Hiển thị các bài đăng có nhãn báquyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báquyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

Không nên coi nhẹ phái diều hâu tại Trung Quốc

Đức Tâm

Trong những ngày vừa qua, Trung Quốc đã có phản ứng gay gắt trước lời kêu gọi của Hiệp hội Đông Nam Á – ASEAN - và Hoa Kỳ cần phải tôn trọng quyền tự do thông thương đường biển và trên không tại vùng Biển Đông. Bắc Kinh phản đối quốc tế hóa và chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông trong khuôn khổ song phương.

Giới phân tích cho rằng chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc tại Biển Đông đã thúc đẩy ASEAN phải có lập truờng chung và hợp tác với Mỹ để đối phó. Cũng chính những ý đồ của Trung Quốc muốn kiểm soát, khống chế Biển Đông, hạn chế các hoạt động quân sự của Mỹ ở vùng biển quốc tế đã buộc Hoa Kỳ phải quan tâm trở lại khu vực này.

Đằng sau những tuyên bố mạnh mẽ như vậy, Bắc Kinh có thể phản ứng tới mức độ nào ? Theo ông Dương Danh Dy, chuyên gia về Trung Quốc, thì không nên coi nhẹ phái hiếu chiến tại Trung Quốc. Khi nói đến vai trò quan trọng của Hoa Kỳ trong hồ sơ Biển Đông, ông nêu ra hai suy nghĩ : thứ nhất là một số nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, tỏ ra thận trọng về thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc. Vấn đề thứ hai là dường như người Mỹ chưa thực sự hiểu được giới lãnh đạo Trung Quốc.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn chuyên gia Dương Danh Dy.

RFI : Xin chào chuyên gia Dương Danh Dy, tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 43 cũng như trên Diễn đàn an ninh khu vực ARF vừa được tổ chức trong tuần trước tại Hà Nội, các nước Đông Nam Á và Hoa Kỳ đều khẳng định quyền tự do thông thương trên biển và trên không tại vùng Biển Đông. Thậm chí, ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton còn nhấn mạnh là việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông có vai trò then chốt trong việc bảo đảm ổn định trong khu vực. Phải chăng lần này, do thái độ hung hăng của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông đã buộc cả ASEAN và Mỹ phải lên tiếng và bày tỏ thái độ ?

Chuyên gia Dương Danh Dy : Tôi nghĩ, câu hỏi đã nói rõ phần nào rồi. Nhưng tôi xin nói thêm. Thái độ của Trung Quốc đối với Biển Đông bắt đầu chuyển biến từ tháng hai, tháng ba năm 2009 đã có những biến chuyển xấu, như chuyện họ thành lập đoàn tàu ngư chính đi tuần tra hải đảo, xua đuổi ngư dân các nước, đâm vỡ tàu các nước.

Nhưng bắt đầu từ tháng ba năm 2010, có một số sự kiện mà tôi nhắc lại đây để các độc giả, thính giả của RFI và các bạn khác ở trên thế giới biết rằng ngày mồng một tháng ba năm 2010, luật bảo vệ hải đảo nước CHND Trung Hoa chính thức được thực thi. Phân cục Biển Đông cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc, cục Hải dương và nghề cá tỉnh Quảng Đông đã quy hoạch bảo vệ tỉnh Quảng Đông đã hoàn thành bản thảo đầu tiên và báo cáo lên trên, trong đó có việc công khai đấu thầu quyền sử dụng một hai hòn đảo không có người ở thuộc tỉnh này. Tôi đã cảnh báo tin này. Nhưng hình như dư luận thế giới không chú ý tin này lắm. Và gần đây tỉnh Hải Nam cũng đề xuất vấn đề trên, Quảng Đông không liên quan đến Biển Đông nhưng Hải Nam thì động chạm trực tiếp tới các nước có liên quan rồi.

Cũng trong tháng ba, Trung Quốc đã ngầm nói với James Steinberg (thứ trưởng Ngọai giao Mỹ) rằng Trung Quốc đặt Biển Đông là khu vực lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Lúc đó, họ chỉ nói ngầm thôi. Nhưng đến ngày 13/07/2010, Tần Cương, người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc mới đưa ra định nghĩa rõ ràng : Chủ quyền, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích phát triển quốc gia đều thuộc lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Trước đây, Trung Quốc chỉ quy định Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương là lợi ích cốt lõi của họ. Và bây giờ Biển Đông đã được nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố cũng thuộc phạm vi trên.

Đây là lần đầu tiên, Biển Đông được Bắc Kinh chính thức coi là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Cần phải thấy, từ ngữ « cốt lõi » ẩn chứa hàm nghĩa khi lợi ích này bị xâm phạm thì Trung Quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ. Rõ ràng là Trung Quốc đã và đang có sự chuẩn bị ráo riết về các mặt cho công việc này.

Cho nên trước thái độ hung hăng, ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc như vậy ở Biển Đông, tất nhiên, các nước ASEAN và cả người Mỹ nữa phải có một sự nhìn nhận lại và thấy rằng không thể không tìm cách, không có biện pháp để đối phó với ý đồ bành trướng, bá quyền đó.

RFI : Cách nay vài ngày, Trung Quốc đã có phản ứng về những đề nghị của ASEAN và của Mỹ cần phải tiến hành đàm phán và giải quyết hòa bình và cần phải tôn trọng quyền tự do thông thương đường biển, trên không ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc phản đối việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Anh nhận định thế nào về phản ứng của Trung Quốc, liệu Trung Quốc dám dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi của mình hay không ?

Chuyên gia Dương Danh Dy : Tôi xin nói thẳng rằng người Trung Quốc đã sẵn sàng. Trong một bài viết cách đây cũng khá lâu, tôi đã cung cấp thông tin là 92% dân mạng Trung Quốc đồng ý dùng vũ lực để giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông. Lúc đó, dân mạng có khoảng 380 triệu. Hiện nay là 420 triệu. 90% của 400 triệu tức là có khoảng 360 triệu dân mạng Trung Quốc sẵn sàng. Dân mạng Trung Quốc, theo tôi, phần đông là những người trẻ, có tri thức, có hiểu biết mà họ còn quan niệm như vậy.

Gần đây, ông Lương Quang Liệt, bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, trong một buổi phát biểu nội bộ, đã nói rằng chúng ta phải sẵn sàng cả hai tay. Cả hòa bình, cả chiến tranh và tay nào cũng phải cứng. Cho nên, chuyện Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông không phải là chuyện có thể mà khả năng chắc chắn có thể xẩy ra nếu như tham vọng bành trướng và bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông không bị ngăn chặn.

Quay lại Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông mà ASEAN ký với CHND Trung Hoa năm 2002, tôi phải nói thẳng là những người lãnh đạo ASEAN lúc đó đã có cái nhìn khá xa về âm mưu của Trung Quốc ở Biển Đông. Cho nên, trong điều 5 có viết là các bên cam kết tự kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp và gia tăng tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, v.v. kể cả không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống trên các đảo, bãi đá ngầm, bãi cát ngầm, dải đá ngầm và những cấu trúc khác hiện chưa có người sinh sống.

Như vậy, ngay từ năm 2002, người ta đã dự tính đến chuyện này và đến năm 2010, cái điều mà Tuyên bố ứng xử đã đề phòng, e ngại, thì bây giờ xẩy ra. Trung Quốc công khai tuyên bố là họ sẽ bán đấu thầu quyền sử dụng những đảo không có người ở tại Biển Đông.

RFI : Đứng trước phản ứng dữ dội và quyết liệt của Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông, theo anh nhận định thì Mỹ sẽ có thái độ ra sao ?

Chuyên gia Dương Danh Dy : Vừa rồi, người ta cứ nói là ASEAN đoàn kết, rồi Mỹ trở lại. Nói rất nhiều về chuyện này. Theo tôi, đúng là nội bộ ASEAN là một khối đoàn kết thống nhất và càng ngày càng đoàn kết thống nhất hơn. Nhưng một trong những nguyên nhân đẩy mạnh sự đoàn kết và thông cảm trong nội bộ khối ASEAN chính là do tác nhân Trung Quốc. Việc Mỹ quay trở lại Biển Đông, tuyên bố mạnh mẽ hơn về Biển Đông là chính do người Trung Quốc gây ra, chứ không phải do ai cả.

Ngày 07/07 vừa rồi, tôi dự hội thảo Việt-Mỹ nhân dịp 15 năm hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao, ông Đại sứ của Mỹ tại Việt Nam tuyên bố thái độ rất là mập mờ, nước đôi về Biển Đông. So với những tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ bà Hillary Clinton trong cuộc họp với các ngoại trưởng ASEAN thì khác hẳn. Rõ ràng là Mỹ đã tiến một bước rất dài trong vấn đề này.

Theo tôi, ngoài những nguyên nhân lợi ích của Mỹ sẽ bị động chạm nếu Trung Quốc tiến hành những việc mà họ đã tuyên bố ở Biển Đông, thì mọi việc do chính Trung Quốc gây ra. Nếu Trung Quốc không có tuyên bố, không có hành động như vậy, tôi nói thẳng, chưa chắc là Mỹ có sự quay trở lại và đã có những tuyên bố mạnh mẽ như vậy.

RFI : Xem xét sự ràng buộc về quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc, nhìn về quá khứ, anh có nghĩ rằng một số nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, vẫn có thể có hoài nghi về thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc ?

Chuyên gia Dương Danh Dy : Là người có quá trình theo dõi quan hệ Trung-Mỹ từ những năm 50 và đặc biệt là từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ đến nay, tôi thấy quan hệ Trung-Mỹ có nhiều vấn đề phải nghiên cứu. Nhìn vào quan hệ Trung-Mỹ, đối với người Việt Nam cũng như với một số nước khác trong ASEAN, như Philippines chẳng hạn, thì đúng là còn những nghi hoặc, còn chưa tin người Mỹ.

Tôi xin nói thật, người Mỹ tính toán rất sòng phẳng, rất tàn nhẫn. Khi thấy không có lợi là lập tức họ cắt cầu, không còn tình, còn nghĩa gì cả.

Mặc dù không muốn khơi lại chuyện cũ, tôi vẫn xin đưa ra thí dụ. Khi thấy tình hình Nam Việt Nam không xong, sẽ thất bại, thì người Mỹ sẵn sàng từ bỏ mọi cam kết.

Tháng giêng năm 1974, họ bật đèn xanh cho người Trung Quốc xâm chiếm, lấy nốt nửa Hoàng Sa của Việt Nam, từ tay chính quyền Sài Gòn, cũng là do Mỹ bực tức, hậm hực trước thất bại ở Việt Nam.

Tháng giêng năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình sang thăm Mỹ, gặp tổng thống Carter đã nói rõ là sẽ đánh Việt Nam. Tổng thống Mỹ lúc đó không dám phản đối, không dám can thiệp, thậm chí còn giữ im ý đồ đó, không cho thế giới biết. Những việc này làm cho người Việt Nam không tin.

Đối với Philippines, hiện nay, Mỹ vẫn coi là đồng minh. Mọi người đều biết trước đây, căn cứ quân sự của Mỹ đóng tại Philippines, v.v.

Cho nên, tôi cho rằng nếu Trung Quốc cho Mỹ một lợi ích gì đó, lớn hơn Biển Đông thì chắc chắn là người Mỹ không từ chối và lúc đó, người ta cũng sẽ bỏ Biển Đông. Chỉ có điều là hiện nay, Biển Đông có lợi ích quá lớn mà Trung Quốc, theo tôi tính, thì không thể có gì tương xứng để cho Mỹ cả.

Mặt khác, nói cho công bằng, khi người Mỹ đã thấy ra vấn đề thì họ làm, họ sửa.

RFI : Đặt giả thuyết Mỹ có thái độ kiên quyết trong việc bảo vệ quyền tự do thông thương ở vùng Biển Đông và Mỹ muốn đối phó với Trung Quốc. Vậy theo anh, Mỹ có thể làm được hay không. Sở dĩ tôi nêu vấn đề này, bởi vì trong một bài phân tích gần đây, anh có nhấn mạnh đến một việc : Mỹ không hiểu Trung Quốc. Là một chuyên gia nghiên cứu từ nhiều năm nay về Trung Quốc, xin anh giải thích rõ hơn điểm này ?

Chuyên gia Dương Danh Dy : Tôi phải nói thêm một điều trước khi trả lời câu hỏi này. Tại Hội nghị ở Hà Nội, ngoại trưởng Dương Khiết Trì không trả lời gay gắt lắm đâu. Báo chí chính thức, mạng chính thức của Trung Quốc cũng không phản đối gay gắt lắm đâu. Nhưng mấy hôm gần đây, tôi vào mạng và thấy, từ ông Dương Khiết Trì cho đến tất cả các báo chính thức, Hoàn Cầu thời báo, báo Nhân Dân, các báo mạng quân sự của Trung Quốc, đều phê phán Mỹ trở lại Biển Đông, phê phán Việt Nam lợi dụng danh nghĩa chủ tịch ASEAN để lôi kéo Mỹ trở lại Đông Nam Á v.v.

Biển Đông là lợi ích sống còn của Mỹ, rất thiết thân cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Biển Đông mà phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc hay Biển Đông có chiến tranh, có nổi sóng, thì Mỹ không yên. Cho nên, chúng tôi tin vào sự trở lại của nước Mỹ. Nhưng, ngoài lợi ích mà Trung Quốc có thể cho Mỹ, lớn hơn cả Biển Đông, thì tôi còn ngại một điểm nữa. Tức là người Mỹ, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách của Mỹ nghiên cứu về Trung Quốc chưa sâu và chưa thấy hết, xin lỗi là tôi phải dùng cái chữ âm mưu, thủ đoạn, những sách lược trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc.

Tôi muốn đưa một ví dụ về kinh tế. Khi người Mỹ thấy rằng giá của đồng nhân dân tệ không đúng với thực tế, cho nên Trung Quốc rất có lợi, thì mỗi lần bị ép, Trung Quốc chỉ nhích lên, tăng lên một tí. Thế là làm cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ hả hê : À hóa ra Trung Quốc cũng nhượng bộ mình đây. Nhưng thực ra, giá trị vừa rồi họ nâng giá là 0,43%, trong khi đó, ông Obama nói là đồng Nhân dân tệ phải nâng lên 20% thì mới đúng giá trị thực của nó. Hay là khi thặng dư mậu dịch của Trung Quốc đối với Mỹ quá cao. Mỹ phàn nàn, thì lập tức họ đặt một đơn hàng một vài tỷ đô la về máy bay Boeing thế là Mỹ hài lòng, cho rằng Trung Quốc nhượng bộ. Nhưng thực ra, Trung Quốc vẫn giữ phần lợi về họ.

Còn trong việc đánh giá Trung Quốc, trong bài góp ý với ông (Joseph) Nye, tôi xin mạn phép nói lại. Ông Nye có nói rằng muốn hạn chế Trung Quốc thì phải làm cho Trung Quốc thấy cái giá mà họ phải trả là đắt. Nhưng tôi đã nói lại rằng với người Mỹ, với chúng ta, ai cũng nghĩ sinh mạng là cái giá đắt nhất. Người Mỹ khi hy sinh đến 50 000 ở Việt Nam là thấy ớn rồi. Hơn 10 000 ở Afghanistan là thấy ớn rồi. Nhưng người Trung Quốc thì từ ông Mao Trạch Đông, cho đến ông Đặng Tiểu Bình và cho đến ông Trì Hạo Điền bây giờ, người ta sẵn sàng hy sinh một nửa dân Trung Quốc. Người ta không sợ. Một nửa dân Trung Quốc thời Mao Trạch Đông là 300 triệu người. Thời ông Đặng Tiểu Bình là 500 triệu người. Thời ông Trì Hạo Điền hiện nay là 700 triệu người. Cho nên người Mỹ đánh giá Trung Quốc không đúng.

Có mấy vị giáo sư rất nổi tiếng mà tôi không tiện nêu tên, hy vọng rằng với những số sinh viên đi học ở Mỹ, ở Tây Âu về thì sẽ cải thiện được tình hình dân chủ ở Trung Quốc. Tôi đã chỉ ra rằng, 30 năm mở cửa của Trung Quốc, thì những người tốt nghiệp đầu tiên đã có 25 năm, tức là một phần tư thế kỷ công tác ở Trung Quốc. Liệu đã có ai vào được Bộ Chính trị (Đảng cộng sản Trung Quốc) trong số những người này chưa ? Liệu có ai vào Trung ương chưa ? Liệu có ai làm được bộ trưởng chưa ? Có thay đổi được không khí dân chủ ở Trung Quốc hay không ?

Tôi xin nói thật. Dân Trung Quốc rất tốt, rất anh hùng, rất vĩ đại. Nhiều người đối xử rất khảng khái, vô tư, anh hùng, trượng nghĩa. Tôi ở Trung Quốc nhiều năm, tôi biết. Nhưng tôi có cảm giác, đã là người lãnh đạo của Trung Quốc thì có thể nói là 99,9% trong số họ luôn luôn đại diện cho lợi ích nước lớn. Bây giờ đương là lúc Trung Quốc dấu mình chờ thời. Họ rút kinh nghiệm cái thời Mỹ và Liên Xô đấu tranh với nhau về hệ tư tưởng, chính trị thì thành phe thành khối, quân sự thì thành Vacxava, thành NATO, v.v. Cứ đối nhau chan chát. Cuối cùng, Liên Xô thua Mỹ. Cho nên bây giờ, họ không dại gì đối đầu trực diện với Mỹ. Những cái nào họ thấy chưa đủ lực, chưa đủ sức, chưa hợp thời cơ để đấu Mỹ thì họ vui lòng khuất phục, họ cam chịu.

Nhưng tôi tin rằng cái thời kỳ đó không còn dài nữa. Bởi vì ngay trong nội bộ người Trung Quốc, chúng ta đã thấy những khuynh hướng hiếu chiến rất rõ. Cuốn « Người Trung Quốc có thể nói không », xuất bản cuối thế kỷ trước, và gần đây nhất là cuốn « Người Trung Quốc không vui » cũng đều cho thấy tư tưởng bá quyền.

Tôi xin nói thêm, bài của thượng tướng Trì Hạo Điền, nguyên bộ trưởng bộ Quốc phòng Trung Quốc viết gần đây mà tôi đã giới thiệu, tôi đã dịch ra tiếng Việt, để cho thấy rằng phái diều hâu, phái chủ chiến ở Trung Quốc rất mạnh. Cho nên tôi thực lòng mà nói với các bạn Mỹ là đừng ảo tưởng đối với một số người lãnh đạo Trung Quốc.

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100729-khong-nen-coi-nhe-phai-dieu-hau-tai-trung-quoc

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Khi Trung Quốc "nói vậy mà không làm vậy"

>> Nhà báo và trách nhiệm giữ chủ quyền

>> Biển Đông và kiểu "một mình một lối" của Trung Quốc

Dựng hình tượng

Nhiều năm qua, sự trỗi dậy Trung Quốc đi liền với mối lo ngại về mối đe dọa Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế. Cho rằng thế giới đang hiểu nhầm mình, Trung Quốc bằng nhiều cách thức, khi lặng lẽ, lúc ồn ào, cố gắng làm an lòng phần còn lại của thế giới về một chiến lược phát triển hòa bình của nước này.

Tranh thủ mọi cơ hội, mọi diễn dàn, khu vực và quốc tế, người Trung Quốc đang tỏ ra muốn "minh bạch hóa" chiến lược phát triển, nhất là các chính sách an ninh gắn với sự đầu tư ngày càng lớn cho quân sự.

Những cụm từ "phát triển hài hòa", "phát triển chung", "an ninh chung", "hợp tác", "đối tác bình đẳng", "tin cậy lẫn nhau", "đối tác có trách nhiệm"... thường xuyên xuất hiện trên cửa miệng của giới lãnh đạo Trung Quốc.

"50 năm sau này, lãnh thổ Trung Quốc sẽ vẫn là 9.600.000 cây số vuông... Nếu như chúng ta xâm chiếm dù chỉ một phân đất đai của nước khác, chúng ta sẽ biến mình thành kẻ xâm lược" - Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói 50 năm trước.

Khẩu hiệu hòa bình và chống bá quyền được giới chức Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội phô diễn.

Khi Biển Đông nóng lên, những phát ngôn mang tính trấn an như thế của lãnh đạo Trung Quốc càng xuất hiện với tần suất dày đặc, nhất là tại các diễn đàn khu vực, nơi các nước láng giềng chia sẻ mối lo về an ninh khu vực.

Chỉ trong vòng một tháng, nhân vật thứ 3 của giới quốc phòng Trung Quốc, Trung tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội đã hai lần trấn an đại diện các quốc gia Đông Nam Á và nước lớn, rằng "quân đội Trung Quốc không đe dọa an ninh nước nào".

"Sự phát triển năng lực của quân đội quốc gia Trung Quốc không nhằm thách thức, đe dọa hay xâm lược quốc gia nào mà trước hết và trên hết là để đảm bảo an ninh của Trung Quốc".

"Chỉ phát triển chung mới đảm bảo phát triển bền vững cho tất cả. Chỉ có an ninh chung mới có thể đảm bảo an ninh bền vững thực sự", ông Mã Hiểu Thiên nói. "Duy trì an ninh trong khu vực là lợi ích và bổn phận của Trung Quốc"... "Trung Quốc không bao giờ nhắm tới bá quyền, ngay cả khi mạnh hơn".

Cho rằng việc tìm kiếm an ninh qua đối đầu và chạy đua vũ trang đã lỗi thời, và việc hợp tác mới là lựa chọn cho an ninh, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố, "Chính phủ Trung Quốc cam kết tìm các giải pháp hòa bình cho các điểm nóng khu vực".

Lính Trung Quốc luyện tập bên bờ Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải. Ảnh Reuters/China Daily.

Nói như Phó Giáo sư Peter Dutton, thuộc Viện Nghiên cứu Hàng hải, trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ, Trung Quốc đang xây dựng hình tượng "hòa bình phát triển" với thế giới.

Đáng tiếc, hình tượng đó dựng lên phần nhiều bằng lời nói, chứ không phải việc làm của chính Trung Quốc.

Tự định chuẩn

Cố gắng thuyết phục thế giới hiểu đúng về Trung Quốc và tham vọng phát triển của nước này, nhấn mạnh xây dựng quan hệ đối tác thực sự dựa trên sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thế nhưng, hành động của Trung Quốc, nhất là liên quan đến Biển Đông lại buộc thế giới đặt những dấu hỏi nghi ngờ.

Những lời trấn an của lãnh đạo Trung Quốc không thể an lòng thế giới, nhất là khu vực, khi những hành động của giới chức nước này lại "một mình một lối".

Từ đường ranh giới chữ U đòi chủ quyền trên Biển Đông tham lam "lờ đi những giới hạn luật pháp được quy định bởi Công ước Luật biển Quốc tế 1982" (nhận xét của PGS Peter A. Dutton) đến những hoạt động thực tế mang tính hiếu chiến trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá vỡ cam kết "giữ nguyên trạng", "không làm căng thẳng tình hình" mà nước này đã kí năm 2002 với các quốc gia ASEAN trong Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông DOC.

Trung Quốc liên tục "gây chuyện", với từng nước riêng rẽ liên quan đến tranh chấp, trực tiếp và gián tiếp, và với cả khu vực. Xây dựng đơn vị hành chính, đơn phương cấm đánh bắt cá, bắt giữ và đòi tiền chuộc với các tàu cá của các quốc gia ĐNA, va chạm với tàu Mỹ, xây dựng cơ sở hải quân khổng lồ ở đảo Hải Nam, tổ chức tàu tuần tra, tập trận không quân và hải quân trong khu vực tranh chấp... là những bước leo thang của Trung Quốc trong việc làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Quy mô và tần suất của các hoạt động phá vỡ lòng tin này ngày càng gia tăng.

Mới đây, Trung Quốc đã bắt đầu định danh tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là "lợi ích chiến lược" của nước này, đặt ngang hàng với các vấn đề Đài Loan, Tây Tạng vốn được Trung Quốc ưu tiên cao. Và cùng với nó, việc tuyên truyền về khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực cũng xuất hiện ngày càng dày trên truyền thông Trung Quốc.

Có vẻ như, cái gọi là "cam kết", "hợp tác", "không đe dọa"... đã được Trung Quốc tự định chuẩn theo cách hiểu của riêng nước này. "Phương cách đơn phương Trung Quốc" không chỉ được áp dụng trong giải thích luật biển quốc tế, mà trong những thuật ngữ hoa mỹ nước này dùng để dựng hình tượng về mình cũng như mô tả về quan hệ tốt đẹp với láng giềng.

Thay vì dùng lời nói thuyết phục thế giới và khu vực "hiểu đúng" về Trung Quốc với tư cách "cổ đông có trách nhiệm" trong cộng đồng quốc tế, có lẽ, đến lúc Trung Quốc dựng hình tượng ấy bằng hành động cụ thể, trước hết và trên hết bằng việc minh bạch hóa vấn đề an ninh Biển Đông với hành động thiện chí và xây dựng thực sự của nước này.

Và thay vì sử dụng phương cách Trung Quốc để rồi trách thế giới hiểu nhầm mình, Trung Quốc cần thực sự áp dụng phương cách và chuẩn mực quốc tế trong hành xử, để làm thế giới tin.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Blogger Mẹ Nấm bị từ chối cấp hộ chiếu

 
Họ đang xem lý do an ninh như một "cây đũa thần" đứng trên cả Pháp luật. Đừng quên rằng chính Pháp luật đặt họ vào vị trí đó, Pháp luật cũng khẳng định quyền được xuất cảnh của công dân và Pháp luật cũng là công cụ để giới hạn sự lạm quyền của cơ quan nhà nước. 

Thẩm quyền có 2 vế cùng lúc, nó không chỉ là trao quyền lực mà còn buộc cơ quan hành chính phải thực hiện công việc mà công dân đến yêu cầu.

*******************************


Nhận được một cuộc điện thoại từ PA35 -  Văn phòng Quản lý Xuất Nhập Cảnh - Công an tỉnh Khánh Hòa, lòng thầm nhủ, lần này buồn nhiều hơn vui rồi.

Kể từ dạo ấy, từ sau những ngày J biến cố, mình hầu như đã trở thành một con người khác. Đường nhà cũ, vắng bóng mình đi về lối đó,cỏ mọc ngút ngàn sắp che mất lối vào nhà. Việc làm thay đổi, giờ giấc thay đổi, sinh họat thường ngày cũng thay đổi. Thậm chí đến mức mình còn không có thời gian để nhận biết mình thực sự muốn gì và cần gì sau mỗi ngày mệt mỏi lê bước về nhà từ chỗ làm.

Mình thật sự muốn yên ổn, mình thực sự muốn đưa con đi đâu đó để không phải nghĩ, không phải nghe, cũng chẳng phải cảm thấy mặc cảm vì đã đem đến phiền phức cho những người xung quanh.

Mình biết. mình thực sự muốn đi nghỉ và cần phải đi đến một nơi nào đó chỉ có mình và Nấm, để nhìn lại những gì đã xảy ra mà mình phải trải qua, và mình cần cả tĩnh lặng để can đảm nhận lãnh trách nhiệm với con trong chặng đường sắp tới.

Mình đã nghĩ như thế, và đã hy vọng là mình sẽ sắp xếp được công việc trong vài ngày Tết.

Chiều nay, mình nhận được cái thông báo này:


Hẳn là lúc ở số 5 Lý Tự Trọng, khi nghe thông báo lý do mình không được cấp hộ chiếu là do yêu cầu từ phía PA24 - Cơ quan an ninh điều tra tỉnh Khánh Hòa, trên mặt mình nó đã hiện ra chữ HẢ?? thật to đùng. Mình muốn chạy ngay đến đó để nhìn thẳng vào mắt những người đã từng hỏi cung mình để nhận từ họ một câu trả lời thật thích đáng. 
Nhưng, người chịu trách nhiệm trả lại tiền cho mình ở văn phòng quản lý xuất nhập cảnh Khánh Hòa đã thòng thêm một câu thế này: 

- Em muốn biết lý do thì đến PA24 mà hỏi, nhưng phải đợi 2-3 ngày nữa mới có câu trả lời, vì họ còn đợi bên này chuyển công văn xuống.

Ngộ nghĩnh thiệt, không phải họ đã có sẵn lý do từ khi nhận hồ sơ xin cấp hộ chiếu của hai mẹ con mình hay sao?? Sao mình lại phải đợi  tới 2-3 ngày nữa để nhận thêm một câu trả lời vô lý nữa nhỉ???

Mình đọc đi, đọc lại mãi cái Quyết định trao trả tự do này, trong đầu vẫn lẩn quẩn cái hình ảnh bị kết tội, bị đấu tố. 


Phải chăng, khi nhận được quyết định trao trả tự do này, thì quyền tự do, quyền cơ bản của con người của mình cũng bị tước đọat luôn???

Mình đang băn khoăn và day dứt với câu hỏi : sẽ phải dạy Nấm sống thế nào trong những ngày tới? đừng dại dột bày tỏ tình yêu với đất nước hay bày tỏ những quan điểm cá nhân về tương lai xã hội, nếu không muốn trăn trở như mình.

Mình và anh 5 già đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng "Mình vẫn có quyền của một công dân Việt Nam kia mà".

Thật sự mình đã cố gắng không nghe, không thấy, không nói gì hết bởi mình muốn yên ổn và yên thân.
Lẽ nào, hạn vẫn chưa hết???

Chiều hết nắng, và lòng mình thật nặng nề.
Ngày hôm nay và những ngày sắp tới, hẳn sẽ là những chuỗi ngày không vui.

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Trung Quốc chỉ định Đức Ban Thiền Lạt Ma vào một cơ quan chính trị

Tân Hoa xã đêm hôm qua loan báo là Đức Ban Thiền Lạt Ma do chính quyền Bắc Kinh chọn lựa vừa được bổ nhiệm làm đại biểu Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân, gọi tắt là Chính Hiệp. Đây là một cơ quan có nhiệm vụ cố vấn cho các đại biểu Quốc hội Trung Quốc và sẽ khai mạc kỳ họp thường niên vào thứ tư tới.

Ban Thiền Lạt Ma là lãnh đạo cao cấp hàng thứ hai của Phật giáo Tây Tạng, sau Đạt Lai Lạt Ma. Vào năm 1995, Bắc Kinh đã phong Gyaincain Norbu, năm nay 20 tuổi, làm Đức Ban Thiền Lạt Ma thứ 11, mặc dù lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, hiện sống lưu vong, đã chọn một bé trai khác làm Ban Thiền Lạt Ma, đó là Gedhun Choekyi Nyima. Ban Thiền Lạt Ma này đã mất tích và dường như đang bị quản thúc tại gia.

Chính quyền Bắc Kinh có vẻ như muốn Ban Thiền Lạt Ma chính thức đóng vai trò ngày càng lớn hơn, nhằm góp phần chống lại ảnh hưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, mà họ kết tội là chủ trương ly khai.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Những đồng tiền thời hội nhập

Không thể không công nhận rằng kinh tế Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, Bill Hayton - cựu phóng viên BBC tại Hà Nội - phân tích trong một bài báo đăng trên tạp chí Foreign Policy của Mỹ, rằng chính sách "bàn tay rắn" về chính trị của Đảng Cộng sản có thể gây nguy cơ biến thành quả kinh tế thành thảm họa xã hội:

Bài báo 'Của cải mới ở Việt Nam' (Vietnam's New Money) bắt đầu bằng mô tả một đám cưới tại khách sạn Caravelle, TP Hồ Chí Minh, hôm 16/11/2008.

"Chú rể là ông Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, giám đốc điều hành công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam; và cô dâu là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, giám đốc một công ty đầu tư khác, VietCapital."

"Hai công ty này quản lý khoảng 150 triệu đôla tiền đầu tư ở Việt Nam."

Cô Phượng là con gái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và ông Hoàng là Việt kiều Mỹ, người có cha mẹ chạy khỏi Việt Nam năm 1975 để trốn tránh những người cộng sản, để rồi con trai của họ lại quay về cưới con gái của một người trong số đó.

"Cuộc hôn nhân của hai người mang nhiều yếu tố của một nước Việt Nam mới, nơi mà cho dù dòng của cải mới đang chảy vào, Đảng Cộng sản vẫn thống lĩnh cả hai lĩnh vực kinh tế tư và công."

Mạng lưới xã hội chủ nghĩa theo kiểu con ông cháu cha đang trở thành đe dọa cho sự ổn định trong tương lai của Việt Nam.

Bài báo nói nhiều doanh nghiệp "tư nhân" thực tế từng là doanh nghiệp nhà nước hoặc nhà nước vẫn còn sở hữu một phần, đa số do các đảng viên quản lý.

Đa số các nhân vật có vai trò quán xuyến khu vực tư nhân đều là người do Đảng bổ nhiệm, hoặc người nhà, hay bạn bè họ.

"Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đang biến chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam thành doanh nghiệp gia đình."

Việc quy tập quyền lực toàn diện trong tay Đảng, theo tác giả Bill Hayton, là diễn biến rất đáng lo ngại cho tương lai của Việt Nam.

Bài báo còn đưa ra thêm một số dẫn chứng cho quan hệ gia đình trong tiền bạc và quyền lực ở Việt Nam, như các trường hợp doanh nhân Trương Gia Bình, chủ tịch tập đoàn FPT, người từng là con rể Đại tướng Võ Nguyên Giáp; hay bà Đinh Thị Hoa, sáng lập viên công ty Galaxy, mà nay nắm trong tay một công ty PR, một số chuỗi nhà hàng kiểu châu Âu, một hãng phim truyền hình và rạp chiếu phim hiện đại ở Tp HCM.

Bà Hoa thuộc lứa đầu tiên trong những người đi học quản trị kinh doanh tại Đại học danh tiếng Harvard ở Hoa Kỳ theo học bổng của Ngân hàng Thế giới. Nhưng "Galaxy không phải bỗng dưng mà có".

"Khi Ngân hàng Thế giới chọn bà Hoa để trao học bổng, bố của bà (ông Đinh Nho Liêm) đang là thứ trưởng ngoại giao."

"Thành công, thành công, đại thành công"

Tiền của dân được huy động cho các định chế tài chính do nhà nước nắm?

Tác giả Bill Hayton viện dẫn lời Hồ Chủ tịch dùng để nói về khối đại đoàn kết dân tộc - "Thành công, thành công, đại thành công", để bình luận về tiến trình mở cửa nền kinh tế trong nước.

Năm 1993, số liệu chính phủ cho thấy khoảng 60% dân số sống dưới mức đói nghèo. Năm 2004, tỷ lệ đó tụt xuống chỉ còn 20%.

Việt Nam cũng đã thực hiện được hầu hết các mục tiêu Thiên niên kỷ do Liên Hiệp Quốc đưa ra và tiến vào danh sách Các quốc gia có thu nhập trung bình.

Thế nhưng theo ông Hayton, sự kiểm soát của nhà nước trong quá trình phát triển đang gây quan ngại.

"Việc kết hợp giữa các lợi ích của Đảng và của khối tư nhân đang làm biến thái nền kinh tế theo xu hướng thỏa mãn nhu cầu của số ít chứ không phải nguyện vọng của số đông."

"Mạng lưới xã hội chủ nghĩa theo kiểu con ông cháu cha đang trở thành đe dọa cho sự ổn định trong tương lai của Việt Nam."

Liệu ban lãnh đạo Đảng Cộng sản có khả năng đứng lên đối mặt với giới nhà giàu mới và đòi họ chuyển giao một phần tài sản thông qua thuế khóa để giúp dân nghèo ở các tỉnh xa hay không?

Bài viết cảnh báo rằng nếu không cẩn thận, Việt Nam sẽ đi vào con đường mà nhiều quốc gia từng được Ngân hàng Thế giới ca tụng vấp phải, là sau phát triển vũ bão là xuống dốc không phanh.

"Các tập đoàn lớn nhất của nhà nước đang thiết lập những kênh tài chính không minh bạch để đầu tư vào các dự án chỉ đạt tính lôgic về kinh tế ở mức tối thiểu".

Cho tới tháng Sáu năm 2008, 28 tập đoàn bỏ ra khoảng 1.5 tỷ đôla để mở công ty hoặc mua cổ phần áp đảo tại các công ty quản lý vốn, công ty môi giới chứng khoán, ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm.

Tác giả phân tích rằng 3/4 số các công ty tài chính của Việt Nam nay nằm trong tay các tập đoàn nhà nước lớn nhất (còn gọi là tổng công ty) và do vậy, các tập đoàn này có nguy cơ trở thành dạng quỹ đen tự quay vòng vốn và hạch toán mà không ai kiểm soát nổi.

Tuy nay không còn cơ chế cho vay lãi nhẹ từ ngân hàng nhà nước nhưng các doanh nghiệp công vẫn tìm được nhiều cách để thu nhận tiền. Thí dụ Ngân hàng Phát triển với tiền viện trợ nước ngoài và Quỹ Bảo hiểm Xã hội thuộc ngân hàng này đang đóng vai trò cung cấp tài chính có lợi cho doanh nghiệp nhà nước.

"Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam muốn quản lý nền kinh tế theo kiểu chủ nghĩa mang tên Charles de Gaulle (Gaullism) ở Pháp, khi cả khối kinh tế tư nhân và công cộng cùng được kiểm soát bằng một ban điều hành thượng thặng, được đào tạo tại những trường quản lý danh tiếng như học viện Hành chính Quốc gia (Nationale d'Administration) Pháp."

Theo cách thức này, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ hoạch định chính sách cơ bản rồi giao cho Nhà nước thực hiện. Đảng Cộng sản cũng sẽ giám sát quá trình để bảo đảm việc thực hiện chính sách.

Tuy nhiên, ông Bill Hayton cảnh báo rằng sự thực có thể khác xa so với trông đợi.

Việt Nam có thể sẽ bị đổ sụp dưới sức nặng của chính đống của cải mới này.

"Với đồng tiền dễ dàng kiếm được, người ta có thể hối lộ giới chức để vi phạm luật pháp. Các đảng viên ở doanh nghiệp tìm cách mua chuộc người làm chính sách."

Ông Hayton nhận xét rằng điều đáng ghi nhận ở Việt Nam là trong những lúc khủng hoảng, Đảng Cộng sản luôn có thể kỷ luật một số đảng viên để vãn hồi trật tự trong nền kinh tế.

Nhưng ông đặt câu hỏi: "Liệu việc này sẽ kéo dài thêm được bao lâu?"

"Cho tới nay, Việt Nam chia sẻ thành quả kinh tế một cách đồng đều hơn là ở các nước láng giềng. Thế nhưng trong tương lai, việc phân bổ tài sản này sẽ có nghĩa là lấy mất một phần của cải của giới ủng hộ đảng nhiều nhất."

"Liệu ban lãnh đạo Đảng Cộng sản có khả năng đứng lên đối mặt với giới nhà giàu mới và đòi họ chuyển giao một phần tài sản thông qua thuế khóa để giúp dân nghèo ở các tỉnh xa hay không?"

Tác giả Bill Hayton nói nếu không kiểm soát được mạng lưới quyền lực của đảng và giới đặc quyền thì Việt Nam có thể sẽ bị đổ sụp dưới sức nặng của chính đống của cải mới này.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Google đứng giữa xung đột Mỹ - Trung

Dù nguyên cớ nào đi nữa, xung đột thương mại hay mâu thuẫn chính trị, thì Google cũng đã trở thành đương sự bất đắc dĩ trong vụ lùm xùm hiện tại.

Nếu Google thực sự rút lui thì đây cũng không phải là lần đầu tiên một đại gia Internet Mỹ phải tháo lui khỏi thị trường Trung Quốc đầy béo bở. Vài năm qua, nhiều tên tuổi như Yahoo, Flickr, Facebook, Twitter, YouTube … đã lần lượt rút lui khỏi thị trường Trung Quốc bằng những lý do khác nhau. Trong đó, tự nguyện ra đi vì không đồng ý bị kiểm duyệt cũng có, bị buộc phải đi vì bị chặn cũng có. Nhưng dù là lý do nào, sau đó người ta cũng thấy có ngay các doanh nghiệp Trung Quốc khác thay thế vị trí bỏ lại. Điển hình như YouTube thoái lui thì có Youku và Tudou nhanh chóng thay thế. Hay Tianya, Sina đã soán ghế của Twitter, WordPress, Blogger. Bababian Clone đã chiếm lĩnh người dùng của Flickr. Ren Ren Wang và Kai Xin Wang đã lấp đầy khoảng trống của Facebook và đang có đến 22 và 56 triệu người dùng.


Những người ủng hộ Google đã đặt hoa tại trước trụ sở công ty này tại Bắc Kinh. Nguồn ảnh: AP

Nay, khi Google cảnh báo khả năng rút khỏi thị trường này thì cổ phiếu của Baidu, công ty đối thủ của Google và cũng là công ty dẫn đầu với 60% thị phần tìm kiếm tại Trung Quốc, đã nhanh chóng tăng 16,6% trên sàn Nasdaq. Ăn theo có Sina và Sohu đang chiếm vị trí thứ ba và thứ tư tại Trung Quốc cũng tăng giá cổ phiếu đến 4,9% và 6,2%. Vì những diễn biến trên, nhiều người cho rằng việc Google phải rời khỏi thị trường Trung Quốc vốn dĩ là một tất yếu của kịch bản bảo hộ thương mại mà Trung Quốc sử dụng để giúp các doanh nghiệp trong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa. Theo đó, Google là nạn nhân mới nhất trong cuộc chiến thương mại giữa Trung – Mỹ.

Ở một diễn biến khác, khi những cuộc xâm nhập đầu tiên vào các tài khoản Gmail bị phát giác vào tháng trước, Hoa Kỳ đã nhận thấy có một cuộc tấn công quy mô lớn trên internet nhằm vào các công ty Hoa Kỳ. Bởi có đến 34 công ty khác cũng là nạn nhân của đợt tấn công này, như: Yahoo, Adobe System, Juniper Networks, Northrop Grumman… Trong số đó có cả các công ty là các nhà thầu của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Nhiều cơ quan chính phủ và các công ty an ninh mạng hàng đầu của Hoa Kỳ đã vào cuộc điều tra.

Kết quả cho thấy, đây là một kế hoạch tấn công tổng lực với sự phối hợp mạnh mẽ, rất tinh vi và mọi chỉ dấu đều xoay về Bắc Kinh . Theo ông Eli Jellenc, người đứng đầu bộ phận tình báo trên không gian ảo của công ty VeriSign's iDefense Labs chuyên về an ninh mạng, cho biết: “Thường thì người ta sử dụng một loại mã để tấn công một mục tiêu. Nhưng trong trường hợp này, họ sử dụng nhiều mã cho một mục tiêu, nhưng tất cả trong một chiến dịch tấn công. Đây là một bước tiến trong phối hợp đánh phá”.

Ngoài ra, các cuộc tấn công đa phần nhằm vào các lỗ hỗng của các hệ thống quản lý cấp cao. Ông James A. Lewis, chuyên gia an ninh quốc gia trên internet tại Trung Tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế, khẳng định: “Đây là một chương trình gián điệp lớn nhằm nhận được thông tin công nghệ cao, các thông tin nhạy cảm chính trị giúp ích rất nhiều trong việc phát triển nhanh nền kinh tế cũng như sự đảm bảo sống còn cho chế độ chính trị của Trung Quốc”. Việc xâm nhập một số tài khoản Gmail cũng được cho là để phục vụ mục tiêu trên.

Như thế, cuộc tấn công như một diễn biến mới nhất trong xung đột Mỹ - Trung sau những va chạm trên không, trên biển Thái Bình Dương hay mâu thuẫn về Đài Loan. Giả thiết này xem ra cũng rất thuyết phục khi Trung Quốc được dự báo sẽ nhanh chóng vượt qua Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trong năm nay. Khi đó, việc tranh giành vị thế siêu cường dẫn đầu sẽ càng căng thẳng nên đây có thể xem là “bước chuẩn bị”.

Tuần Việt Nam

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2009

Phải chăng dư luận đang bị thách thức?

Chúng ta đang sống trong thời kỳ người dân rất quan tâm đến thông tin, hơn nữa họ có thể trao đổi thông tin với nhau quan mạng Internet. Do vậy, những gì xẩy ra trong nước cũng như ngoài nước được mọi người biết đến rất nhanh; người ta trao đổi, bàn luận quanh những thông tin đáng chú ý và bày tỏ thái độ. Đây chính là dư luận.

      Thời gian gần đây có những sự việc dường như là thách thức do luận. Đó là việc ông Đào Duy Quát cho đăng tin dịch của nước ngoài về việc Trung Quốc tập trận ở Trường Sa. Sau khi rất nhiều người phản ứng dữ dội, ông Quát bị kỷ luật, bị phạt tiền. Ông chống chế bằng cách đổ lỗi cho “cậu đánh máy” quên hai chữ “ngang ngược”. Nhiều người cho rằng, trong trường hợp này chính ông Quát ngang ngược, không coi dư luận ra gì mới nói là thêm chữ ngang ngược vào bản tin dịch của nước ngoài.

      Nhưng sự việc chưa dừng ở đó. Mấy hôm sau ông Quát còn đi trao giải cho những người làm bài xuất sắc trong cuộc thi tìm hiểu về biển và đảo! Một người vừa bị kỷ luật do cho đăng tin Trung Quốc tập trận trên vùng biển đảo của ta, bị dư luận lên án dữ dội, lại là người đi trao giải thưởng cho cuộc thi về biển đảo! Mỉa mai và đau đớn làm sao?! Nhưng có vẻ nhiều người vẫn nhẫn nhục chịu đựng.

      Đến việc Vedan được vinh danh một lúc 3 sản phẩm vì sức khỏe cộng đồng thì rõ ràng là nhiều người không chịu nổi. Một công ty hủy hoại môi trường, “giết chết” dòng sông Thị Vải đang gây nhức nhối lại được vinh danh! Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân đã phải thốt lên: “Đùa dai!”. Ai đùa đây? Những người cấp bằng vinh danh cho Vedan đùa cợt tất cả chúng ta? Tôi cho rằng, không chỉ như vậy, họ còn đi xa hơn: Họ thách thức dư luận!

Có những việc nữa góp phần khẳng định điều này. Đó là vụ án ông Huỳnh Ngọc Sĩ và bà Trần Ngọc Sương. Ban đầu bản chất của sự việc trong vụ án ông Sĩ là do phía Nhật Bản cho biết là ông Sĩ ăn hối lộ. Phía Nhật Bản đã xử lý người của họ. Còn phía Việt Nam chỉ xử ông Sĩ tội “Lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và được giải thích là án nhẹ vì thân nhân tốt, công nhiều hơn tội.

Còn bà Trần Ngọc Sương nguyên là Giám đốc Nông trường sông Hậu, người từng được phong Anh hùng thời kỳ đổi mới (cha bà cũng là nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu, cũng từng được phong Anh hùng thời kỳ đổi mới) từng là gương mặt tiêu biểu cho phụ nữ châu Á – Thái Bình Dương, sau 28 năm làm việc không ngừng nghỉ, đến lúc nghỉ hưu chỉ là tay không, phải đi ở nhờ và bị xử 8 năm tù vì tội lập quỹ trái phép!

Tội của ông Sĩ thì đã rõ, còn bà Sương đang kháng án, nhưng cứ cho là bà có lập quỹ trái phép thật đi chăng nữa thì mức độ nguy hại làm sao so với việc ông Sĩ ăn tiền trong dự án làm với Nhật Bản! Còn về công – thân nhân tốt thì ông Sĩ làm sao so với bà Sương được. Ấy thế mà ông Sĩ chỉ bị kết án 3 năm tù, còn bà Sương những 8 năm. Đây không phải là sự thách thức thì là gì?!

Chỉ điểm qua một vài sự việc như thế để thấy rằng, có thể có những ai đó đang thể hiện thái độ ngang ngược, xem thường pháp luật và đạo lý, thách thức dư luận, chà đạp lên niềm tin vào công lý của nhân dân. Đây có lẽ không phải là chuyện đùa nữa rồi.

Tái bút: Người ta lại tiếp tục đổ lỗi cho nhân viên trong việc vinh danh Vedan có 3 sản phẩm "vì sức khỏe cộng đồng". Nào là "giấy chứng nhận đã được ký khống", nào là "từng sản phẩm cụ thể của Vedan là tốt"... Càng thanh minh, càng lộ rõ việc quan chức của ta hầu như không có kỹ năng làm việc và không hiểu pháp luật. Tại sao ông Phó Cục trưởng Hoàng Thủy Tiến lại ký khi không biết giấy chứng nhận này vinh danh công ty nào? Làm đến chức như vậy, sao ông lại có thể ký khống những giấy tờ quan trọng như vậy? Còn ông Bùi Văn Quyền - Vụ trưởng, Trưởng đại diện của Bộ Khoa học - Công nghệ ở thành phố HCM còn nói nếu không có báo chí, ông không biết là Vedan được vinh danh. Quan liêu đến thế là cùng! Ông Quyền lại còn nói rằng, các quan chức chỉ thực hiện những vấn đề theo tính pháp lý, còn những việc chi tiết do đơn vị tổ chức thực hiện. Vậy xin hỏi: Ai có vai trò quan trọng, vai trò quyết định trong việc vinh danh Vedan?

Tất cả đồng loạt cho rằng, chỉ có ban tổ chức sai sót. Vậy xin hỏi: Ai sinh ra ban tổ chức? Các thành viên trong hội đồng xét duyệt đều là người của Bộ Khoa học - Công nghệ và Bộ Y tế, Bộ Công Thương... chứ có phải là người thuê ở chợ lao động vào đâu?!

Tôi xin thử trả lời cho việc Vedan - Kẻ "bức tử" sông Thị Vải được vinh danh là do quan chức của ta vừa dốt, vừa tham, vừa vô trách nhiệm. Còn ai đưa những người có phẩm chất như vậy nắm những chức vụ quan trọng chính là người có lỗi.

Tại sao chúng ta không thẳng thắn công nhận những sai lầm của mình để hy vọng có ngày khá lên?

Nguồn: Hồ Bất Khuất Blog

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Nhu và cương trong quan hệ Việt - Trung

Ở Việt Nam, đã có lúc chỉ khi xảy ra các vụ bắt bớ những người cổ vũ dân chủ hay các yếu nhân của Giáo hội Công giáo mới làm truyền thông chú ý.

Lãnh đạo Việt - Trung khẳng định tăng cường quan hệ

Giờ đây, một nhóm mới, bất ngờ hơn đã gia nhập hàng ngũ những người bị chính thể trừng phạt.

Trong vài tháng qua, ngày càng có nhiều những người dân tộc chủ nghĩa cáo buộc Hà Nội ngả theo Bắc Kinh, đã hứng chịu sự tấn công của nhà nước dành cho nhà báo và blogger.

Với hơn 21 triệu người dùng internet và ước tính có 3, 4 triệu blog, nhà nước Việt Nam ngày càng khó kiểm soát mạng, và internet đã trở thành phương tiện diễn ngôn chính cho những ai chỉ trích chính sách.

Suốt một năm rưỡi qua, Trung Quốc đã là tâm điểm của những tranh cãi dữ dội qua mạng, từ chuyện ra oai quanh Trường Sa – Hoàng Sa, hay quyết định tranh cãi của chính phủ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép Chinalco của Trung Quốc khai thác bauxite trên Tây Nguyên.

Trong quá khứ, Đảng rất ủng hộ phong trào dân tộc chủ nghĩa, nhưng nay đối với một bộ phận lãnh đạo Việt Nam, thái độ bài Hoa ngày càng rõ trên blog dường như trở thành vật cản ngoại giao chứ không phải là nguồn sức mạnh.

Các vụ bắt bớ gần đây có vẻ như được dẫn dắt bởi cơ quan tình báo quân đội bí ẩn có tên Tổng Cục Hai. Cơ quan này, có tin nói là thành lập đầu thập niên 1980, đã trở thành vũ khí ưa thích của phe bảo thủ trong cuộc tranh giành quyền lực trước Đại hội XI, dự kiến tổ chức vào 2011.

Tranh chấp chính trị

Đại hội XI sẽ quyết định các vị trí lãnh đạo chủ chốt và cơ cấu quyền lực trong nhiều năm sau này.

Vì thiếu vắng tranh luận ý thức hệ thực sự, nên chính sách của Hà Nội với Trung Quốc dường như trở thành điểm phân rẽ chính giữa phe cải tổ và bảo thủ.

Blogger Mẹ Nấm sau khi được thả đã ngừng blog

Đa số chuyên gia cho rằng việc trấn áp các blogger dân tộc chủ nghĩa có thể được xem là sự thể hiện quyền lực của nhóm bảo thủ, mà dường như đang thắng thế sau khi ông Tô Huy Rứa được vào Bộ Chính trị.

Dĩ nhiên thật vô cùng khó để bất kỳ ai ngoài ban lãnh đạo Đảng có thể dự đoán cuộc tranh đấu nội bộ sẽ đi tới đâu. Nhưng người ta biết rằng chính sách kinh tế tự do của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm mất lòng nhiều thành viên truyền thống hơn trong Đảng, những người lo sợ sự cởi mở sẽ dần dần đưa tới khao khát có tự do chính trị. Mặc dù ông Dũng vẫn có thể dựa vào các đảng viên trẻ hơn, bớt đầu óc ý thức hệ và ủng hộ cải cách kinh tế hướng ngoại, nhưng khó khăn tài chính gần đây của Việt Nam cũng khiến nước này phụ thuộc nhiều hơn vào đầu tư của nước láng giềng phương Bắc.

Sự phụ thuộc ngày càng tăng vào Bắc Kinh cho tới nay đã được phe bảo thủ khéo léo sử dụng cho ưu thế chính trị. Đã có những tin đồn khó chịu xuất hiện, cáo buộc Thủ tướng Dũng nhận hối lộ trong dự án bauxite. Đợt sóng tin vỉa hè gần đây rất giống với cái gọi là “vụ án T4”, được cho là do Tổng cục Hai dàn dựng, cáo buộc nhiều lãnh đạo đã nhận tiền của CIA. Ảnh hưởng gia tăng của Tổng cục Hai đem lại lo ngại trong một số đảng viên rằng nếu tình báo quân đội không được kiểm soát, thì Việt Nam có thể đang đi theo hướng của Pakistan, nơi nhiều thành phần của cơ quan tình báo quân đội khét tiếng ISI đã thiết lập cấu trúc quyền lực riêng phục vụ cho nghị trình của họ.

Chính sách mâu thuẫn

Đợt tranh đấu chính trị mới đây chỉ càng làm tăng thêm sự phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng trong năm nay, Việt Nam hoàn tất hợp đồng 1.8 tỉ đôla với Nga để mua sáu tàu ngầm hiện đại. Theo ước đoán của tạp chí Jane’s Intelligence Review, ngân sách quốc phòng hàng năm của Việt Nam chỉ là 3.6 tỉ đôla. Vụ mua bán này là dấu hiệu rõ gửi cho Bắc Kinh rằng Hà Nội muốn phát triển chiến lược phòng vệ biển cho các tuyên bố chủ quyền của mình.

Chuyên gia về Việt Nam lâu năm, Carlyle Thayer, mô tả chính sách của Hà Nội với Trung Quốc là “theo đuổi chiến lược tổng hòa giữa hữu hảo, nhờ tới quốc tế và phòng hờ với Trung Quốc”.

Mặc dù nhận xét này mới đầu nghe như đa phương quá mức và vô lý về mặt chiến lược, nhưng ta có thể cho rằng thái độ yêu ghét Trung Quốc – dao động giữa phòng thủ và ương bướng – cũng chẳng phải là chuyện mới mẻ. Nó đã in sâu trong nhận thức chiến lược của Việt Nam đối với nước láng giềng.

Quan hệ Việt - Trung mang tính bất cân xứng

Trong tác phẩm China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (2006),GS. người Mỹ Brantly Womack nhận định quan hệ Việt – Trung “là ca thú vị của mối quan hệ bất tương xứng lâu dài”.

Bản sắc Việt Nam độc đáo ở chỗ nó hình thành nhờ cả việc thông qua cũng như đối chọi lại với ảnh hưởng Trung Hoa. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của kẻ chiếm đóng. Trong khi quá trình Hán hóa trở nên sâu đậm trong giới tinh hoa và quý tộc Việt Nam, thì người nông dân lại vẫn trung thành với lề lối truyền thống và khác với giới quý tộc, họ không chịu từ bỏ Phật giáo để đi theo Nho giáo.

Ta gần như có thể tìm thấy sự tương đồng với các sự kiện đang diễn ra ở Việt Nam: nhiều người thuộc tầng lớp quý tộc mới đang ngả về Trung Quốc, trong khi thường dân, được đại diện bởi các blogger và những nhà hoạt động trên mạng, lại bảo vệ bản sắc và quyền lợi dân tộc.

Khi phải đánh giá dấu ấn văn hóa in hằn trong ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc, đã có người cho rằng quan hệ Việt – Trung bắt rễ trong quan niệm Khổng Nho về thầy và trò, và rằng nếu thỉnh thoảng căng thẳng nổ ra trong 40 năm qua, đó là vì sau khi Việt Nam đã củng cố vị thế một quốc gia hiện đại sau cuộc chiến Đông Dương, nước này tìm cách thay thế quan hệ giám hộ bằng một quan hệ bình đẳng hơn.

Khi trấn áp các nhà báo và blogger theo chủ nghĩa dân tộc, Đảng có nguy cơ khơi sâu khoảng cách lịch sử giữa người nông dân và giới tinh hoa trong thái độ với TQ.

Iskander Rehman

Đây là chuyện không dễ dàng gì, như Brantly Womack giải thích: “Với một láng giềng như thế, Việt Nam mắc kẹt trong sự khó xử. Họ cần hòa bình với Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần, nhưng nếu họ cho phép Trung Quốc chèn ép để dịch chuyển viên đá xác định biên giới, họ để mất tự chủ và bản chất dân tộc.”

Ban lãnh đạo Việt Nam sẽ phải tìm cách vượt qua tình thế tiến thoái lưỡng nan to lớn này trong những năm tới.

Nhưng có một điều chắc chắn: khi trấn áp các nhà báo và blogger theo chủ nghĩa dân tộc, Đảng có nguy cơ khơi sâu khoảng cách lịch sử giữa người nông dân và giới tinh hoa trong thái độ với Trung Quốc.

Nếu điều đó xảy ra, Đảng sẽ tự đánh mất điều mà Hồ Chí Minh từng gọi là “vũ khí bí mật” hiệu nghiệm nhất của Việt Nam – lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân.

Iskander Rehman có bằng thạc sĩ Chính trị học ở Viện Chính trị học tại Paris, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở CERI (Centre d'Etudes et de Recherches Internationales) tại Paris. Ông hiện làm luận án về Chiến lược Biển của Ấn Độ. Bài viết này thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Nguồn : BBC Vietnamese

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009

Lý Quang Diệu và Singapore 50 năm tới

Trước khi lên đường đi Washington DC nhận giải thưởng về sự nghiệp cả đời cống hiến cho Singapore và Đông Nam Á, từ Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Asean (US-Asean Business Council) vào ngày 27 tháng 10, Sư trưởng (Minister Mentor) Lý Quang Diệu của Singapore đã nói chuyện trước 1.200 sinh viên Đại học Quốc gia Singapore (NUS – National University of Singapore) vào tối 19 tháng 10.

Ở tuổi 86, ông Lý xem ra vẫn khỏe mạnh, và du hành khá nhiều.

Ở tuổi 86, ông Lý xem ra vẫn khỏe mạnh, và du hành khá nhiều.

Đây là buổi hội luận hàng năm, mang danh “Kent Ridge Ministerial Forum” (Hội luận Kent Ridge cấp Tổng trưởng), do Hội Sinh viên Chính trị của NUS tổ chức cho các sinh viên và nhân viên giảng huấn có dịp trao đổi ý kiến với các chính khách thành đạt. Ví dụ, trong cuộc Hội luận năm 2007, diễn giả chính là Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, với đề tài “Quốc tế và những quan tâm vùng” (International and Regional concerns); Đề tài của Hội luận năm 2008 là “Toàn cầu hóa: Đe dọa hay cơ hội cho thường dân Singapore” (Globalization: Threat or Opportunity for the Ordinary Singaporian?), diễn giả là Tiến sĩ Balakrishnan, Tổng trưởng Bộ Phát triển Cộng đồng, Thanh niên và Thể thao. Đề tài năm nay là “Những gì sẽ chờ đợi Singapore trong 50 năm tới?” (What will the next 50 years have in store for Singapore?), diễn giả chính là Sư trưởng Lý Quang Diệu, người trong nửa thế kỷ qua đã biến Singapore từ một hải cảng thô sơ thành một thị quốc tầm cỡ quốc tế.

Hội luận này không phải là cuộc đối thoại trực tiếp. Đối với bên ngoài, ông Lý Quang Diệu luôn đề cao vai trò của sự tranh cãi giữa các ý kiến đối nghịch để thúc đẩy tiến bộ, nhưng trong phạm vi Singapore, người có ý kiến chống đối rất dễ bị ra tòa, bị phạt những khoản tiền khổng lồ tới mức phá sản, không phải bị coi là chống lại nhà nước như kiểu Việt Nam, mà là xúc phạm danh dự người bị chỉ trích. Lần thứ ba xuất hiện trong chương trình hội thoại của Charlie Rose trên truyền hình Mỹ vào ngày 22 tháng 10 nhân chuyến đi lãnh thưởng, ông Lý đã ca tụng Tổng thống Obama là người hùng biện, và điều gây ấn tượng nhất đối với ông, là ông Obama đã bổ nhiệm những người đối lập với mình vào những chức vụ then chốt. Nhưng điều này không xẩy ra tại Singapore, ít nhất khi ông Lý còn tại thế.

Khoảng 500 câu hỏi do sinh viên gửi tới trước bằng email. Sau khi sàng lọc, 9 câu  được chọn để ông Lý trả lời. Blog TOC còn mỉa mai, chẳng những sàng lọc, có khi 9 câu hỏi này còn được khử trùng trước khi đến tay ông Lý. Tại một nơi vẫn còn cấm nhai kẹo cao su nơi công cộng, và có xe đi hốt rác ngày hai lần, lời mỉa mai này có thể rất gần sự thực. Có câu hỏi chỉ liên hệ tới Singapore, như chuyện recycle rác, nên bài này chỉ đề cập tới quan điểm của ông Lý Quang Diệu trong khoảng nửa số câu hỏi. Người viết có mặt tại Singapore, nhưng không trực tiếp theo dõi hội luận, mà thuật lại theo báo chí (The Straits Times), blogs (TOC – The Online Citizen, The Temasek Review…), và truyền hình (Chanel NewsAsia) địa phương.

Tầu đang lên, nhưng Mỹ chưa hết thời

Trả lời câu hỏi của Enock Seet, sinh viên năm thứ nhì ngành nghệ thuật, khoa học xã hội và kinh doanh của trường Đại học Quản trị Singapore rằng “Liệu sự suy thoái kinh tế Hoa Kỳ có liên hệ tới sự tăng trưởng của Ấn Độ, Trung Quốc, và Nga không?” Ông Lý nói:

Đừng nghĩ rằng Hoa Kỳ đã hết thời. Nền kinh tế của họ vẫn còn năng động. Hãy nhìn vào thành tích quá khứ của họ – họ là người uyển chuyển nhất, có đầu óc kinh doanh nhất, và sẵn sàng tái xuất dưới hình thức mới. Trung Quốc rất khó qua mặt Hoa Kỳ trong việc thu hút các tài năng nước ngoài.

Theo ông Lý Quang Diệu, ngay cả không có khủng hoảng kinh tế, trật tự thế giới cũng sẽ thay đổi trong vòng từ 10 đến 30 năm tới, do sự tăng trưởng mau lẹ của cái gọi là kinh tế BRIC (là bốn chữ đầu tên của các nước Anh, Nga, Ấn và Tầu).

Ông Lý đã ghi nhận tính “hòa đồng” của nền văn hóa Mỹ khi nói về khả năng thu hút  nhân tài từ khắp nơi trên thế giới: “Anh có thể tới như một di dân, nói không đúng nhấn giọng, nhưng chừng nào chúng tôi vẫn có thể hiểu được anh, chúng tôi chấp nhận anh như một người Mỹ”. Trung Quốc sẽ gặp khó khăn trong việc tạo ra một môi sinh như thế, vì văn hóa và ngôn ngữ kém thân hữu đối với người ngoài. Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhì của thế giới, và lợi điểm này còn tồn tại với nước Mỹ.

Theo ông Lý, Ấn Độ sẽ phát triển vào khoảng 60% so với Trung Quốc. Họ có một lớp thượng tầng rất tài năng, nhưng đã mất tới 2 triệu người cho Hoa Kỳ. Điều này khiến phát triển của Ấn Độ bị chậm từ 30 đến 40%.

Xuất hiện trên truyền hình Mỹ vào 22 tháng 10, ông Lý nói thêm về tương quan giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong thế kỷ này. Theo ông, sau thế kỷ 20 là thế kỷ Hoa Kỳ, nửa đầu thế kỷ 21 phần lớn vẫn còn là Hoa Kỳ, nhưng sang phần nhì của thế kỷ này, thì Hoa Kỳ phải chia sẻ địa vị với Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như phải làm hòa với họ. Riêng về Trung Quốc, ông nói họ không muốn là thành viên danh dự của Tây phương. Không giống Nga, họ thỏa mãn được làm người Trung Quốc, và tồn tại như thế. Cho nên, “khi các anh nói với họ làm cái này cái kia, họ nói vâng, cảm ơn. Nhưng trong đầu, họ tự hỏi ‘chúng tôi đã tồn tại năm ngàn năm, còn các anh?’”

Pháp trị và Singapore

Theo ông Lý Quang Diệu, khả năng lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc là một đe dọa cho Singapore, nhưng tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và pháp trị sẽ giúp Singapore cạnh tranh chống lại.

Trả lời câu hỏi của Cheryl Sim, sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Singapore về lãnh vực chính nào Singapore có thể cạnh tranh trong thập niên tới, ông Lý nói:

“Rất khó có thể tìm ra chỗ thuận lợi của mình. Vì bất cứ mình làm cái gì bây giờ, ít lâu sau, Trung Quốc sẽ làm cái đó – và họ làm tốt hơn, bởi họ có tài.” Ông đã kể ra trường hợp một nhà kinh doanh Thái Lan. Ông này mua lại một xưởng chế tạo xe gắn máy của quân đội tại Trung Quốc, áp dụng kỹ thuật của Nhật Bản, và kiếm được nhiều tiền. Chỉ  ba năm sau, nhân viên của ông lập một xí nghiệp riêng của họ, và thành công hơn. Ông Lý nói lợi thế của Singapore là sự hiếu khách và môi trường thuận tiện cho kinh doanh quốc tế.

Theo ông Lý, rất khó kiếm lời tại Trung Quốc vì nạn ăn cắp bản quyền tràn ngập. Ví dụ, các hãng chế tạo dược phẩm đa quốc rất khó bỏ Singapore để dọn sang Trung Quốc, vì mọi đầu tư vào việc nghiên cứu và cơ sở thực hiện rất khó đem lại lợi nhuận. “Chỉ nửa năm sau khi sản phẩm mới của mình ra lò, đã có sản phẩm tương tự trên thị trường”. “Nhưng còn lâu Trung Quốc mới có thể thay đổi từ quan trị tới pháp trị”. Và ngay cả khi chế độ pháp trị được thiết lập, thì vẫn còn bị trở ngại bởi chế độ chính trị. Theo ông Lý, Trung Quốc là “một xã hội với hai thứ pháp trị: một cho 76 triệu đảng viên, và một cho tất cả những người còn lại”.

Cạnh tranh toàn cầu và cách biệt giầu nghèo

Elvin Ong, sinh viên năm thứ tư ngành khoa học xã hội và kinh doanh thuộc Đại học Quản trị Singapore hỏi về việc Singapore có thể làm gì để giảm bớt cách biệt giầu nghèo, và giúp 20% dân chúng dưới cuối bảng sắp hạng. Ông Lý không nghĩ rằng quy định mức lương tối thiểu là giải pháp tốt. Theo ông, bất cứ nước nào định mức lương tối thiểu cũng đưa tới kết quả là công việc bị cắt giảm, vì chủ nhân bắt buộc phải trả lương cao hơn, thì sẽ giảm bớt việc mướn người. Singapore chủ trương tạo càng nhiều công việc càng tốt, và để cho thị trường quyết định mức lương thích hợp. Theo ông, có bất cứ công việc nào cũng hơn là thất nghiệp.

Theo ông Lý, khoảng cách giầu nghèo gia tăng không phải là vấn đề riêng của Singapore, mà hầu hết mọi nước đều phải đối phó. Ông cho rằng đó là vấn đề không thể tránh được trong tình trạng toàn cầu hóa. Cạnh tranh toàn cầu khiến người nghèo bị thiệt, và người giầu hưởng lợi. Lương bổng của thợ không chuyên môn bị giữ ở mức thấp vì bị cạnh tranh từ những nơi nhân công rẻ hơn như Trung Quốc và Ấn Độ. Trong khi đó, các nhân viên cấp cao gửi ra nước ngoài đương nhiên được trả lương cao hơn, và hưởng phụ cấp biệt phái. Ông đan cử thí dụ là Hoa Kỳ, nơi nhiều công việc thấp đã được mang ra nước ngoài có nhân công rẻ hơn. Và mặc dầu trong cuộc tranh cử Tổng thống năm ngoái đã có tranh luận về việc làm luật cấm mang công việc ra nước ngoài, nhưng nếu làm như vậy, sẽ gây thiệt hại cho giới kinh doanh.

Trả lời một câu hỏi khác rằng liệu ông có lo ngại tình trạng cách biệt lợi tức đưa đến phân biệt giai cấp tại Singapore không, ông Lý cho rằng đó là chuyện không thể tránh được trong một xã hội trưởng thành. Ông đã giải thích bằng thí dụ tại Trung Quốc:

“Cộng sản đã bắt đầu bằng một xã hội vô giai cấp. Các điền chủ tư bản đã bị chặt – đúng ra là đầu họ bị chặt. Nhưng Trung Quốc ngày nay, họ có các nhà lãnh đạo và có các hoàng tử… Được đào tạo tốt, và quen thuộc nhiều”. Ông Lý kể ra trường hợp gia đình Cựu Thủ tướng Lý Bằng (Li Peng), đang kiểm soát lãnh vực năng lượng của cả nước. Con gái là Li Xiaolin, Chủ tịch công ty điện lực độc quyền China Power International Development; con trai là Li Xiaopeng vốn đứng đầu công ty nặng ký khác là Huaneng Power. (Ông Lý kể chuyện bên Tầu, nhưng dân Singapore chẳng cần tìm đâu xa, vì gia đình ông cũng đã và đang kiểm soát Singapore, cả về chính trị lẫn kinh tế.) Theo ông Lý, họ có thể xứng đáng với công việc, nhưng nếu không có quen thuộc và liên hệ, chẳng ai biết đến họ. Trung Quốc là một nước lớn, anh phải được biết đến, nếu không, sẽ chỉ là một trong số 1 tỷ 300 triệu người.

Tuổi trẻ và giá trị truyền thống

Cô Jang Jia Hui, sinh viên khoa học năm thứ tư muốn ông Lý cho biết cái gì là giá trị và thái độ quan trọng nhất đối với tuổi trẻ Singapore để tiếp tục phát triển và thịnh vượng. Ông Lý trả lời là các bạn “nên có cùng giá trị và thái độ như cha ông các bạn đã có”.

Khi Jang cho biết cha cô sinh ra tại Singapore, nhưng ông cô đến từ nơi khác. ông Lý nói: “Ông cô có thể đã làm việc vất vả hơn cha cô, vì ông đã tới đây như một di dân, và như cô thấy, những di dân mới của chúng ta đã cố gắng rất nhiều để thành công tại nước ngoài. Và chính tinh thần đó đã đưa chúng ta tới đây. Nếu chúng ta không có những người với tinh thần ‘thành công hay là chết’, chúng ta đã không có Singapore như ngày nay”. Khi bạn ngừng cố gắng, bạn ngừng để được như thế này.

Ông Lý đã kể chuyện gia đình mình để làm thí dụ trong việc giáo dục giới trẻ. Nửa thế kỷ trước, ông nhận chức Thủ tướng Singapore, được quyền cư ngụ tại Dinh Thủ tướng, tọa lạc tại một khu đất cao. Dẫn vợ con tới thăm nhà mới, thấy các con chơi banh, mỗi khi banh tuột dốc, lại có bồi chạy đi nhặt mang lại. Ông bà Lý nhìn nhau lắc đầu: Nếu ở Dinh Thủ tướng 5 năm, các con sẽ lớn lên, nghĩ rằng đời là thế; luôn có người nhặt banh đem lại. Ông bà quyết định vẫn ở tại nhà riêng của mình, để con cái lớn lên trong niềm tự tin.

Nhưng thế hệ các cháu ông đã lớn lên trong cuộc sống nhiều tiện nghi hơn. Ông nói: “Đó là vấn đề chúng ta phải đối phó ngày nay”. Nhiều cha mẹ hiểu thế nào là nghèo khó, nhưng con cái thì không.

Tương lai thẩm định quá khứ

Daniel Lim, sinh viên năm thứ tư khoa truyền thông và thông tin thuộc Đại học Công nghệ Nanyang hỏi ông Lý Quang Diệu muốn được hậu thế nhớ về mình như thế nào, ông trả lời:

“Thành thật mà nói, tôi không bao giờ nghĩ tới điều đó. Công việc của tôi là làm tốt những gì đang làm. Châm ngôn trong đời tôi là nếu đã quyết định làm điều gì, thì hãy làm cho tốt, hay là đừng làm. Cho nên, bất cứ làm điều gì, tôi cố làm xong, và làm xong ở độ cao”.

Về uy tín của mình, ông Lý nói rằng: “Thành tích của một người cuối cùng sẽ được định vào 20, 30, 40 năm sau khi qua đời, khi các sử gia và sinh viên nghiên cứu về cuộc đời, về công việc, về tài liệu, về những việc đã quyết định, rồi thẩm định xem người đó giá trị như thế nào”.

Ông Lý nêu ra hai nhân vật Trung Quốc để làm thí dụ, là Mao Trạch Đông, và Đặng Tiểu Bình. Theo ông, Mao là một đại nhân đã giải phóng Trung Quốc, nhưng suýt nữa đã làm tiêu tùng nước này qua Cách mạng Văn hóa. Mặt khác, Đặng đã mở cửa đất nước ra thế giới vào tháng 12 năm 1978, một tháng sau chuyến viếng thăm Singapore, Kuala Lumpur và Bangkok.

Ông kể rằng ba ngày viếng Singapore là khúc quanh quan trọng đối với nhà lãnh đạo Trung Quốc, người trước đó vẫn cho rằng Singapore là tay sai của Mỹ, nhưng thay vào đó đã thấy một thị quốc giầu có, xanh tươi sạch sẽ, và mỗi người làm chủ một căn hộ. Bởi đó, khi Đặng đối diện với chống đối cải cách kinh tế của ông vào năm 1992, ông đã thúc đẩy các tỉnh Trung Quốc – trong một chuyến du hành miền Nam – hãy “học từ Singapore vì họ biết quản trị tốt và có kỷ luật”. Điều này đưa tới việc thiết lập khu công nghiệp Trung Quốc – Singapore tại Suzhu 15 năm trước. Đặng đã xây dựng Trung Quốc. Nếu ông ta không đảo ngược hướng đi, Trung Quốc chắc đã nổ tung như Liên Xô.

Hồn nước và GDP

Có thể nói Singapore là tác phẩm của Lý Quang Diệu. Sự thành công của Singapore khiến thế giới thán phục, nhưng theo lời ông Lý Quang Diệu phát biểu vào một dịp khác, tỷ lệ bất mãn của dân Singapore cũng cao vào hàng đầu thế giới. Ngoài truyền thông “lề phải” như tờ báo lớn The Straits Times mỗi ngày trung bình có tới 1 triệu 400 ngàn độc giả, và kênh truyền hình NewsAsia, Singapore cũng có những Blogs thẳng thừng chỉ trích ông Lý Quang Diệu, đáng kể trong số này là Blog TOC “The Online Citizen”.

Bài “Kent Ridge Ministerial Forum: The Lion, the Young and the Orchestra” của Blog này vào ngày 20 tháng 10 đã nhại lời trong Thánh Kinh để nói về Lý Quang Diệu “Lý tạo ra giang sơn trong hình ảnh của ông, trong hình ảnh của Lý ông tạo ra giới trẻ; ông tạo ra chúng không hồn và vô chính trị.” Bài này còn mượn lời của giáo sư kinh tế Linda Lim của Đại học Michigan để nói rằng “Singapore chỉ là một nơi chốn, không phải một quốc gia” (Singapore is only a place, not a nation). Bài này viết thêm “một quốc gia không lớn lên với GDP, một quốc gia không sống trong những nhà chọc trời: một quốc gia chỉ ra đời khi có một linh hồn”.

Trong hai ngày, bài này đã có hơn một trăm phản hồi, hầu hết đều chỉ trích ông Lý Quang Diệu. Tiêu biểu hơn cả là phản hồi thứ 29, của một ngừơi ký tắt là JW, post vào ngày 20 tháng 10, tạm dịch như sau:

LQD đã thuộc về quá khứ.

Không phải là bắt đầu như thế nào, nhưng kết thúc như thế nào mới đáng kể. LQD đang kết thúc rất tồi và sẽ kết thúc rất sớm.

LQD KHÔNG phải là cha già của dân tộc Singapore. Ông ấy mãi mãi là một kẻ cơ hội và một người hèn nhát về chuyện đó. Sự việc này đã được chứng tỏ nhờ những gì Said Zahari nói trong cuộc phỏng vấn này http://www.youtube.com/watch?v=aaLaeDN4t2U, các tài liệu giải mật tại Luân Đôn đã làm chứng rằng LQD là một kẻ hèn nhát.

Ông đã cộng tác với Nhật rồi với Anh chống lại nhân dân Singapore.

Chẳng có gì ngạc nhiên khi cuộc phỏng vấn này vẫn còn bị cấm bởi các nhà kiểm duyệt phim Singapore.

Sau 50 năm và LQD chấp nhận rằng Singapore vẫn không phải là một quốc gia.

Tốt nhất là LQD và Đảng PAP (People Action Party – Đảng Nhân dân Hành động) biến đi, càng sớm càng tốt.

Cũng cần ghi nhận rằng người viết đã có thể mở computer tại Singapore, đọc những lời chỉ trích trên đây theo link

http://sgblogs.com/entry/kent-ridge-ministerial-forum-lion-young-orchestra/365197

và xem được cả http://www.youtube.com/watch?v=aaLaeDN4t2U, mà không hề bị khó khăn bởi tường lửa.

*

Sau khi ông Lý quy tiên, không hiểu Đảng PAP có ướp xác ông để làm bùa hộ mệnh như các đảng cộng sản Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc đã làm với lãnh tụ của họ. Điều đáng chú ý là tại Singapore, người ta không bán hay trưng bầy ảnh tượng của Lý Quang Diệu. Quốc kỳ chỉ được treo tại công sở và mấy ngày lễ chính. Ngoài ra, người dân muốn treo cờ phải xin phép.

© 2009 Đinh Từ Thức

© 2009 talawas blog

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2009

Ép người khác làm người Trung Quốc


Lư Thế Tường [*]
Nhật Hối dịch

Tiếp theo việc công bố giải thưởng Kinh tế học, danh sách giải thưởng Nôben năm nay cũng đã được xác  định. Tổng thống Mỹ Ôbama được ban giải thưởng vì hòa bình, làm cho cả thế giới sửng sốt và gây ra rất nhiều tranh cãi. Cao Côn (tên tiếng Anh Charles Kuen Kao) từng giữ chức Hiệu trưởng Đại học Trung văn Hồng Kông, là một trong 3 người được giải thưởng về Vật lý. Do Cao Côn cùng lúc là viện sỹ Viện Nghiên cứu Trung ương của Đài Loan và Viện Khoa học Trung Quốc, nên cộng đồng người Hoa không những đưa tin rầm rộ hơn cả những giải thưởng khác, mà còn viết hàng loạt bài về việc người Hoa đoạt giải thưởng Nôben. Cao Côn sinh tại Thượng Hải, Trung Quốc, sau đó di cư sang Đài Loan, Hồng Kông, rồi tiếp tục sang Anh học tập nghiên cứu chuyên sâu, đồng thời còn có quốc tịch Anh, Mỹ. Tin tức liên quan đến Cao Côn đưa bằng tiếng Hoa, thường hay nhắc đến ông ta là “người gốc Hoa”, nói ông ta là “người Hoa” cũng không phải là quá đáng; song coi ông ta là “người Trung Quốc”, hoặc có một tờ báo ở Đài Bắc chụp ngay cho ông ta là “Cao Côn, người Thượng Hải”, thì rõ thật sai lầm.

Cũng tình huống tương tự, xảy ra đối với giải thưởng Nôben về hóa học năm ngoái. Giáo sư Tiền Vĩnh Kiện (tên tiếng Anh Roger Yonchien Tsien) của Đại học Bang Santiago de los Caballeros Mỹ, là một trong 3 người đoạt giải thưởng Nôben về Hóa học. Nhà khoa học gốc Hoa sinh tại NewYork này, khi đối mặt với hàng loạt câu hỏi của các nhà báo Trung Quốc như “Ông là người Trung Quốc à?” “Có biết nói tiếng Trung không?”"Thành tựu của ông có ý nghĩa gì đối với các nhà khoa học Trung Quốc?”, đã trả lời bằng tiếng Anh: “Không biết nói tiếng Trung. Tôi sinh ra và lớn lên ở Mỹ, tôi không phải là nhà khoa học Trung Quốc”. Theo báo chí, câu trả lời của Tiền Vĩnh Kiện khiến cho một số nhà báo Trung Quốc rất bực bội.

Chuộng chủ nghĩa dân tộc, bá  quyền

Tin tức liên quan đến giải thưởng Nôben và người Trung Quốc trong 2 năm liền, rõ ràng không kể là Đài Loan, Trung Quốc, đặc biệt là giới chính trị, truyền thông, đều có chung một tâm lý, chỉ muốn gán quan hệ những vinh quang trên thế giới cho người Trung Quốc. Tâm lý này, nếu chỉ xuất phát từ cảm giác mong được cùng sánh vinh quang, thì thuộc loại hão huyền kiểu nhận vơ họ hàng, tuy không đúng với thực tế, chỉ tự gây ra khó xử, song cũng không đáng làm người ta phải lo lắng. Nhưng nếu kết hợp với chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa bá quyền một cách mù quáng, tâm lý này sẽ không tránh khỏi thành ra ép người ta phải làm người Trung Quốc, tô vẽ làm đẹp cho kẻ thống trị chuyên quyền, tuyệt đối không phải như biện bạch “xã hội hài hòa”, mà chỉ mang thêm tai họa.

Lựa chọn làm người gì, trên cơ bản thuộc về quyền của mỗi cá nhân, do công dân tự do quyết  định. Theo giá trị chung của toàn nhân loại và công ước quốc tế, cá nhân có quyền tự do ra vào nước mình, tiếp đó có thể cư trú ở nước ngoài, lựa chọn thay đổi quốc tịch. Như Willard Boyle cùng đoạt giải Nôben về Vật lý với Cao Côn, cùng một lúc có cả quốc tịch Mỹ và Canada. Cho dù hiện thực vẫn còn nhiều hạn chế, thông thường thì con người hay di chuyển từ vùng lạc hậu đến vùng tiên tiến; đặc biệt là các nước tự do, dân chủ, giàu có, trước nay luôn lọt vào mắt xanh của những người di dân, nó phản ánh đặc thù cơ bản của loài người là luôn muốn vươn lên.

Bản tính và đặc thù trong sự lựa chọn tự do của người dân, luôn tạo ra sự kiểm nghiệm to lớn đối với người cầm quyền mỗi nước. Đạo lý cơ bản của người cầm quyền là khéo đối xử với người dân, tạo dựng môi trường sống tự do, dân chủ, phồn vinh. Ví như nước Mỹ, tương đối phù hợp lý tưởng, hơn 200 năm lại đây, luôn có sức hút đối với người dân các nơi trên thế giới,  họ di cư sang đó tìm kiếm giấc mơ nước Mỹ, hình thành giá trị và sự đồng tình chung; thậm chí còn có rất nhiều di dân trái phép, chỉ vì muốn trở thành người Mỹ mà tìm đủ trăm phương nghìn kế để vượt biên sang đó.

Nếu cùng so sánh, Trung Quốc ngày nay, luôn ép người khác làm người Trung Quốc, sự thực, dẫu rằng đức Khổng Tử từng đưa ra đạo lý “kẻ ở xa không phục, thì phải làm sáng tỏ giáo hóa lễ nhạc để cho họ tìm đến”, nhưng nói một đằng làm một nẻo vẫn cứ là đặc sắc của văn hóa Trung Quốc, thuyết “Vương đạo” mang tính tương đối của Khổng Tử, không những được thực hiện rất ít, chủ nghĩa bá đạo ép người khác phải làm người Trung Quốc, vẫn còn thể hiện sâu đậm trong văn hóa, xã hội, chính trị Trung Quốc.

Thuyết lãnh thổ, dòng máu làm thế giới không yên

Ép người khác phải làm người Trung Quốc, xem ra luận điệu cũng như thủ đoạn có hàng đống hàng mớ. Thường gặp nhất là thuyết lãnh thổ, rêu rao đất này từ xưa tới nay là “lãnh thổ vốn có” của Trung Quốc. Cơ sở của thuyết này, thậm chỉ chỉ cần lên mạng tra thấy thư tịch cổ từng nhắc đến vùng đất nào đó, liền nhập chỗ ấy vào lãnh thổ thần thánh; sống trên mảnh đất ấy, không kể có bằng lòng hay không, đều phải là người Trung Quốc. Thuyết dòng máu cũng rất thịnh hành, chỉ cần hơi dính dáng với dòng máu người Hán, thì quy hết sạch thành người Trung Quốc, chính là một trong những câu chuyện cổ tích của thuyết này. Nếu như có ai không theo, liền bị đả kích là “mất gốc”; như nhà bình luận Kim Hằng Vỹ từng chỉ ra rằng: nước lã sánh sao được với máu đào, phải giết hết không tha.

Những luận điệu như thế, đã không phù hợp với sự thực lại còn thiếu văn minh. Từ vốn hiểu biết chung, nếu thuyết lãnh thổ, dòng máu mà đứng vững, thì nay nước Mỹ vẫn cứ là con dân nước Anh, hơn 200 nước trên thế giới, trước kia có lẽ không nên thoát khỏi đế quốc hoặc mẫu quốc thực dân để độc lập. Khắp thế giới chỉ nên có một nước gồm dân Ethiopia ở châu Phi nơi mà thủy tổ của loài người là Ardi từng sinh sống. Sự thực, cơ sở phổ biến để hình thành các nước cận đại, là ý thức chung của người dân, xây dựng đất nước của mình bằng ý chí chung. Chính là như học giả chính trị nước Mỹ Samuel P. Huntington đã nhấn mạnh, sự đồng tình về đất nước của con người Mỹ, chủ yếu là quan niệm và thể chế chính trị.

Trung Quốc trỗi dậy tiếng ác lan xa

Trung Quốc tuy trỗi dậy gần 30 năm, chuyển sang con đường chủ nghĩa tư bản, khiến một nhóm người trở nên giàu có, cũng khiến cho càng nhiều người coi việc trở thành người Trung Quốc là vinh quang. Nhưng người Trung Quốc có vô dụng đi nữa, có đầy đủ “bản sắc của Trung Quốc” đi nữa, cũng không đến mức chỉ biết có tiền, đồng tình và chấp nhận lâu dài với thể chế độc quyền một đảng chuyên chính.

Cũng chẳng ngại xem thử người Trung Quốc nhìn nhận bản thân như thế nào. Hai năm trước nhà văn Chung Tổ Khang viết trong cuốn Kiếp sau không làm người Trung Quốc, dẫn chứng từ điều tra bạn đọc mạng Trung Quốc, có đến 2 phần 3 người “kiếp sau không muốn làm người Trung Quốc”. Nguyên nhân chính bao gồm: Trung Quốc không có tự do, người Trung Quốc thiếu sự tôn nghiêm của con người, ở Trung Quốc không đi học nổi, không khám bệnh nổi, không kết hôn nổi, không đẻ con nổi, làm một người Trung Quốc có cảm giác sống trong căm phẫn, thậm chí đến chết cũng không chết nổi. Căn bản nhất, không làm người Trung Quốc, bởi vì “bản tính của con người là không chịu làm nô lệ”. Chính vì vậy, ngay cả đến bộ phim đồ sộ để dâng lên lễ mừng 60 năm thành lập Trung Quốc như “Nghiệp lớn dựng nước” đã lộ ra trong hàng loạt ngôi sao tầm cỡ lớn, có đến 21 người mang quốc tịch nước ngoài.

Ngoài người dân làm bữa nào ăn bữa nấy và các ngôi sao, nhà văn Nghê Khuông thời trẻ từng tham gia Quân Giải phóng Nhân dân, khi được Đài truyền hình Hồng Kông phỏng vấn riêng cuối tháng 9, nhắc lại thêm ông ta “đời này không làm người Trung Quốc, thật vô cùng thất vọng”. Nghê Khuông nhận thấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm gần đây có thay đổi, có điều là thay đổi xấu đi, trở thành chủ nghĩa tư bản tồi tệ nhất. Đồng thời, Trung Quốc dù đã xuất hiện tầng lớp nhiều tiền, nhưng không giống với tầng lớp trung sản trong xã hội phương Tây, yêu cầu dân chủ tự do, “lại thành ra càng dựa vào chuyên quyền, để mong được càng nhiều lợi ích”

Tiếng nói tự đáy lòng của những người đời này kiếp khác không muốn làm người Trung Quốc, cốt lõi đương nhiên là người cầm quyền Trung Quốc không khéo đối xử với người dân của mình. Bất kể là dân chủ chính trị, quyền công dân, tự do báo chí, Trung Quốc đều nằm ở nhóm cuối trong bảng xếp hạng quốc tế. Bức hại những người bất đồng chính kiến và bảo vệ nhân quyền, thành viên Pháp luân công, người Tây tạng, dân tộc Duy Ngô Nhĩ, thật đúng là tiếng ác lan xa. Đặc biệt là Ôlimpic Bắc Kinh năm ngoái và Quốc khánh Trung Quốc vừa rồi, Trung Quốc phòng bị vô cùng nghiêm ngặt, coi nhân dân như là kẻ địch đáng gờm, đấy chính là sự miêu tả câu nói “Bịt miệng dân, còn nguy hơn cả chặn dòng sông”.

Những người già sinh ra tại Đài Loan trước thời kỳ chiến tranh nay đã trên 65 tuổi, đều từng là người Nhật Bản. Đài Loan trước khi dân chủ hóa, người cầm quyền cũng ép người Đài Loan phải làm người Trung Quốc như thế, vả lại thông qua áp đặt chính trị, tư tưởng văn hóa trong giáo dục và truyền thông để tẩy não “loại bỏ Đài Loan hóa”, người Đài Loan không còn tự do để lựa chọn làm người Đài Loan, không ít người thành ra cứ ra rả ngoài miệng “Người Trung Quốc chúng ta”. Cho dù như vậy, Tưởng Kinh Quốc khi cuối đời cũng đã tuyên bố ra miệng “Tôi cũng là người Đài Loan”, hiển nhiên đã có bụng giã từ chủ nghĩa Trung Quốc cực đoan, để hòa quyện vào Đài Loan. Sự tỉnh ngộ giống như Tưởng Kinh Quốc, cộng thêm quá trình chuyển hóa sang dân chủ, cho đến nay bộ phận đồng tình với Đài Loan, tự coi mình là người Đài Loan đã thành tuyệt đại đa số.

[*] Tác giả là người làm nghề báo có thâm niên, nguyên Tổng biên tập Nhật báo kinh tế của Đài Loan.

Nguồn: http://www.libertytimes.com.tw/2009/new/oct/18/today-p6.htm