xung quanh, tôi định nấn ná thêm, nhưng người lính bảo vệ không cho phép.

Tưởng chừng như mấy phút với các vị thánh Châu Á im lặng ngàn thu này đều được bấm giờ chi li như mấy phút với một luật sư ở New York.

Nói nhiều người chết vì các tư tưởng của Mao và Hồ là cách nói nhẹ nhàng lịch sự. Theo ước tính, chỉ riêng nạn đói tại Trung Quốc diễn ra từ năm 1958 đến năm 1961 đã cướp đi sinh mạng của 35 triệu người. Đó là trước “thập niên kinh hoàng” của Cuộc Cách mạng Văn hoá, khởi đầu vào năm 1966, đã làm tan nát bao tâm hồn giống như cái đói đã làm tan nát bao hình hài.

Hồ, mà những chuyến lang thang dài qua khắp Châu Âu và Mỹ là sự gợi nhớ rằng các tư tưởng cách mạng được nhen nhúm lên trong thời gian tha hương ở Phương Tây không có gì là mới (dù có khác với Hồ là những kẻ theo đuổi thánh chiến chống Tây Phương ngày nay trưởng thành ở London hay Hamburg), đã không làm những chuyện tầm cỡ như Mao. Nhưng hơn ba thập niên chiến tranh, rồi tiếp đến là chương trình tập thể hoá toàn diện, đã gây ra cái chết cho hàng mấy triệu người.

Những vị thánh này một thời đã có quyền lực tuyệt đối và các đòi hỏi của họ về sự tuân phục rất lớn. Vậy tại sao họ vẫn được tôn kính? Tôi nghĩ trước hết là vì họ đã khẳng định sự kiến quốc, mối đoàn kết, lòng tự hào và nền độc lập của quốc gia của họ chống lại nạn thực dân hoá Tây Phương hay chống lại nạn ngoại xâm và qua đó giải thoát đất nước họ ra khỏi những hình thức tủi nhục.

Thật ra ta phải chấp nhận sự thực là, ở một mức độ  nào đó, Mao và Hồ là những vị thánh chống Tây Phương trong một thời đại khi quyền lực và thẩm quyền đạo đức của Tây Phương đang bị chất vấn khắp nơi, một khuynh hướng mà lòng hâm mộ toàn cầu dành cho tổng thống Obama cũng chẳng vớt vát được gì.

Tất nhiên, Mao và Hồ cũng duy trì được ảnh hưởng thống trị của mình như hiện nay vì các đảng cộng sản mà họ đã lãnh đạo vẫn còn đang cai trị những nhà nước theo chế độ độc đảng, và vì các đảng này đã viết lại ý thức hệ của hai người. Tư tưởng của Mao không chấp nhận tiệm McDonald đó.

Giờ đây, về cơ bản, họ chỉ còn là các vị thánh 70 phần trăm, tức những vị thánh đã bị rút nhỏ lại. Đặng Tiểu Bình đưa Trung Quốc theo con đường phát triển nhanh chóng, đã và đang thay đổi thế giới qua việc thừa nhận rằng Mao đã sai lầm (khoảng độ 30 phần trăm) và rằng một cuộc cách mạng vô sản để cho người dân đói nên nhường chỗ cho một cuộc cách mạng qua đó người dân có thể làm giàu theo kiểu hơi giống tư bản. Tương tự như vậy, khi Việt Nam rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng, tầng lớp cộng sản cai trị ở Việt Nam chợt khám phá ra, hay có lẽ đã chế ra, một lời kêu gọi của Hồ là “người nghèo nên giàu và người giàu nên giàu hơn” để biện minh cho việc ngả sang nền kinh tế thị trường.

Những vị thánh 70 phần trăm này là những con người hấp dẫn. Họ đã buông dao đồ tể. Họ không bắt giam tập thể. Họ không cố gắng tiến nhanh lên thiên đường không tưởng.

Không, họ xây tường lửa thay vì thành quách. Họ sợ phản đối ôn hoà hơn sợ các phong trào bạo lực. Họ cấm Facebook thay vì lưu đày người dân đến các trại tù. Họ ít tàn bạo hơn nhưng lại gây phiền toái nhiều hơn. Tóm lại, họ đã trải qua nhiều lần son phấn lại dung nhan trong thế kỷ 21.

Những lớp son phấn mới này đã thành công. Tuy vẫn có thể, nhưng thật khó mà tưởng tượng sự tồn tại của các nhà nước độc đảng Việt Nam và Trung Quốc nếu không có sự phát triển thần kỳ do chủ nghĩa cộng sản thị trường tạo ra.

Tuy nhiên, có điều là những xã hội năng động như thế ắt sản sinh ra nhiều người có giáo dục hơn, giàu có hơn; rồi theo thời gian chính những người này sẽ trăn trở về những điều xa hơn chuyện tậu được cái nhà lớn hơn hay mua được chiếc xe hơi. Họ bắt đầu trăn trở xem họ nên chọn ai làm lãnh đạo. Họ trăn trở về tự do ngôn luận. Họ lấy làm bất mãn trước tệ nạn tham nhũng. Họ lấy làm lạ tại sao họ không thể Twitter.

Cho nên một nghịch lý rất lớn là những kẻ chăm sóc các vị thánh 70 phần trăm này trong lòng lại thấy rất bất an ở ngay chính thời điểm khi mà mọi thứ đều diễn ra theo như ý họ, khi họ có sự phát triển mà Tây Phương nằm mơ cũng không thấy, khi ai ai cũng nói về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Chỉ khi xét đến sự bất an như thế người ta mới có thể hiểu được việc kết án quá nặng tới 11 năm tù của Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, một nhà văn và cũng là nhà hoạt động chính trị. Ông Lưu là nhân vật chính đằng sau một văn bản kêu gọi nên tự do hoá về chính trị có tên là Hiến Chương 08 trong đó tuyên bố: “Chúng ta nên chấm dứt thói quen xem lời viết là tội.”

Và cũng chính sự bất an tương tự giải thích việc Việt Nam bắt giam Lê Công Định, một luật sư có sức lôi cuốn. Hành động thúc đẩy sự đa nguyên của ông Định khiến ông bị kết tội cấu kết với “các thế lực phản động trong và ngoài nước.”

Các vị thánh của Châu Á đã chứng tỏ là biết thích nghi theo thời thế. Nhờ đó thành quả tạo ra thật choáng ngợp, cho xã hội của họ và cho thế giới. Nhưng những lời viết của những người tù này, hoàn toàn, không phải là tội, và tình cảnh của họ là một sự định lượng về mức độ căng thẳng ẩn dưới các lớp son phấn làm đẹp của chế độ.

Nguồn: New York Times ngày 7 tháng Giêng năm 2010; http://www.nytimes.com/2010/01/08/opinion/08iht-edcohen.html

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Quyền lực và tri thức

Được biết Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất sắp diễn ra từ ngày 21-23/11.

Việt Nam kêu gọi người Việt ở nước ngoài về giúp xây dựng đất nước

Chủ đề cuộc gặp, theo ban tổ chức, là “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Tiêu chí thì hay, nhưng không hề mới đã làm nảy sinh câu hỏi là sao vấn đề hay như vậy mà qua hằng chục năm vẫn không tiến bộ khả quan? Thiết nghĩ trong một cái nhìn dài hơi, thì sự đóng góp của kiều bào quan trọng nhất là chuyển tải thông tin và tri thức tiên tiến về nước, đặc biệt khi kiều hối cùng những quan hệ trực hệ theo thời gian mà ít dần đi.

Suy tính về phương pháp và hiệu quả chuyển giao tri thức, chắc chắn không thể bỏ qua thực tế sử dụng trí thức trong nước. Người viết muốn hình dung những rào cản với trí thức Việt kiều, thông qua việc khảo sát giới trí thức Việt Nam.

Trí thức Việt Nam - cắt một lát!

Thôi thì ta tạm gọi những người được đào tạo có trình độ đại học trở lên ở Việt Nam là trí thức, mặc dù GS Phan Đình Diệu đã từng cho rằng Việt Nam chưa có đội ngũ trí thức theo đúng nghĩa.

Tìm đọc lại lớp trí thức Tây học tiêu biểu như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguỵ Như Công Tum…có vẻ các cụ chỉ được chính quyền sử dụng như những “lá bài” chính trị hơn là tạo điều kiện để tri thức của các cụ tỏa sáng, truyền bá tới các tầng lớp nhân dân và hậu thế.

Nhắc lại như vậy để thấy, loại trí thức cây Đa, cây Gạo ở Việt Nam hầu hết là bắt nguồn đào tạo từ “lò” Liên Xô, Đông Đức, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ. Riêng Liên Xô (cũ) cho tới lúc rã đám (1990) đã đào tạo cho Việt nam 52.000 đại học, sau đại học và khoảng 100.000 công nhân kỹ thuật. Trong suốt chiều lịch sử của chiến tranh lạnh, do lằn phân chia ý thức hệ, “kênh” thông thương của trí thức Việt nam với thế giới cơ bản là các nước XHCN.

Khối XHCN Đông Âu sập đổ, giới trí thức Việt Nam mất đi chỗ dựa tinh thần và hệ thống chính trị thì mất điểm tựa về ý thức hệ. Trí thức Việt Nam đồng thời mất cơ hội đào tạo cơ bản và nâng cao trình độ, nhưng nghiêm trọng nhất là mất đi “chiếc cầu trung gian” để giúp họ mường tượng ra thế giới bên ngoài đã biến đổi sang nền kinh tế tri thức như thế nào, dù rằng trình độ của các nước Đông Âu lúc ấy còn đi sau các nước Tây Âu hàng chục năm.

Mô hình công nghiệp ở những năm cuối thập kỷ 80 tại Liên xô và Đông Âu là những công xưởng “đại tướng” nhưng lãng phí tài nguyên, năng lượng và ô nhiễm. Nền công nghiệp hóa được vẽ ra bởi đội ngũ trí thức lãnh đạo Việt nam cho tương lai 2020, có dáng dấp của “thời đại công nghiệp” này vay mượn cách tổ chức của các tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc.

Trong các quốc gia phát triển, giới trí thức thường đi đầu trong các trào lưu tư tưởng và sáng tạo, làm lực lượng tiên phong đưa cả xã hội đi lên. Có thể gọi đó là tính tiên phong và “lãng mạn” mà xã hội đòi hỏi ở đội ngũ này.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ, đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực tới trạng thái tâm lí duy lợi.

Hoàng Kim Phúc

Sức mạnh của trí thức phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, trình độ cập nhật thông tin và điều kiện tự do tư tưởng. Thiếu một trong ba yếu tố trên, giới trí thức không thể phát triển được. Cả ba điều trên đều là những thứ còn thiếu vắng trong xã hội Việt nam hiện nay.

Trong cả một thập kỷ 90 biến động và “cô lập”, giới khoa bảng Việt Nam xào xáo lại những kiến thức cũ, quay lại đào tạo lẫn nhau theo những quy chuẩn tự họ đặt ra. Đa phần những “tri thức” này giúp họ hợp thức hoá bằng cấp để giành chỗ trong hệ thống chính trị nhưng nó còn ít giá trị phục vụ xã hội vì đã lỗi thời. Lớp cán bộ này hiện nay đang nắm hầu hết các vị trí quan yếu của đất nước.

Nền tảng tri thức như vậy dĩ nhiên dẫn tới sự mất niềm tin vào khả năng tự tác nghiệp khi cọ sát với sự phát triển khoa học, công nghệ chóng mặt ở thế giới.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ được tuyên huấn ngay từ thơ ấu đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực trong các sở, vụ, viện, bộ, trung ương … tới một trạng thái tâm lí duy lợi, và giữ quyền lực bằng mọi giá. Tâm tư phổ biến của lớp cán bộ này là nhìn sự nhũng lạm quyền lực với con mắt vừa căm ghét, vừa thèm khát nhưng cũng đầy sợ sệt. Thực trạng mua quan bán tước rộng khắp từ thấp tới cao là một hệ quả nhỡn tiền.

Mọi thứ lý tưởng hoa mỹ sau “sụp đổ Đông âu” chỉ còn là màn trình diễn nhằm biện bạch cho tính chính thống hay tính tiên phong mà thực ra họ đã không còn thủ đắc nữa.

Phía bên kia

Trong những năm tháng đó, ở phía bên kia của lát cắt có một thành phần mới khác đang lớn lên. Dẫn đầu họ là những trí thức xuất sắc do may mắn nào đó “sống sót” sau những cơn “lũ quét” hồng hơn chuyên như Hoàng Tụy, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A…

Lớp trẻ hơn nằm trong nhóm người may mắn tìm được cơ hội đào tạo từ ở những nước dân chủ phát triển, bao gồm một số “con ông cháu cha”, hay những du học sinh cuối cùng ở Đông Âu XHCN tìm được cơ hội học tập và làm việc ở nước thứ ba. Số khác được đào tạo tại Việt Nam nhưng sau đó có cơ hội làm việc và trưởng thành trong các công ty, tổ chức nước ngoài, thậm chí đang làm việc trong thể chế nhưng bắt buộc phải cọ sát có hệ thống với bên ngoài do công việc đòi hỏi. Nhiều người là du học tự túc.

Sự khác biệt cơ bản của tập hợp này với những người ở phía bên kia lát cắt không hẳn là nền tảng tri thức nghề nghiệp cập nhật, tiếng Anh hoặc phương pháp tổ chức làm việc hiệu quả, vì đó chỉ là những kĩ năng nếu có đầu tư và phương cách đúng là có thể đào tạo được ở Việt Nam.

Nhiều người Việt đang được các trường lớn ở phương Tây đào tạo

Khác biệt chính là ý thức của họ về một xã hội dân chủ.

Hoàn cảnh cọ sát học tập và làm việc đã chỉ cho họ một điều rõ ràng rằng “hoàn toàn có thể xây dựng một xã hội ít tham nhũng hơn, con người có cơ hội được đào tạo và chăm sóc sức khỏe tốt hơn nếu vận hành xã hội theo những nguyên tắc kỹ trị trên nền tảng của dân chủ và thượng tôn tam quyền phân lập.

Mặc dù về số lượng họ còn rất nhỏ so với cả một bộ máy cầm quyền, chưa kể bộ máy này còn luôn được bổ sung những “kế cận” là sản phẩm của nền giáo dục lạc hậu đang tạo ra, nhưng nhóm “thiểu số” này có những điểm mạnh tuyệt đối, đó là nó phát triển đúng với xu thế của nhân loại nên được bổ sung liên tục bởi nhiều phần tử trẻ từ lát cắt bên kia, mỗi khi họ có cơ hội đào tạo ở thế giới văn minh và nhận thức lại. Hơn nữa, khát vọng của “tập hợp” này hướng tới chính là ước vọng của cả dân tộc. Khát vọng mà trào lưu cộng sản đã hứa mang đến nhưng thất bại vì chính những phi lí từ nguyên lí của nó.

Thực tế và viễn cảnh

Người Việt chưa có văn hóa phản đối tập thể nhưng việc hàng ngàn cán bộ có năng lực, sau khi được đào tạo, bỏ “khu nhà nước” để ra tư nhân thực chất là họ đã “tỏ thái độ bằng chân” thể hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa hai lát cắt này.

Viện IDS của nhiều trí thức tự giải thể để phản đối một quyết định của chính phủ

Mâu thuẫn kể trên sẽ bị trầm trọng hóa và biến thành đối kháng khi những vấn đề liên quan tới ngoại xâm và an ninh quốc gia nổi lên, vì lúc đó sự cố kết để giữ quyền lợi của các nhóm quyền lực và lợi ích trở thành vật cản để đất nước cải biến và tìm lối thoát hiểm cho cả dân tộc.

Từ thực tế trên cho thấy, ngay cả những tinh hoa trí thức hiện tại đang sống trong nước cũng không được phát huy hay sử dụng hiệu quả, thì việc kêu gọi góp sức chấn hưng đất nước từ trí thức Việt kiều, những người đang sống và làm việc trong môi trường tự do, với nhân sinh quan và thế giới quan khác biệt với không gian chính trị trong nước sẽ khó mà đồng điệu và khả thi.

Để một đất nước phát triển bền vững, giới cầm quyền cần nhận thức những quy luật có tính tất yếu để tìm kiếm những chính sách phù hợp, giải phóng năng lực sáng tạo và tránh tổn thất. Điều đó sẽ khôn ngoan hơn là làm chậm sự phát triển quy luật bằng mọi giá. Hơn nữa, chỉ khi nào những mâu thuẫn nội tại giữa quyền lực và tri thức bên trong giới trí thức tại Việt Nam được giải quyết thì khi đó mới hy vọng động viên hiệu quả trí tuệ của trí thức Việt kiều.