Hiển thị các bài đăng có nhãn ids. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ids. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Quyền lực và tri thức

Được biết Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất sắp diễn ra từ ngày 21-23/11.

Việt Nam kêu gọi người Việt ở nước ngoài về giúp xây dựng đất nước

Chủ đề cuộc gặp, theo ban tổ chức, là “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Tiêu chí thì hay, nhưng không hề mới đã làm nảy sinh câu hỏi là sao vấn đề hay như vậy mà qua hằng chục năm vẫn không tiến bộ khả quan? Thiết nghĩ trong một cái nhìn dài hơi, thì sự đóng góp của kiều bào quan trọng nhất là chuyển tải thông tin và tri thức tiên tiến về nước, đặc biệt khi kiều hối cùng những quan hệ trực hệ theo thời gian mà ít dần đi.

Suy tính về phương pháp và hiệu quả chuyển giao tri thức, chắc chắn không thể bỏ qua thực tế sử dụng trí thức trong nước. Người viết muốn hình dung những rào cản với trí thức Việt kiều, thông qua việc khảo sát giới trí thức Việt Nam.

Trí thức Việt Nam - cắt một lát!

Thôi thì ta tạm gọi những người được đào tạo có trình độ đại học trở lên ở Việt Nam là trí thức, mặc dù GS Phan Đình Diệu đã từng cho rằng Việt Nam chưa có đội ngũ trí thức theo đúng nghĩa.

Tìm đọc lại lớp trí thức Tây học tiêu biểu như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguỵ Như Công Tum…có vẻ các cụ chỉ được chính quyền sử dụng như những “lá bài” chính trị hơn là tạo điều kiện để tri thức của các cụ tỏa sáng, truyền bá tới các tầng lớp nhân dân và hậu thế.

Nhắc lại như vậy để thấy, loại trí thức cây Đa, cây Gạo ở Việt Nam hầu hết là bắt nguồn đào tạo từ “lò” Liên Xô, Đông Đức, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ. Riêng Liên Xô (cũ) cho tới lúc rã đám (1990) đã đào tạo cho Việt nam 52.000 đại học, sau đại học và khoảng 100.000 công nhân kỹ thuật. Trong suốt chiều lịch sử của chiến tranh lạnh, do lằn phân chia ý thức hệ, “kênh” thông thương của trí thức Việt nam với thế giới cơ bản là các nước XHCN.

Khối XHCN Đông Âu sập đổ, giới trí thức Việt Nam mất đi chỗ dựa tinh thần và hệ thống chính trị thì mất điểm tựa về ý thức hệ. Trí thức Việt Nam đồng thời mất cơ hội đào tạo cơ bản và nâng cao trình độ, nhưng nghiêm trọng nhất là mất đi “chiếc cầu trung gian” để giúp họ mường tượng ra thế giới bên ngoài đã biến đổi sang nền kinh tế tri thức như thế nào, dù rằng trình độ của các nước Đông Âu lúc ấy còn đi sau các nước Tây Âu hàng chục năm.

Mô hình công nghiệp ở những năm cuối thập kỷ 80 tại Liên xô và Đông Âu là những công xưởng “đại tướng” nhưng lãng phí tài nguyên, năng lượng và ô nhiễm. Nền công nghiệp hóa được vẽ ra bởi đội ngũ trí thức lãnh đạo Việt nam cho tương lai 2020, có dáng dấp của “thời đại công nghiệp” này vay mượn cách tổ chức của các tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc.

Trong các quốc gia phát triển, giới trí thức thường đi đầu trong các trào lưu tư tưởng và sáng tạo, làm lực lượng tiên phong đưa cả xã hội đi lên. Có thể gọi đó là tính tiên phong và “lãng mạn” mà xã hội đòi hỏi ở đội ngũ này.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ, đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực tới trạng thái tâm lí duy lợi.

Hoàng Kim Phúc

Sức mạnh của trí thức phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, trình độ cập nhật thông tin và điều kiện tự do tư tưởng. Thiếu một trong ba yếu tố trên, giới trí thức không thể phát triển được. Cả ba điều trên đều là những thứ còn thiếu vắng trong xã hội Việt nam hiện nay.

Trong cả một thập kỷ 90 biến động và “cô lập”, giới khoa bảng Việt Nam xào xáo lại những kiến thức cũ, quay lại đào tạo lẫn nhau theo những quy chuẩn tự họ đặt ra. Đa phần những “tri thức” này giúp họ hợp thức hoá bằng cấp để giành chỗ trong hệ thống chính trị nhưng nó còn ít giá trị phục vụ xã hội vì đã lỗi thời. Lớp cán bộ này hiện nay đang nắm hầu hết các vị trí quan yếu của đất nước.

Nền tảng tri thức như vậy dĩ nhiên dẫn tới sự mất niềm tin vào khả năng tự tác nghiệp khi cọ sát với sự phát triển khoa học, công nghệ chóng mặt ở thế giới.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ được tuyên huấn ngay từ thơ ấu đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực trong các sở, vụ, viện, bộ, trung ương … tới một trạng thái tâm lí duy lợi, và giữ quyền lực bằng mọi giá. Tâm tư phổ biến của lớp cán bộ này là nhìn sự nhũng lạm quyền lực với con mắt vừa căm ghét, vừa thèm khát nhưng cũng đầy sợ sệt. Thực trạng mua quan bán tước rộng khắp từ thấp tới cao là một hệ quả nhỡn tiền.

Mọi thứ lý tưởng hoa mỹ sau “sụp đổ Đông âu” chỉ còn là màn trình diễn nhằm biện bạch cho tính chính thống hay tính tiên phong mà thực ra họ đã không còn thủ đắc nữa.

Phía bên kia

Trong những năm tháng đó, ở phía bên kia của lát cắt có một thành phần mới khác đang lớn lên. Dẫn đầu họ là những trí thức xuất sắc do may mắn nào đó “sống sót” sau những cơn “lũ quét” hồng hơn chuyên như Hoàng Tụy, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A…

Lớp trẻ hơn nằm trong nhóm người may mắn tìm được cơ hội đào tạo từ ở những nước dân chủ phát triển, bao gồm một số “con ông cháu cha”, hay những du học sinh cuối cùng ở Đông Âu XHCN tìm được cơ hội học tập và làm việc ở nước thứ ba. Số khác được đào tạo tại Việt Nam nhưng sau đó có cơ hội làm việc và trưởng thành trong các công ty, tổ chức nước ngoài, thậm chí đang làm việc trong thể chế nhưng bắt buộc phải cọ sát có hệ thống với bên ngoài do công việc đòi hỏi. Nhiều người là du học tự túc.

Sự khác biệt cơ bản của tập hợp này với những người ở phía bên kia lát cắt không hẳn là nền tảng tri thức nghề nghiệp cập nhật, tiếng Anh hoặc phương pháp tổ chức làm việc hiệu quả, vì đó chỉ là những kĩ năng nếu có đầu tư và phương cách đúng là có thể đào tạo được ở Việt Nam.

Nhiều người Việt đang được các trường lớn ở phương Tây đào tạo

Khác biệt chính là ý thức của họ về một xã hội dân chủ.

Hoàn cảnh cọ sát học tập và làm việc đã chỉ cho họ một điều rõ ràng rằng “hoàn toàn có thể xây dựng một xã hội ít tham nhũng hơn, con người có cơ hội được đào tạo và chăm sóc sức khỏe tốt hơn nếu vận hành xã hội theo những nguyên tắc kỹ trị trên nền tảng của dân chủ và thượng tôn tam quyền phân lập.

Mặc dù về số lượng họ còn rất nhỏ so với cả một bộ máy cầm quyền, chưa kể bộ máy này còn luôn được bổ sung những “kế cận” là sản phẩm của nền giáo dục lạc hậu đang tạo ra, nhưng nhóm “thiểu số” này có những điểm mạnh tuyệt đối, đó là nó phát triển đúng với xu thế của nhân loại nên được bổ sung liên tục bởi nhiều phần tử trẻ từ lát cắt bên kia, mỗi khi họ có cơ hội đào tạo ở thế giới văn minh và nhận thức lại. Hơn nữa, khát vọng của “tập hợp” này hướng tới chính là ước vọng của cả dân tộc. Khát vọng mà trào lưu cộng sản đã hứa mang đến nhưng thất bại vì chính những phi lí từ nguyên lí của nó.

Thực tế và viễn cảnh

Người Việt chưa có văn hóa phản đối tập thể nhưng việc hàng ngàn cán bộ có năng lực, sau khi được đào tạo, bỏ “khu nhà nước” để ra tư nhân thực chất là họ đã “tỏ thái độ bằng chân” thể hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa hai lát cắt này.

Viện IDS của nhiều trí thức tự giải thể để phản đối một quyết định của chính phủ

Mâu thuẫn kể trên sẽ bị trầm trọng hóa và biến thành đối kháng khi những vấn đề liên quan tới ngoại xâm và an ninh quốc gia nổi lên, vì lúc đó sự cố kết để giữ quyền lợi của các nhóm quyền lực và lợi ích trở thành vật cản để đất nước cải biến và tìm lối thoát hiểm cho cả dân tộc.

Từ thực tế trên cho thấy, ngay cả những tinh hoa trí thức hiện tại đang sống trong nước cũng không được phát huy hay sử dụng hiệu quả, thì việc kêu gọi góp sức chấn hưng đất nước từ trí thức Việt kiều, những người đang sống và làm việc trong môi trường tự do, với nhân sinh quan và thế giới quan khác biệt với không gian chính trị trong nước sẽ khó mà đồng điệu và khả thi.

Để một đất nước phát triển bền vững, giới cầm quyền cần nhận thức những quy luật có tính tất yếu để tìm kiếm những chính sách phù hợp, giải phóng năng lực sáng tạo và tránh tổn thất. Điều đó sẽ khôn ngoan hơn là làm chậm sự phát triển quy luật bằng mọi giá. Hơn nữa, chỉ khi nào những mâu thuẫn nội tại giữa quyền lực và tri thức bên trong giới trí thức tại Việt Nam được giải quyết thì khi đó mới hy vọng động viên hiệu quả trí tuệ của trí thức Việt kiều.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2009

Trí thức Việt Nam quanh Bồn Trí tuệ

Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn Giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:

“Súc tiền!” Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”

Nhan Súc trả lời:

“Vương tiền!” Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”

Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:

“Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!”

Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị.

Trí thức Việt Nam xưa nay phần đông thường ở thế yếu – thế bị động và chống đỡ – trước những thế lực chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa như những ông nghè, ông cống suốt một đời đèn sách và hành xử lý tưởng kinh bang tế thế của đời mình quanh quẩn trong những ao hồ Tứ  thư, Ngũ kinh. Khi còn đèn sách thì cố công dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan. Khi ra trường đời lại loay hoay trong giới hạn của lòng trung quân ái quốc tù đọng Nho giáo. Bởi vậy, bao nhiêu tên tuổi các bậc đại khoa ghi đầy ở Văn Miếu Hà Nội, ở đền Văn Thánh Huế hay đâu đó khắp xứ cũng chỉ còn là… hương trầm trong gió sương cổ tích mà thôi.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, quần chúng ngó lên, kẻ sĩ ngó xuống và thì thầm vào tai nhau: “Bốn nghìn năm văn hiến!” Tất cả đều cảm thấy tự hào về một quá khứ trong trí tưởng. Trong lúc đó, suối nguồn tư tưởng trong ta lại chưa đủ sâu dày để xây lên một dòng chảy riêng cho một triết lý thuần Việt. Ta có hơi nhiều ông Trạng thông minh đĩnh ngộ và ranh mãnh đầy tiểu xảo trong hiện thực và ước mơ; nhưng lại không có được một triết gia trầm tĩnh và vững chãi của một cánh rừng đại mộc tư tưởng. Ta có nhiều câu lạc bộ trí thức từ Bắc chí Nam, khắp trong nước và ngoài nước, nói chuyện hoàn cầu và hoàn vũ nổ giòn như pháo bông ngày đại khánh; nhưng lại chưa có những nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn làm chỗ dựa tham khảo đáng tin cậy cho sinh hoạt tri thức và những vấn đề quốc kế dân sinh. Thế giới ngày nay càng ngày càng có nhìều nhóm trí thức cùng lĩnh vực chuyên môn tập hợp lại để tạo nên một trí tuệ tập thể gọi là Bồn Trí tuệ (Think Tank). Giáo sư Lê Xuân Khoa gọi Think Tank là “Vựa Tư tưởng”. Vựa, là hình ảnh bình dân, diễn cảm như vựa cá, vựa thóc; nhưng Tư tưởng, có xa rời đại chúng quá chăng. Trạng Quỳnh, thằng Bờm cũng có Bồn Trí tuệ riêng trong điệu sống độc đáo giữa đời.

Đối với truyền thống văn hóa hiếu học, xếp sĩ đứng đầu sự phân chia giai cấp xã hội của dân ta thì vai trò người trí thức xưa nay vẫn là hình ảnh tiêu biểu cho chất xám, cho trí tuệ của đại chúng. Chất xám đơn thuần không tạo ra trí thức mà trí thức là người biết sử dụng hữu hiệu chất xám. Hay nói theo khái niệm nôm na của quần chúng thì trí thức là người có tri thức, có trí tuệ.  Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy.

Dầu đứng ở bất cứ phía nào, ta cũng không thể phủ nhận được rằng, đầu tư trí thức (giáo dục, nghiên cứu) là một trong những phương tiện thiện xảo nhất giúp làm cho dân giàu nước mạnh.  Đa số các nước nghèo trên thế giới hiện nay đều có sự thiếu quân bình giữa số dân và các cơ sở đầu tư giáo dục. Cụ thể là môi trường đào tạo trí thức quá thấp so với số dân cư. Nước Mỹ tuy mới lập quốc 233 năm nhưng hưởng được sự giàu mạnh như hiện nay, không phải là một sự tình cờ may rủi mà rõ ràng là do sự đầu tư xông xáo và lâu dài vào môi trường giáo dục; nhiệt tình và thành thật chiêu hiền đãi sĩ; mở rộng tấm lòng và vòng tay đón nhận chất xám toàn cầu không phân biệt biên cương màu sắc. Hiện nay, với số dân 305 triệu người, Mỹ có tới khoảng 4500 trường đại học và trên dưới 100 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn – Think Tank – phần lớn có thế lực toàn cầu. Riêng một tiểu bang California giàu nhất nước Mỹ, với dân số 36 triệu người thì cũng đã có tới 399 trường đại học. New York, với dân số 20 triệu, có 307 trường đại học. Trong lúc đó, Việt Nam ta có một dân số tới 85 triệu người nhưng mới có khoảng trên dưới 50 trường đại học to nhỏ và chỉ 001 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn đầu tiên có tên là Viện Nghiên cứu Phát triển – Think Tank IDS – vừa mới tự động giải tán sau Quyết định 97 đã ban hành của chính phủ Việt Nam.

Giới quan sát khách quan và nghiêm chỉnh trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra ngạc nhiên không ít về những tình huống hầu như nghịch lý về phía chính phủ cũng như về phía nhóm chuyên viên IDS. Nếu nói một cách hồn nhiên đầy tính hoạt kê của người bình dân không xu phụ quyền thế mà cũng chẳng đeo mang trí thức thì chính quyền Việt Nam “chưa tậu được bò đã lo rình mò kẻ trộm”; trí thức IDS thì “muốn vào rừng mà nửa chừng bó tay” (?!)

Sau hơn 30 năm trải qua nhiều chặng đường có lúc phong quang, có lúc gập ghềnh với nhiều mày mò, trăn trở Việt Nam đã lọt qua nhiều cửa ải không kém phần gian khó, truân chuyên để bước vào cộng đồng thế giới. Ngày nay, Việt Nam đã có mặt với thế thành viên bình đẳng trong hầu hết các tổ chức then chốt toàn cầu và phân vùng như Liên Hiệp Quốc, WTO, Ngân hàng Thế giới, Thế vận Hội, ASEAN… Nhu cầu hiển nhiên trước một vị thế mới trong quan hệ đa dạng như thế là sự hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt và chuyên môn.

Người Việt trong cũng như ngoài nước vốn cần cù, thông minh; đầy đủ khả năng chất xám, tinh thần tự tin và lòng tự trọng để tiến bước song hành với mọi thành viên đối tác trong cộng đồng thế giới ngày nay. Xã hội càng tiến nhanh, nhu cầu học hỏi và tham khảo càng bức thiết. Giới lãnh đạo trong các nước giàu mạnh trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã công khai tham khảo và dựa vào những dữ kiện được tìm tòi, phân tích và chắt lọc từ các nhóm Tham vấn Chuyên môn (Bồn Trí tuệ – Think Tank). Mỗi Bồn Trí tuệ trong từng khung cảnh chuyên môn như thế là một tập đại thành của nhiều đầu óc xuất sắc. Nhà nước, tập đoàn, công ty của Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước công nghiệp phát triển nói chung đều phải trả những món tiền rất lớn mỗi khi cần tham khảo ý kiến chuyên môn cho những vấn đề đối ngoại cũng như đối nội cần thiết. Có khi nhà nước phải trực tiếp tài trợ cho các Think Tank. Hàng trăm Think Tank của Mỹ đã đóng góp trực tiếp hay gián tiếp vào sự giàu mạnh của xứ nầy. Ngay ở Ấn Độ, một quốc gia mà giới lãnh đạo luôn có mặc cảm tự tôn là thuộc giai cấp minh triết, nhưng Bồn chứa Trí tuệ IDSA (Institute of Defense Studies and Analysis) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cho chính sách đối ngoại và quốc phòng của xứ nầy. Gần xứ ta nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, những Think Tank đã đóng một vai trò tích cực để giữ cho Trung Hoa lục địa và các vùng thuộc địa tự trị công khai hay âm thầm tìm hiểu và đối thoại với nhau, giữ được sự độc lập và phồn vinh có lợi cho tất cả mọi phía như ngày nay.

Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến, sao lại chỉ mới có một Bồn Trí tuệ chưa đầy đã vỡ? Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí tuệ nầy chăng?

Câu trả lời cố nhiên là không phải thế. Vậy thì tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại ra Quyết định 97 với danh nghĩa là minh thị và bổ sung quy chế thành lập hội đoàn trí thức, quy định nội dung nghiên cứu, khống chế tinh thần phản biện?

Trước nhu cầu tạo sức mạnh tổng hợp để đánh giặc và quản lý xã hội trong thời chiến, khái niệm “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ” các sản phẩm tinh thần và vật chất tập thể tuy hơi ngồ ngộ trong cảm nhận, nghịch lý trong tư duy và chẳng có chi trong thực tế nhưng có thể hiểu được. Thế nhưng, đất nước đã hết chiến tranh gần 35 năm và đang chen vai thích cánh bước vào thị trường thế giới đầy gai góc và thử thách thì rõ ràng một quyết định quản lý tự do nghiên cứu, giới hạn lĩnh vực, môi trường; kiểm soát tham luận và phản biện của giới trí thức dân tộc như thế là một “tuyệt đại tối siêu sản phẩm của thế kỷ” – nói theo kiểu tưng tửng của một nhân vật trong Harry Porter khi đụng đến những chuyện kỳ lạ khó hiểu. Không hiểu thì làm sao yêu mến được; không yêu mến được thì làm sao nhận lãnh; không nhận lãnh thì làm sao cống hiến, dấn thân?

Nếu Quyết định 97 của Thủ tướng Việt Nam mang đầy đủ những điều nghịch lý khó hiểu như thế đối với trí thức IDS thì quyết định tự giải thể để khỏi đương đầu với những vấn nạn không có cơ hội lý giải hay viễn ảnh xung đột, mâu thuẫn không có khả năng hóa giải là một sự lương thiện trí thức của những người chủ xướng đang đứng quanh Bồn Trí tuệ.

Một khi tự do phát kiến của trí thức bị trói buộc và giới hạn thì học thuật chỉ còn là một quá trình thụ động học thuộc lòng, bắt chước, vuốt đuôi như cái học nhà Nho đã làm đất nước chững lại giữa suy đồi. Chỉ tiêu đào tạo hàng vạn tiến sĩ trong những năm tớì của Việt Nam ta sẽ về đâu?  Luận án tiến sĩ không thể là những tập hợp của các tập bài học, bài thi Tam Trường ngày xưa nữa. Luận án tiến sĩ (doctoral dissertation) ngày nay phải là những phát kiến, phát minh mới mẽ, sinh động trong môi trường học thuật. Muốn sáng tạo và phát huy tác dụng chất xám của giới trí thức thì điều kiện tiên khởi là phải có tự do tri thức. Mặc cảm lo sợ phạm trường quy và “trọng húy” ngày xưa đã đào tạo một lớp kẻ sĩ thụ động, tầm chương trích cú. Sự lãnh đạo sáng suốt của bất cứ thời nào và nơi đâu đều có sự nhất quán rằng, muốn cho dân giàu nước mạnh thì cần phải biết đầu tư trí thức. Những vị minh quân trong những triều đại cực thịnh đều có những vị gián quan can đảm và những quốc sư sáng suốt bên cạnh. Kẻ sĩ nịnh thần ngày xưa và trí thức diễn văn phòng hội làm vui lòng lãnh đạo ngày nay đã tự liệt mình vào hàng sĩ phiệt. Học phiệt đào tạo sĩ phiệt là cặp phạm trù nhân quả chỉ làm cho chế độ chính trị và đất nước suy vong như lịch sử nhân loại đã chứng minh.

Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) tưởng như đã lãng quên đang bừng sống lại trong những năm gần đây với dân Việt ở quê nhà cũng như ở hải ngoại. Đó là ngày giỗ của Khuất Nguyên, một trí thức thi nhân đã trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn cách đây hơn 2300 năm.  Khuất Nguyên tuyệt vọng vì bị vua Sở Hoài Vương một thời trọng dụng và về sau bạc đãi vì vua nghe nịnh thần tâu dối. Nghe chuyện, có lão ngư ông ngồi trên bến sông, vuốt râu, gõ bồn (trí tuệ?) mà hát:

Thương Lương chi thủy thanh hề khả dĩ trạc ngã anh.

Thương Lương chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngã túc.

Xin tạm phóng dịch:

Thương Lương dòng nước trong xanh,

Thì ta ngả nón rửa quanh mái đầu.

Thương Lương dòng nước đục ngầu,

Thì ta vẫn rửa, mặc dầu rửa chân.

Nước trong ta rửa mặt, nước đục ta rửa chân, cớ sao lại phải hủy diệt chính mình?

Với người trí thức, rửa là cống hiến chất xám và dấn thân hòa điệu sống phục vụ cho đời. Lời lão ngư ông trên bến sông ngày xưa ấy đã nói gì với sự lựa chọn thái độ của người trí thức hôm nay?

PSY-EASTWEST FOUNDATION

Sacramento, ngày lụt bão đầu mùa Thu 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

IDS ngậm ngùi

Ảnh: DS chụp ảnh lần họp cuối cùng.

Xem ảnh các thành viên IDS, Blog HM nhận ra một người quen, rất kính trọng. Những năm 1977-1993, người viết bài từng là quân của Giáo sư Phan Đình Diệu (đứng thứ 2 từ trái), vị đầu ngành của Tin học Việt nam, từng là viện trưởng Viện Tin học, viện phó Viện KH Việt nam, một chí sỹ nhưng không phải đảng viên. HM đã chứng kiến vài lần từ chức của ông. Lần ở IDS này là lần thứ 3, dù ông không tuyên bố. Mỗi lần là một khoảng lặng của số phận.

Lần thứ nhất

Lần đầu vào năm 1985, do cơ chế Đảng lãnh đạo, Viện trưởng chấp hành, việc đưa ra những chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Giáo sư với tầm nhìn xa trông rộng bị chặn lại. Chi bộ và đảng ủy có thể quyết định về tư tưởng nhưng không thể biểu quyết về tầm nhìn tương lai Tin học Việt nam. Thấy không thể “vùng vẫy” trong một hệ thống như thế nên Giáo sư đã từ chức, dù rất nhiều các vị lãnh đạo cao cấp đã yêu cầu ông tại vị. Tuy thế, ông vẫn là Viện phó VKHVN.

Vị viện trưởng kế vị, tuy không là bí thư chi bộ như trước, nhưng lại có cơ chế mới “một thủ trưởng”, chi bộ chỉ để…tham khảo. Ông tha hồ áp dụng tư duy lãnh đạo mới.

Lần thứ 2

Tới năm 1993, có chuyện bầu bán lại ở Viện Tin học (được đổi tên là Viện CNTT). Đề cương thành lập viện cũng do Giáo sư Diệu và vài đồng nghiệp chấp bút. Vì tâm huyết với ngành CNTT non trẻ và mong đất nước thoát nghèo bằng tin học, Giáo sư Diệu quay về tham gia ứng cử Viện trưởng. Ông hiểu, ở vị trí nhất định mới mong thay đổi được diện mạo một ngành.

Tổ chức phiếu thăm dò sau bao nhiêu “bàn tán hành lang” (sau này có dịp tôi sẽ kể vào lúc cần thiết), ông vẫn được 58 phiếu, người về thứ 2, kém chục phiếu gì đó. Không hiểu vì lý do gì mà Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện KHVN) lại quyết định người về “nhì” được làm Viện trưởng Viện CNTT.

Nhớ lúc đó, Giáo sư Diệu phát biểu đại loại rằng, đây là một quyết định phi dân chủ, và người ra quyết định đã lật lọng, phá hoại khoa học. Ông tuyên bố từ chức luôn cả Viện Phó VKHVN và về vườn từ lúc hơn 50 tuổi.

Đương nhiên, tôi không hiểu hết thế sự bên trong. Phía sau quyết định của Viện sỹ Hiệu là gì, không ai biết được. Có thể Viện sỹ đã hứa gì đó nhưng sau đó “lật lọng”, hoặc người khác có lý “gấp đôi”.

Dù là con kiến nhưng tôi đã không ngần ngại nói “Lớp cán bộ khoa học trẻ vào Viện với tình yêu khoa học và tin vào các bậc đàn anh. Nhưng hôm nay, chứng kiến sự mất dân chủ và quyết định bất ngờ, tôi hiểu rằng, lòng tin của trí thức đã bị đặt nhầm chỗ”.

Di sản khoa học…

Nếu ai làm việc ở đâu đó thời gian dài, thường được hỏi về legacy (di sản) của người đó. Giáo sư Phan Đình Diệu cùng với đồng sự đã để lại nền vi tính non trẻ cho Việt nam (kể cả châu Á khi đó!) và thương hiệu Viện Tin học trước năm 1985.

Hôm nay, có dịp qua Viện CNTT (Viện TH cũ) bạn sẽ thấy Viện này đã an bài như định mệnh của chính Viện KH Việt nam (nay đổi là Viện KH Công nghệ Quốc gia). Xuống dốc Bưởi nhìn thấy toà nhà bậc thang pyramid, mốc meo với những điều hoà đủ kiểu và kiến trúc pha trộn Đông Tây trong Viện KHVN, như mối tình Chí Phèo-Thị Nở, khi tàn bạo trong vườn chuối, lúc lãng mạn dưới ánh trăng bên sông.

Sau 30-40 năm hoạt động, “nhà trẻ trung ương” VKHVN với 5-6 nghìn cán bộ khoa học đã làm gì cho đất nước? Danh tiếng Viện CNTT đang ở đâu trên đất nước này. Có ai còn nghe tới họ, hay chỉ là những gì làm 25 năm trước mới đáng kể. Mà số tiền tiêu vào đó là bao nhiêu tỷ của dân nghèo.

Mới đây, Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu được tặng Huân chương Nhà nước do cống hiến cho khoa học. GS Phan Đình Diệu lại “từ chức”…tiếp dù ông đã về hưu.

Và lần thứ 3 ở…IDS

Lần từ chức thứ nhất chỉ liên quan đến một viện và sự đi xuống của nó sau đó. Lần thứ hai tương đương với một bộ. Hình ảnh Viện “Hàn lâm” trên Nghĩa Đô hôm nay đủ nói lên những trí thức không được dùng đúng mục đích bị ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của nền khoa học.

Lần thứ 3 này phải chờ xem sau vụ tự giải thể của IDS. Ảnh hưởng của sự kiện là tầm quốc gia nếu không nói là quốc tế. Những người như bà Phạm Chi Lan, Giáo sư Hoàng Tụy, TS Lê Đăng Doanh, TS Nguyễn Quang A và các vị khác, … cả thế giới biết tên tuổi.

Sự giải nghệ của họ và Quyết định 97 giúp tinh hoa dân tộc “yên lòng” hơn với tuổi hưu nhàn hạ. Họ khá đầy đủ về vật chất, nếu chỉ muốn yên ổn thì vào IDS làm gì. Vì nặng lòng với đất nước và dân nghèo, hy vọng IDS là nơi giúp chuyển tải những phản biện hay cố vấn của một tập thể trí thức tinh túy nhất nước tới Đảng và Nhà nước. Ai nghi ngờ lòng yêu nước của họ hãy xem lại bản thân.

Không hiểu sao lại nghĩ vẩn vơ. Dù ở xa Tổ quốc, tôi luôn dự cảm rằng, đất nước rồi sẽ tiến lên, đi đâu sẽ ngẩng cao đầu, rằng, ta đến từ nơi dân giầu nước mạnh. Mong thì vẫn hằng mong.

Lời kết

Nhớ về câu chuyện của đất nước mình, từng là hình mẫu cho đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người đã nhìn vào để noi gương. Tuy nhiên, ánh hào quang quá khứ không giúp được nhiều cho hội nhập hôm nay.

Nơi tôi công tác trước đây cũng không nằm ngoài qui luật đó. Lật vài trang sử của Viện cũng đủ hiểu số phận một đất nước, một dân tộc hay một đời người.

Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới, ai sẽ là bạn khi ta gặp khó khăn, chìa tay giúp đỡ, kẻ nào đợi thời cơ để hãm hại. Có nhiều trí thức giỏi, có tâm và tầm, sẽ giúp tìm ra được lời giải.

Nhớ khi HCM sang Pháp thời kháng chiến, lúc quay về đã mang theo Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa và bao thanh niên hiểu biết. Chính giới tinh hoa đó đã đưa Việt Nam sang một vị thế khác.

Ngày nay, nhiều trí thức rất giỏi nằm ngay ở trong nước. Để họ “từ chức” nghĩa là mất “nội lực”, và vì thế khó mong “ngoại lực” quay về, dù có trải thảm đỏ.

IDS đã ra đi, không còn nghe được tiếng tơ lòng của họ. Người ta bảo, tiếng quát của kẻ thất phu không đáng sợ, đáng sợ hơn là sự im lặng của những nhà hiền triết.

Hiệu Minh Blog

[1] Các tài liệu gửi kèm: