Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Nhà văn: Tự do, Độc lập và Sự lên tiếng nói

Bùi Minh Quốc – Tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ?…*

Sau đây là trích đoạn bài phát biểu của nhà thơ Bùi Minh Quốc tại đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL.

Cần dứt khoát đổi mới Hội

Hội nhà văn Việt Nam của chúng ta thoát thai từ Hội Văn hóa Cứu quốc do Đảng chỉ đạo hình thành trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là tổ chức của những chiến sĩ văn hóa chiến đấu để xây dựng một nền văn hóa mới.Tháng 6 năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ viết bản báo cáo mang tên “Một nền văn hóa mới” trong đó có đoạn hừng hực hào khí của một dân tộc nô lệ vùng lên giành lấy độc lập và tự do như sau:“Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” ( “Một nền văn hoá mới”- Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản năm 1945). Các quyền thiêng liêng ấy -  tự do tư tưởng và tự do ngôn luận – đã lập tức được hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và vẫn duy trì tại Hiến pháp hiện hành.

Nhiều năm qua, các quyền thiêng liêng ấy chỉ tồn tại trên giấy. Đã có biết bao tác phẩm giá trị bị cấm, bị nghiền, biết bao nhà văn phải chịu khổ nạn chỉ vì kiên quyết thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn. Bởi vì có một thế lực sợ sự thật trong tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước đã dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để dập vùi đầy đọa những nhà văn trung thực trung kiên nói tiếng nói của sự thật của lẽ phải.

Vụ cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị cho vào máy nghiền là một bằng chứng điển hình khiến tất cả những ai có lương tri không thể không đau lòng và phẫn nộ.Ấy vậy mà Hội nhà văn của chúng ta, Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do lại im lặng trước hành vi man rợ đó.Thật phi lý. Sự im lặng này thật phi lý.Và thật xấu hổ, thật nhục nhã.

Nếu bây giờ tôi hỏi anh Hữu Thỉnh : anh có phải là một nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do không, chắc chắn anh sẽ trả lời : tôi luôn luôn là một nhà văn như thế.Và vẫn câu hỏi này, tôi đưa ra hỏi anh Lê Văn Thảo, anh Nguyễn Trí Huân, anh Hồ Anh Thái, anh Trần Đăng Khoa, chị Phan Thị Vàng Anh , thì chắc chắn cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự.Vậy tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc các công trình nghiên cứu, sáng tác về cải cách ruộng đất, về cuộc chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn-pốt trên biên giới tây nam, trên đất Cam-pu-chia và giặc bành trướng trên biên giới phía bắc, trên biển Đông không được xuất bản và tái bản, thậm chí trong dịp kỷ niệm 30 năm các sự kiện lớn ấy cũng không một mẩu tin, một dòng thơ tưởng niệm các liệt sĩ trên báo Văn Nghệ ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc tác phẩm của đồng nghiệp mình bị cấm, bị nghiền ? Các anh chị là chủ tịch, phó chủ tịch, là ủy viên Ban chấp hành Hội, vậy thì Hội ta có còn là Hội yêu nước không, có còn là Hội yêu dân không, có còn là Hội yêu tự do không ? Câu trả lời của tôi là : Hội ta đã là và vẫn luôn luôn là Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, nhưng các anh các chị thì thực chất đã không đại diện cho lòng yêu dân yêu nước yêu tự do của toàn thể hội viên, mà chỉ là những công chức hành chính thực thi mệnh lệnh của một thế lực sợ sự thật dùng bạo quyền bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tự do ngôn luận của các nhà văn trung thực. Tuy vậy, tôi tin rằng về mặt cá nhân, các anh chị vẫn luôn là nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do như tất cả mọi hội viên, nhưng về mặt tổ chức, khi ngồi vào chiếc ghế chức quyền thì các anh chị lại phải tự hủy cái tư cách yêu dân yêu nước yêu tự do ấy đi. Nếu không tự hủy thì tại sao lại im lặng ?

Vậy là chúng ta thấy hiện ra một sự thật hết sức đau lòng : từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc trước 1945 đến Hội nhà văn hiện nay là một quá trình thoái hóa khủng khiếp về tổ chức, càng phát triển số lượng thì chất lượng càng đi xuống thảm hại; sự thoái hóa về tổ chức làm thoái hóa con người, những nhà văn cách mạng tiêu biểu nhất như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…cuối đời cũng phải tự buộc mình trải lòng lên trang giấy thổ lộ phần nào sự tha hóa của bản thân;  Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất” , Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay” : “Người tôi còn nhiều bùn tanh/Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/Nhiều dây nhợ tự buộc mình(đã in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi trước khi ông mất ít tháng, NXB Văn Học, 2001). Đau xót quá. Những tài năng trác việt, những tâm hồn trong sáng, những trí tuệ sắc sảo từ tuổi thanh xuân phơi phới đi vào Cách mạng để xây dựng “Một nền văn hóa mới” với một đội ngũ những nhà văn kiểu mới, Nhà văn – Chiến sĩ, lại tha hóa thành những con người như thế, là một thất bại lớn về văn hóa, về xây dựng Hội phải không các anh, chị ? Đã đành con người ta không ai toàn vẹn cả, nhưng vấn đề ở đây là sự thoái hóa của tổ chức làm thoái hóa con người, từ tổ chức của các nhà văn – chiến sĩ thành tổ chức của các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức với phần khá đông là các nhà văn yêu thẻ và số ít các nhà văn yêu ghế, số yêu ghế dựa vào số yêu thẻ để giữ ghế và xin tiền nhà nước ; tức tiền thuế của dân bồi dưỡng để các nhà văn nâng cao sức chiến đấu cho Tự do nhưng lại biến thành thứ bổng lộc ban phát nhằm  đổi lấy sự im lặng trước những sự thật mà cái thế lực sợ sự thật trong giới cầm quyền muốn bưng bít.Chúng ta không thể để kéo dài mãi kiểu tổ chức như thế này nữa. Lâu nay có không ít hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định theo đuổi con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập, cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt.Đấy là một cách lựa chọn, nhưng cách này có một cái gay là tự mình làm ngơ trước tình trạng gương mặt tử tế của mình bị một số quan chức văn chương mượn làm bình phong, làm mặt nạ để thực hiện các mưu đồ vị kỷ của họ.

Rõ ràng Hội ta đang đứng trước một yêu cầu bức bách là phải đổi mới căn bản về tổ chức.Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội dung hàng đầu trong nghị trình đại hội 8 của Hội ta.Xin mạn phép nêu ra một gợi ý đổi mới, trước hết là xác định lại tính chất của Hội như sau :

Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do.Các nhà văn trong Hội – là những cá nhân với tư duy độc lập tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và công chúng về tư tưởng và ngôn luận của mình -  tự nguyện tập hợp để giúp nhau phấn đấu tạo nên những tác phẩm giá trị nhất trong khả năng mình có, và bảo vệ, bênh vực, cưu mang nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn vì ngòi bút.Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi, tự quản đồng thời hoan nghênh sự hỗ trợ vô tư công khai minh bạch không điều kiện của Nhà nước và công chúng.

(Tiếp theo dưới đây là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đai hội)

Hội Nhà văn của chúng ta bấy lâu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.Nay nếu chúng ta chuyển thành tổ chức xã hội nghề nghiệp, không để là tổ chức chính trị nữa thì có mấy cái lợi cho sự phát triển chung :

Thứ nhất, với nhiệm vụ chống thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh, với tư cách là tổ chức xã hội nghệ nghiệp, một tổ chức bình thường trong xã hội dân sự của các nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, chúng ta hoàn toàn chủ động bày tỏ lòng yêu nước mà không ảnh hưởng gì đến ứng xử đối ngoại lúc mềm dẻo lúc cứng rắn của nhà nước.

Thứ hai, khi chúng ta không phải là tổ chức chính trị, chúng ta mới thực sự chủ động thực hiện được chủ trương tôn trọng các chính kiến, các ý kiến khác biệt, thực sự mở rộng mặt trận văn hóa văn nghệ của tất cả mọi nhà văn Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, vì tự do của mỗi con người Việt Nam, vì sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới.

Thứ ba, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở đây được xác định rành mạch là tổ chức của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do, các nhà văn thuộc hội này không đặt hội mình là tổ chức chính trị nhưng cái phẩm chất chính trị KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT trong con người từng nhà văn thì không những không mảy may bị xói mòn, mai một (như thường thấy ở các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức), mà ngày càng vững vàng hơn, tích cực hơn, chủ động hơn, bởi đó là phẩm chất chính trị quyện chặt với lý tưởng xã hội lý tưởng thẩm mỹ từ trong máu thịt được thử thách cả một đời.

Hội sẽ hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản. Đây chính là chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng đề ra từ đại hội 6.Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể, nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc tự quản của các đoàn thể.Khi chuyển sang Hội tự nuôi tự quản, chúng ta sẽ đỡ cho nhà nước một khoản chi phí lấy từ tiền thuế của dân tính cả trụ sở phương tiện là rất lớn. Nếu Hội không chuyển sang hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản mà cứ tiếp tục là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước như cũ thì nên tách Hội ra làm hai, một hội là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước, một hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản…

(Nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng vụ văn học ban Tuyên giáo trung ương từ dưới hàng ghế đầu nói chen một cách thân tình : “Tự nuôi thì chết đói ông Quốc ạ”). Không chết đói được đâu ông Cuông ơi, mà chết đói tôi cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là tôi được như ông Nguyễn Hiến Lê ở Sài Gòn trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản tự đem bán, chi phí thấp thu nhập cao, ông Đốt-xtôi-ép-xki ở Nga dưới chế độ Sa Hoàng cực kỳ hà khắc đi tù về vẫn được ra báo, mở nhà xuất bản, ông viết và in ngay những chuyện đã trải      trong tù. Nghị quyết 23 ghi rõ đảm bảo tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, vậy đảm bảo bằng cách nào nếu không phải là thực hiện nguyên tắc tự do sáng tác gắn liền với tự do công bố (nếu không thì chỉ là tự do sáng tác cất vào ngăn kéo à ?), tôi đòi tôi phải được như bà con nông dân làm ra cân thóc được tự do đem bán, nếu thóc có chứa độc tố thì phải ra tòa, tôi cũng đòi được tự xuất bản quyển sách mình viết ra và tự đem bán, nếu sách tôi có độc tố thì tôi ra tòa, nếu sách tôi được nhiều người mua thì tôi sống khỏe, đủ để nuôi mình và góp phần nuôi Hội, nếu sách tôi bị người đọc vứt vào sọt rác thì tôi cũng cam chịu. Nhưng tôi tin rằng trong số hơn 900 hội viên của Hội ta hiên nay, ít nhất cũng có 100 nhà văn thích chọn mô hình Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản, trụ sở Hội chỉ cần 1 ngôi nhà nhỏ, hội viên góp tiền nhau mà thuê hoặc hội viên nào có nhà rộng thì cho Hội mượn. Vâng, nếu thực sự vì dân vì nước thì hãy làm như thế đi, hai Hội nhà văn, một Hội xin tiền nhà nước, một Hội tự nuôi tự quản, hai Hội đối sánh xem Hội nào có thành tựu văn học cao mà chi phí thấp thì tự thân Hội đó có sức sống và phát triển, đây chính là con đường xây dựng phát triển Hội hợp quy luật.

Ý kiến tôi hôm nay có thể chỉ là nói lên tiếng nói của thiểu số nhưng tôi tin chắc rằng nhất định sẽ được nhân dân hoan nghênh và đồng nghiệp đồng tình ngày càng rộng rãi.

(Vào cuối phiên thảo luận buổi sáng, nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội lên diễn đàn có ý kiến lại với nhà thơ hội viên Bùi Minh Quốc, rồi nhà thơ Bùi Minh Quốc lại lên diễn đàn đáp lại các “ý kiến lại” của chủ tịch Hữu Thỉnh.Tôi, Bùi Minh Quốc, xin văn bản hóa phần trao đổi ý kiến qua lại này thành cuộc đối thoại theo từng vấn đề như sau) :

HỮU THỈNH : Về việc lên tiếng về Hoàng Sa Trường Sa, tôi đã nghe anh Quốc nói nhiều lần, tôi cũng đã báo cáo cấp trên nhưng cấp trên bảo Hội Nhà văn không lên tiếng.

BÙI MINH QUỐC : À, ra thế…

HỮU THỈNH : Cái vụ “Chuyện kể năm 2000”, tôi là người bênh vực anh Bùi Ngọc Tấn, nghe tin tôi vội chạy lên thì người ta đã ký lệnh nghiền mất rồi, tôi xuống ngay Hải Phòng gặp anh Tấn, anh Tấn đề nghị để tớ đi thăm Trung Quốc, tôi ủng hộ ngay mặc dù về thủ tục rất khó vì danh sách đoàn đi đã xong xuôi rồi chỉ còn 6 ngày nữa là đi, nhưng tôi đã cố gắng giải quyết tốt.

Cũng như với anh Hữu Loan, anh ấy có bị giam lỏng đâu, anh ấy tự ý bỏ biên chế về quê đấy chứ, thế nhưng anh Quốc không biết chứ, tôi và anh Nguyễn Hoa đã phải cố gắng như thế nào để làm lương cho anh Hữu Loan, lương chuyên viên đấy, kết quả là anh ấy được truy lĩnh lớn đấy.

Rồi việc giải thưởng nhà nước, chính tôi đã đề nghị anh Hữu Loan phải được trao giải cùng với các anh Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán nhưng giải này phải Chủ tịch nước ký, ở trên có người nhất định không đồng ý trao giải cho anh Hữu Loan.

Cũng như đối với anh Bùi Minh Quốc, khi in kỷ yếu Hội Nhà văn, nhiều người, có cả những ủy viên trung ương yêu cầu phải gạch tên Bùi Minh Quốc, Trần Độ, tôi không chịu, sách đã in rồi, anh em bảo lấy giấy dán chỗ ấy lại, tôi bảo cứ để nguyên.

Cũng như cái việc anh Quốc bị quản chế, vì những lý do ngoài văn chương, tôi đã xin cho anh giảm được thời hạn mấy chục ngày, anh có biết đâu, nói chung là anh Quốc thiếu thông tin…

BÙI MINH QUỐC : Đúng là tôi thiếu thông tin về các việc ấy vì các anh có thông tin cho tôi đâu, nhưng điều quan trọng nhất, việc quản chế tôi là phi lý, giảm được có 19 ngày, mà cũng vì sắp Tết rồi, hết hạn đúng ngày mùng 1 Tết, tôi đã sẵn sàng chấp nhận đúng ngày mùng 1 Tết lên phường làm thủ tục kết thúc quản chế kia mà. Vấn đề tôi yêu cầu là Ban chấp hành Hội phải thực hiện trách nhiệm của mình, phải xông vào tìm hiểu đầu đuôi vì sao tôi bị quản chế, việc này đúng hay sai và Hội phải có tiếng nói.

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc góp ý thì cứ góp ý nhưng sao lại nặng lời xúc phạm nhau, anh bảo chúng tôi mạo danh hội viên để mưu đồ vị kỷ theo lệnh của một thế lực nào đó, làm gì có thế lực nào, chúng tôi là do hội viên bầu lên, chúng tôi làm việc theo chính danh sao lại bảo là chúng tôi mạo danh mưu đồ vị kỷ, anh Quốc không được xúc phạm chúng tôi như thế.

BÙI MINH QUỐC : Anh Thỉnh nên đọc kỹ lại câu tôi viết trong bài phát biểu tôi vừa trao cho thư ký đoàn đại hội, đây là tôi nói về việc có tình hình nhiều hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội. Họ ra bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt, đấy, ra khỏi Hội mà không tuyên bố công khai dứt khoát. Họ chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt Hội thì tất nhiên các quan chức làm việc Hội nhân danh Hội là nhân danh cả những hội viên bỏ sinh hoạt một cách lặng lẽ đó, và lấy gì đảm bảo trong các quan chức ấy không có người nào không mưu đồ vị kỷ, bản kiểm điểm của Ban chấp hành chẳng đã nêu có ủy viên Ban chấp hành mấy năm không làm việc Hội đó sao, vậy tôi nói thế thì có gì là xúc phạm ?

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc từng tham gia chiến đấu thì tôi cũng có quá trình chiến đấu vào sinh ra tử, mà anh Quốc lại cứ cố ý ráo riết đòi bỏ cái tổ chức chính trị, sao lại bỏ chính trị đi, chính trị của chúng ta là chính trị yêu thương con người, anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta…

BÙI MINH QUỐC : Chính trị yêu thương con người thì trước hết phải yêu thương những người bị áp bức, yêu thương các ngư dân của ta, và với các nhà văn chiến sĩ yêu thương con người thì trước hết phải chiến đấu cho tự do, tự do là giá trị cao quý nhất của mỗi con người.

Tôi yêu cầu các ý kiến của anh Hữu Thỉnh và của tôi phải đăng lên báo Văn Nghệ để chúng ta cùng tiếp tục thảo luận, các ý kiến của chúng ta chẳng có gì là bí mật cả, nên tôi yêu cầu báo Văn Nghệ có trách nhiệm phải đăng.

Bùi Minh Quốc

Đà Lạt 20.06.2010

(Đã gửi báo Văn Nghệ, báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam, báo điện tử Văn Nghệ Sông Cửu Long, đang chờ đăng)

http://www.trannhuong.com/news_detail/5186/C%E1%BA%A6N-D%E1%BB%A8T-KHO%C3%81T-%C4%90%E1%BB%94I-M%E1%BB%9AI-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-H%E1%BB%98I

Đường sắt cao tốc: Khi bỏ phiếu thăm dò thì có 57% đồng ý, khi bỏ phiếu thì chỉ 37% tán thành. Có lẽ mấu chốt là bỏ phiếu thì KÍN còn thăm dò thì HỞ (20% CHÚ CHẾT KHIẾP VÌ "HỞ" ĐẤY)

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

GS CHU HẢO SUY NGHĨ VỀ TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM

I. Trí thức và tầng lớp trí thức

Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng “thế nào là một trí thức?” thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận rất nghiêm túc và lý thú, có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển. Để đi đến đồng thuận chắc cần phải có thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ xin đặt vấn đề và gợi mở, mong các bạn đọc cùng chia sẻ.

Ai là trí thức? Đã từ lâu, ở nước ta tồn tại một khái niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức, chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” viết năm 1947 Hồ Chủ tịch đã dùng định nghĩa này. Theo chỗ tôi hiểu thì Người đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách hết sức đơn giản, dễ hiểu, thích hợp với trình độ dân trí của nước ta thời đó. Ngày nay, chúng ta không nên quá câu nệ vào việc giữ nguyên định nghĩa này của Bác Hồ.

Thật ra ngay từ khi từ “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, và sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau công xã Paris (1871), đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng: đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người: “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” là những bất cập của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn.

Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau: 1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Trong đó, hai điểm đầu tiên là chung cho những người lao động trí óc. Còn hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng lớp trí thức.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!

Cái cơ hội “đổi đời” dường như duy nhất ấy đã tạo ra, một mặt là cái mà chúng ta vẫn thường tự ca ngợi là truyền thống hiếu học của dân ta, mặt khác, quan trọng hơn đã tạo nên sự lệ thuộc đến nô dịch của những người “có học” vào Nhà nước phong kiến. Và do đó, có thể nói rằng dưới các triều đại phong kiến ở nước ta chưa bao giờ tồn tại một tầng lớp trí thức theo cách hiểu đúng đắn của từ này. Các sĩ phu là những người “có học” có danh tiếng của các thời đại phong kiến, do vậy hầu hết cũng chỉ là các “quan văn” mang sứ mệnh “phò chính thống” mà thôi - họ không hẳn là người trí thức, hoặc tầng lớp trí thức, như cách hiểu thông thường.

Đến giữa thế kỷ 19 cùng với sự suy đồi của triều Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh công nghiệp phương tây, tầng lớp Nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc và xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến bộ có đầu óc canh tân - tiền thân của nhóm trí thức đầu tiên của nước ta nửa đầu thế kỷ 20. Những nhân vật điển hình có thể kể đến là Vũ Tông Phan (1800 - 1851, cùng với Hội Hướng thiện); Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871); Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895); Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890); Phạm Phú Thứ (1820 - 1883) v.v... Đó chính là những sĩ phu có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dù là theo đường lối bạo lực, như các phong trào Cần Vương (Phan Đình Phùng, 1844 - 1895), và Đông Du (Phan Bội Châu, 1867 - 1940); hay chủ trương tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa - giáo dục như phong trào Duy Tân (Phan Châu Trinh, 1872 - 1920), và Đông Kinh nghĩa thục (Lương Văn Can, 1854 - 1927).

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự tàn lụi của chế độ phong kiến và sự thiết lập chế độ của thực dân, ảnh hưởng của tư tưởng Dân chủ tư sản và khoa học - kỹ thuật phương tây đã tràn vào xã hội Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Hoa. Trong bối cảnh đó phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục đã quy tụ được một tầng lớp sĩ phu trí thức bao gồm các nho sĩ cách tân (Huỳnh Thúc Kháng, 1876 - 1947; Trần Quý Cáp, 1870 - 1908; Đào Nguyên Phổ, 1861 - 1907 v.v...), và các trí thức mới dùng quốc ngữ và tiếng Pháp (Trương Vĩnh Ký, 1837 - 1898; Phan Khôi, 1887 - 1960; Nguyễn Văn Vĩnh, 1882 - 1936; Phạm Quỳnh, 1892 - 1945; Nguyễn Văn Tố, 1889 - 1947 v.v...). Đây chính là tầng lớp trí thức đầu tiên của nước ta.

Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra cho một số người điều kiện có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền, có thể sống bằng nghề lao động trí óc của mình chứ không nhất thiết phải ra “làm quan”, và tiếng nói của họ càng ngày càng có uy tín trong xã hội. Họ phần đông là người hành nghề tự do như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, nhạc sĩ, và nghệ sĩ... Những phần tử ưu tú trong số đó chính là tầng lớp trí thức mới, và nhiều người đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt động công khai. Đó là các hội, chẳng hạn Trí Tri, Khai trí Tiến đức, Truyền bá Quốc ngữ và Tự lực Văn đoàn v.v... Là các báo hoặc tạp chí, chẳng hạn Đông Dương, Nam Phong, Tiếng Dân, Tri Tân, Thanh Nghị, Khoa học v.v... Tình trạng này đã tiếp diễn cho đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được tầng lớp trí thức ấy tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ của mình. Những nhân vật tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hòe... (xuất thân từ các sĩ phu Nho học); Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên.... (xuất thân từ tầng lớp trí thức “Tây học”) đã và sẽ luôn là tấm guơng mẫu mực về phẩm tính cao quý của người tri thức.

Tiếc rằng từ đầu những năm 50 của đầu thế kỷ trước, ngay khi còn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tầng lớp trí thức của chúng ta với những nhân cách văn hoá đẹp đẽ ấy, lại rơi vào một thời kỳ phát triển đặc biệt mà chắc còn cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách nghiêm túc sự tồn tại và vai trò của họ trong xã hội. Thời kỳ phát triển đặc biệt này có thể phân kỳ thành ba giai đoạn 1945 - 1950 là thời kỳ cách mạng và kháng chiến nhưng hết sức “lãng mạn” của tầng lớp trí thức yêu nước, 1950 - 1965 là thời kỳ du nhập một cách hoàn chỉnh ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Maoist vào Việt Nam, qua các phong trào chính huấn tư tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, phê phán nhân văn gia phẩm và chống “xét lại”; 1965 - 1975 là thời chiến mọi nhu cầu tinh thần và các giá trị văn hóa đều hướng vào mục tiêu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước; 1976 - 1986 là thời kỳ quan liêu bao cấp, đặc biệt là về mặt tư tưởng; 1986 cho đến nay là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn trên đây đều có hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội khá đặc biệt đối với sinh hoạt tinh thần - tư tưởng của tầng lớp có học.

Sau giai đoạn giao thời 1945 - 1950, có lẽ tầng lớp trí thức trước cách mạng đã không tồn tại nữa. Từ năm 1950 trở đi tầng lớp có học ngày càng đông; các cá nhân trí thức thì lúc nào cũng tồn tại, có lúc hết sức hiếm hoi như giai đoạn 1950 - 1965; nhưng tầng lớp trí thức thì không tồn tại, ít nhất là cho đến trước đổi mới (1986). Từ năm 1986 đến nay tầng lớp có học có bằng cấp cao ngày càng đông nhưng phẩm tính tri thức thì chỉ thấy ở những cá nhân lẻ tẻ. Những cá nhân này ngày càng đông cùng với quá trình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt xã hội, nhưng điều kiện để cho họ tự liên kết lại thành một tầng lớp có vị trí xác định trong xã hội dân sự thì chưa đủ.

Cần phải có những nghiên cứu nghiêm chỉnh về tầng lớp “có học” từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay để có được bức tranh hoàn chỉnh về trí thức Việt Nam từ khi có độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Muốn vậy ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến động về số lượng và tính chất hoạt động của những người có học vấn nói chung, cần phải nghiên cứu hồ sơ của những trí thức tiêu biểu qua từng thời kỳ. Hồ sơ của những người như: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Nguyễn Đình Thi... cũng như của Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường... sẽ nói lên được rất nhiều điều đáng quan tâm.

Vì chưa có điều kiện tìm hiểu một cách có hệ thống nên ở đây chúng tôi đã không đề cập đến tầng lớp trí thức (hoặc “có học ”) ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975.

II. Phẩm tính “trí thức” Việt Nam

Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách chung là: Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ; Độc lập tư duy; Hoài nghi lành mạnh; và Tự do sáng tạo. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân tộc cũng có bản sắc riêng. Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã, v.v... Vậy trí thức Việt Nam có đặc điểm gì? Chúng ta đã từng nghe nói đến tính cách “phò chính thống”; và tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tuỳ thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội” hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định. Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới “trí thức” Việt Nam chính là ở chỗ này!

Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Bởi lẽ, còn có một thực tế khác nữa cần phải xem xét. Đó là tính cách uyển chuyển, kết hợp “hành” và “tàng” của sĩ phu - trí thức nước nhà. Điều kiện cho phép thì bung ra hoạt động; lúc khó khăn thì tạm ẩn dật chờ thời, có khi “tàng” ngay trong lòng cường quyền với tâm trạng “cấp lưu, dũng thoái” (trước dòng nước xiết, can đảm thoái lui). Thế nhưng ranh giới giữa thái độ đúng đắn này với cái sự hèn thật là mong manh; chỉ “tự mình, mình biết cho mình” chứ khó lòng mà phán xét từ phía ngoài. Vậy thực sự trí thức Việt Nam có phẩm tính gì?

Phẩm tính cao quý nhất của người trí thức là Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ, không bị gò bó bởi ý thức hệ, dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, không khuất phục trước uy quyền và không bị tha hóa bởi danh lợi. Nếu trong một xã hội có nhiều người có học vấn cao đồng thời có những phẩm tính như vậy lại liên kết được với nhau (chủ yếu bằng diễn đàn và giao lưu tư tưởng chứ không phải bằng các hội đoàn) thành một tầng lớp, thì đấy là một xã hội dân sự lành mạnh, có nhiều tiềm năng phát triển.

Tạm gác sang một bên khái niệm “tầng lớp trí thức” như cần được làm rõ ở mục I., chúng ta hãy xem xét tầng lớp những người “có học” trong giai đoạn hiện nay phù hợp với đối tượng điều chỉnh của NQTW7 khóa 10, mà từ những năm 60 thế kỷ trước được Đảng và Nhà nước coi là “ tầng lớp Trí thức XHCN ”. Trước Cách mạng tháng Tám, tầng lớp “có học”, như được xã hội đương thời công nhận, có thể bao gồm những người có học vấn từ trung học, thâm chí tiểu học, trở lên. Ngày nay, những người có bằng cấp từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp “trí thức ”. Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp. Lực lượng này cũng được tập hợp trong một số Hội hoặc Liên hiệp hội như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam...

Những nét đặc trưng của “ tầng lớp trí thức XHCN ” này là gì? Ngoài những đặc tính được Đảng và Nhà nước và phần nào là xã hội thừa nhận là ưu điểm, là tích cực như: Yêu Tổ quốc và CNXH; Trung thành với Đảng và Nhân dân; Cần cù, thông minh,sáng tạo; Không ngại khó khăn gian khổ... thì những tiêu cực không thể phủ nhận được là hết sức điển hình. Đó là:

1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.
2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử.
3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng.
4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha.

Tất cả những mặt tiêu cực điển hình của tầng lớp có học nói trên đều xuất phát từ một nguyên nhân chính là sự mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng, trước hết trong nội bộ Đảng, rồi từ đó trong toàn xã hội. Sự mất dân chủ này đã bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, sau chiến dịch Biên giới, khi ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn vào Việt Nam theo con đường chính thống, được một bộ phận chủ chốt của Đảng tiếp thu và áp dụng một cách rốt ráo cho đến tận trước Đại hội VI.

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, phát huy dân chủ và tự do tư tưởng đã được Đảng đề xướng (qua chủ trương “cởi trói” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và được toàn dân hân hoan đón nhận, nhất là tầng lớp “có học”, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ “được cởi trói”. Nhưng tiếc rằng chỉ ít năm sau đó không khí dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng dần dần bị loãng hẳn đi cho đến trước Đại hội 10. Khi Đảng chủ trương lấy ý kiến của quần chúng đóng góp cho văn kiện Đại hội 10, bầu không khí dân chủ lại đuợc thổi vào một luồng sinh khí mới từ nhân dân. Tiếc rằng ngay sau Đại hội 10 cho đến nay, càng ngày càng có những biểu hiện đáng lo ngại về thực chất của nền dân chủ của chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ trong việc quản lý các hoạt động báo chí và xuất bản gần đây.

Báo chí và xuất bản là mặt tiền, là thước đo của mỗi nền dân chủ. Chúng ta muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản dân chủ và công bằng. Sách và báo chí còn là vật mang, là phương tiện trường tồn của các nền văn hóa. Chúng ta muốn có một nền văn hóa tiên tiến, thấm đượm bản sắc dân tộc thì một lần nữa, trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản tiên tiến và nhân bản. Những nhiệm vụ nặng nề ấy không phải của riêng ai mà của tất cả: Nhà nước, cộng đồng người viết và cộng đồng người đọc.

III. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tầng lớp trí thức ở Việt Nam

1.Các bài học lịch sử.

Khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào đào tận gốc, trốc tận dễ”, nghe nói có từ thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng hình như không có văn bản nào chứng tỏ đó là chủ trương chính thức của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau Đại hội lần thứ 2, nói chung khẩu hiệu này đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trừ một số trường hợp được chính phủ Cụ Hồ trọng dụng, nâng đỡ ngay từ đầu hoặc có hoàn cảnh đặc biệt mà cách mạng không thể bỏ qua. Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chúng ta đã trả giá đến tận ngày nay cho thái độ kỳ thị của cách mạng đối với các tầng lớp trí thức, công thương gia và địa chủ.

Thái độ kỳ thị này cũng giống hệt như thái độ của những người cộng sản Nga từ sau Cách mạng tháng 10 đối với tầng lớp trí thức của nước họ. Ngay sau Cách mạng tháng 10, hàng ngàn gia đình trí thức Nga đã buộc phải lưu vong ra nước ngoài. Số còn lại hầu hết đã trở thành đối tượng của cách mạng và dần dần không còn tồn tại như một tầng lớp xã hội nữa: Số muốn giữ nhân cách trí thức thì bị đàn áp không những về mặt tư tưởng mà thậm chí bị tù tội ở các khu cải tạo; số khác tự đánh mất mình bằng thái độ “chùm chăn” hoặc cơ hội chính trị. Trong cuốn sách “Về trí thức Nga” (ở mục Tài liệu tham khảo) các tác giả cũng phân tích khá sâu sắc sự hình thành về phẩm chất và thái độ chính trị của tầng lớp có học (mà có người gọi là “trí thức nửa mùa”) trong suốt thời kỳ Xô Viết cũ. Họ chỉ ra rằng nhà nước Xô Viết cũ đã thực hiện chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” để không còn tồn tại tầng lớp tinh hoa - tầng lớp trí thức không đáng tin cậy dưới con mắt của tầng lớp lãnh đạo. Một số nhỏ cá nhân trí thức tiêu biểu đã chỉ được sử dụng như những bông hoa làm cảnh cho chế độ mà thôi!

Tình trạng này không khác mấy so với các biến cố đã xảy ra ở Trung Quốc đối với tầng lớp trí thức, nhất là trong cuộc cách mạng văn hóa hồi những năm 60 và cuộc vận động dân chủ hồi cuối những năm 80. Tầng lớp trí thức ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng như vậy, cũng hầu như tan rã sau những biến cố thăng trầm.

Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao tất cả các nước theo xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đều có một kết cục như nhau đối với tầng lớp trí thức như vậy? Câu trả lời có thể là: Vì trong tất cả các nước ấy đã không thực sự có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Tình trạng đó đã bắt đầu từ khi Lê Nin áp dụng nguyên tắc Tập trung Dân chủ trong Đảng Cộng sản Nga trước và sau Cách mạng tháng 10 và trở thành truyền thống của các Đảng Cộng sản. Thay vì Dân chủ Tập trung, tức là trước hết phải thực hành Dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau kể cả khi tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưói phục tùng cấp trên v.v... các Đảng Cộng sản đã áp dụng nguyên tắc Tập trung là chủ yếu, Dân chủ chỉ là thêm vào. Sau khi nắm chính quyền, nguyên tắc Tập trung Dân chủ sai lầm này lại được áp dụng trong toàn bộ máy Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cơ chế mất dân chủ này đã xiết chặt cái “vòng kim cô” mất lập trường giai cấp và chệch hướng XHCN lên toàn bộ sinh hoạt tinh thần - tư tưởng trong nội bộ Đảng và toàn xã hội ở tất cả các nước đã áp dụng mô hình chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết.

Cơ chế mất dân chủ với cái “vòng kim cô” ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước ta đặc biệt từ khi giải phóng miền Nam: Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn chưa quy tụ về một cõi, khối đại đoàn kết dân tộc không được như chúng ta mong muốn, nhiều khi không có sự đồng thuận xã hội trong những vấn đề quan trọng của đất nước.

2. Quan điểm và định hướng

Trong quan điểm và định hướng nhất thiết chúng ta phải khẳng định rằng: Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức đã nêu rõ. Muốn vậy, điều cốt lõi là phải thực hành nghiêm chỉnh chế độ dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng.

Phát huy dân chủ phải được đặt trên nền tảng mục đích chung của dân tộc là xây dựng một quốc gia “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Mục đích chung ấy là quyền lợi của dân tộc, phải được đặt lên trên hết, trên mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ và mọi lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau.
Dân chủ không phải là sản phẩm chỉ của phương Tây (dù là Hy Lạp cổ đại hay Tây Âu và Bắc Mỹ hiện đại) mà là sản phẩm của cả nhân loại, trong đó có phương Đông. Phật giáo hết sức đề cao Đối thoại và Khoan dung, là cốt lõi sâu xa của Dân chủ. Dân chủ là một chế độ, trong đó mọi công dân thực có quyền được nhận xét, phê phán và chất vấn trực tiếp các cấp lãnh đạo (ở nước ta là của Đảng và của Nhà nước). Đúng như lời của Nelson Mandela nói: “Bất cứ ai muốn phát biểu có thể được nói. Đó là Dân chủ trong hình thức thuần tuý nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng dẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người này với người kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thày thuốc, buôn bán hay nông dân, đại chủ hay tá điền, người nào cũng được nói... chính đó là nền tảng của Dân chủ: Tất cả mọi người đều được tự do phát biểu ý kiến của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân ”.

Định hướng quan trọng nhất mà chúng ta cần là phải làm rõ nội dung công thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay cũng vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đằng làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo quyền Dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do Dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử, căn cứ vào những quan điểm và định hướng kể trên, để nâng cao chất lượng thực hành Dân chủ đối với đội ngũ trí thức (hay là “có học” như nói ở trên) cần thiết phải có các giải pháp sau đây:

3.1. Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trên thực tế Đảng lãnh đạo và chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội. Nếu trong Đảng mà không thực sự có Dân chủ thì ngoài xã hội không thể có Dân chủ.

Trước hết trong Đảng phải thực sự tôn trọng nguyên tắc Dân chủ Tập trung chứ không phải Tập trung Dân chủ. Đại hội đại biểu của Đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, sau đó đến Ban chấp hành Trung ương, rồi mới tới Bộ Chính trị. Nguyên tắc này lâu nay bị vi phạm, thường là Bộ Chính trị có quyền hạn tuyệt đối không những trong nội bộ Đảng, mà còn đối với mọi vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước mà lẽ ra phải là trách nhiệm của Quốc hội.

Trong nội bộ Đảng, mọi Đảng viên nên đều phải được phát biểu và bảo vệ chính kiến của mình song song với nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cần phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để ý kiến của thiểu số được thảo luận một cách công khai và bình đẳng.

Cơ chế dân chủ trực tiếp cần phải được phát huy tối đa trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Việc bổ nhiệm Đảng viên vào các vị trí lãnh đạo trong hệ thống Nhà nước phải được tiến hành một cách dân chủ hơn. Không áp đặt tiêu chuẩn cấp uỷ Đảng vào tiêu chuẩn lãnh đạo các cấp nhà nước. Một vị trí lãnh đạo nhà nước có thể tiến cử hai Đảng viên có ý kiến khác nhau về chủ trương về cách thực hiện để Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước lựa chọn, v.v....

Chỉ trong những điều kiện tối thiểu như trên thì tầng lớp trí thực thực thụ của nước ta mới có thể tự hình thành và phát triển một cách lành mạnh được.

3.2. Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh.

Trong điều kiện chế độ chính trị có một Đảng lãnh đạo, những khiếm khuyết do chế độ toàn trị gây ra có thể được khắc phục, điều chỉnh một cách hữu hiệu bằng xã hội dân sự. Xã hội dân sự lành mạnh là đối trọng, chứ không phải là đối lập với Nhà nước. Sự đồng thuận xã hội được giải quyết chủ yếu thông qua xã hội dân sự .
Trước mắt phải xây dựng được một Luật về Hội. Các hội nghề nghiệp và quần chúng là thành phần quan trọng nhất của xã hội dân sự. Quyền tự do thành lập Hội được ghi trong Hiến pháp phải được thể hiện đầy đủ trong Luật về Hội.

Chỉ trong một xã hôi dân sự lành mạnh như vậy tầng lớp trí thức mới phát huy được phẩm tính trí thức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.3. Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân như được ghi trong Hiến pháp.

Tự do ngôn luận là quyền được bình đẳng phát biểu công khai ý kiến của mỗi công dân. Đó là cốt lõi của Dân chủ, không có tự do ngôn luận thì không thể dân chủ.

Báo chí và xuất bản sách là công cụ chủ yếu để thực hiện tự do ngôn luận. Luật về Báo chí và Xuất bản cần được cải thiện hơn nữa, hướng tới chấp nhận nền báo chí và xuất bản tư nhân và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm về các ấn phẩm của mình.

Không có tự do ngôn luận thì những người “có học” chỉ có thể là những người là những người lao động trí óc ( thậm chí rất giỏi ) nhưng không thể trở thành một tầng lớp trí thức mà các xã hội văn minh coi là tinh hoa.
Hà Nội, tháng 6 năm 2010.


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, 1947.
2.N.M Voskpesenskaia và N.B Davletshina, Chế độ Dân chủ - Nhà nước và xã hội (Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
3.Nhiều tác giả (Nga), Về Trí thức Nga, (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
4.Việt Phương, Dân chủ, Tài liệu tham khảo cá nhân, Hà Nội, 9 - 2008.
5.Trần Hữu Dũng, Dân chủ và phát triển, Thời đại mới, Số 10 tháng 3 năm 2007.
6.Võ Văn Kiệt, “Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”, 2006.

Lúc nào cũng rất nhiều người tốt

Ngô Nhân Dụng


Tại sao báo chí hay đăng những tin xấu? Mở một tờ báo hàng ngày, ở Việt Nam cũng như ở Ấn Ðộ, ở xứ Mỹ hay xứ Nam Phi, thế nào chúng ta cũng thấy những bản tin về trộm cướp, giết người, đánh ghen (dù có người coi tin này không xấu), tự tử, ăn hối lộ, bầu cử gian lận, vân vân. Nhiều người đọc các tin tức đó cảm thấy bi quan, than rằng thế gian này toàn những chuyện đáng chán đời.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người có ý kiến ngược lại. Ngài cũng biết báo chí đăng toàn những tin xấu, nhưng thấy đó là một dấu hiệu tốt. Bởi vì người ta đọc báo cốt để thỏa mãn óc tò mò, muốn biết những chuyện lạ mà chung quanh mình hàng ngày không thấy. Những tin đăng trên báo là những chuyện hiếm có, lâu lâu mới thấy một lần. Báo đăng tin xấu vì đó là chuyện ít xảy ra; còn những chuyện bình thường, chuyện tốt lành, thì trên đời này rất nhiều, nhiều quá cho nên không ai đem đăng lên báo làm gì! Không phải ngày nào người ta cũng đánh ghen, bình thường nhân loại vẫn yêu nhau rất đúng tiêu chuẩn. Không phải ngày nào kẻ cướp cũng tấn công ngân hàng; ngược lại mỗi ngày bao nhiêu người đến “nhà băng” để gửi tiền và vay tiền! Tóm lại, theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thì thế gian này bình thường là một nơi rất tốt, báo chí đăng các tin xấu vì nó hiếm! Chúng ta cứ nên yêu đời, đừng vì phải đọc, phải nghe nhiều tin xấu xí trên báo, trên đài mà chán đời, rất dại dột!

Thí dụ như trên Nhật báo Người Việt này, tuần trước đăng bức hình kèm theo bản tin, cho thấy một cậu bé cùng với cha đang ôm một sợi dây cáp treo giữa trời, băng qua con sông Pô Kô ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum, Việt Nam. Một bức hình chụp rất đẹp. Hai nhân vật, một già một trẻ, người nào cũng bám chặt hai tay vào sợi dây cáp, nét mặt rất “khẩn trương!” Lửng lơ giữa khung cảnh núi rừng và con sông nước chảy cuồn cuộn, hai bố con đung đưa treo giữa không trung; đúng là một bức hình lạ, đáng đem dự thi nhiếp ảnh thế giới. Nếu đó là một cảnh làm xiếc, thì chúng ta coi xong sẽ vui vẻ cười, được một dịp giải trí, thư giãn tinh thần!

Tại sao đồng bào ta ở Ngọc Hồi, Kontum lại không gửi bức hình đó đi dự thi nhiếp ảnh?

Ðọc bản tin thì biết rằng đối với đồng bào huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum này, đây không phải là một vụ biểu diễn tài lạ. Cũng không phải chuyện hiếm hoi. Không đáng làm một bản tin về chiếc “Cầu dây cáp qua sông Pô Kô.” Nó không lạ như câu chuyện Cầu Sông Kwai! Vì hàng ngày, mọi người dân ở đây, già trẻ lớn bé đều qua sông bằng phương pháp đu dây làm xiếc đó. Ai muốn qua sông đều phải tập ôm bám sợi dây! Em bé trong hình mỗi ngày phải đi học, ngày nào em cũng phải biểu diễn trò xiệc “nghiệp dư!” Tội nghiệp em bé! Tội nghiệp các em học sinh ở vùng này! Tội nghiệp cha mẹ các em!

Nhà báo trong nước đăng bức hình lên, các báo ở nước ngoài in lại, từ trong ra ngoài một làn sóng phẫn nộ nổi lên. Tại sao “người ta” lại để cho các em học sinh phải đu dây qua sông mỗi ngày như vậy?

Trong thế giới bình thường, trong thế giới mà mọi người tôn trọng phẩm giá của mỗi con người, tôn trọng quyền sống của mỗi con người, ai cũng phẫn nộ khi thấy một con người bị đẩy vào cảnh sống khó khăn, cực khổ như vậy. Nhất là các trẻ em. Trong thế giới bình thường, một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi không chăm sóc, bị bỏ đói, bị giá rét, thì hàng xóm cũng tố cáo, chính quyền có thể đưa cha mẹ em đó ra tòa. Những người chịu trách nhiệm có thể bị tù, bị phạt, có khi mất quyền nuôi con. Trẻ em là những đóa hoa trong khu vườn nhân loại. Ai cũng thấy mình có bổn phận trông nom, bảo vệ các trẻ em. Chúng ta có thể noi gương Ðức Ðạt Lai Lạt Ma mà nhận xét: Tấm lòng phẫn nộ của mọi người khi trông thấy cảnh các trẻ em phải đu dây qua sông khi đi học, đó là một dấu hiệu tốt. Loài người, ở đâu, vào thời nào, vẫn có sẵn từ tâm, thương yêu các trẻ em.

Khi tin này được đưa lên báo chí, chúng ta lại thấy một tin vui nữa. Là ngoài phản ứng phẫn nộ trước cảnh các trẻ em phải đu dây qua sông đi học, người Việt khắp nơi còn một phản ứng thứ hai. Riêng trên báo Người Việt, rất nhiều độc giả đã viết thư xin địa chỉ để có thể giúp đỡ em học sinh trong hình. Không ai đang tâm nhìn một trẻ em chịu cực khổ mà không muốn giúp! Cũng như khi báo này đăng bức hình em học sinh bị tật phải đi bằng hai tay đến trường mỗi ngày, rất nhiều độc giả cũng xin địa chỉ để giúp em mua một cái xe lăn. Ðây là một chuyện xẩy ra rất nhiều lần đối với tòa báo. Mỗi bản tin về một người nghèo khổ, đặc biệt là người Việt nghèo khổ, thế nào cũng có nhiều độc giả viết thư xin địa chỉ để giúp đỡ. Nhiều lần như vậy, đến nỗi có độc giả tỏ ý hoài nghi! Có vị quá thương đã viết thư nói thẳng điều ngờ vực đó! Nhân tiện đây xin nói rõ: Nhật báo Người Việt không bao giờ đóng vai trung gian để nhận và chuyển những số tiền hay tặng vật giúp đỡ người nào hết. Nếu người nào muốn giúp ai, tờ báo sẽ cố tìm địa chỉ để người giúp và người nhận liên lạc trực tiếp với nhau. Một tờ báo không đóng vai một cơ quan từ thiện, mặc dù đất nước chúng ta đang cần rất nhiều cơ sở từ thiện của tư nhân. Nhưng đó là việc của tất cả mọi người, ai muốn làm việc thiện đều có thể lập ra những tổ chức trong xã hội công dân, ở nơi nào xã hội công dân được phép tự do phát triển. Ở đâu không được tự do thì không thiếu gì người “làm việc thiện chui” trong khi những người khác tránh đấu đòi tự do!

Chúng tôi thông cảm với những độc giả đa nghi. Chúng ta đã sống qua một thời gian chiến tranh rất dài, đã chứng kiến nhiều điều dối trá quá. Nhiều kẻ biết lợi dụng từ tâm, lợi dụng lòng yêu nước, hàng triệu người đã bị lừa. Có những người bị lừa mà chết, có người bị lừa tự đem thân bước vào vòng tù tội, kể ra không hết. Trong lòng con người ai cũng có sẵn óc nghi ngờ. Kinh nghiệm sống quá lâu trong một xã hội nhiều lừa dối khiến cái tâm sở đó càng phát triển mạnh hơn, thật đáng tiếc!

Ngay sau câu chuyện “Cầu đu dây qua sông Pô Kô” này, chúng ta lại phải chứng kiến một cảnh tượng cho thấy bây giờ, ở Việt Nam, vẫn còn những người nói dối một cách trâng tráo, nhơn nhơn, không biết xấu hổ! Khi được nhà báo phỏng vấn về trách nhiệm của chính quyền trong vụ này, bà bí thư tỉnh ủy Kontum, cũng là đại biểu Quốc Hội, đã phân trần rằng một tháng (một tháng!) sau khi bẩy chiếc cầu qua sông Pô Kô bị bão cuốn trôi, bà đã tổng hợp tin tức, “báo cáo trực tiếp” với ông thủ tướng. Bà Y Vêng nói bà được ông thủ tướng đồng ý, “từng bước lập dự án để triển khai, khắc phục hậu quả của cơn bão.” Sau đó, “chúng tôi đã chỉ đạo làm các dự án... làm một số cầu...” Ðây là một nhà nước nói rất hay, những chữ “báo cáo, triển khai, chỉ đạo, khắc phục hậu quả,” vân vân, đều có bài bản như nhau cả.

Nhưng cùng lúc đó, trong một phiên họp Quốc Hội, ông Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Hồ Nghĩa Dũng khi bị chất vấn lại “báo cáo” rằng ông “không hề được báo cáo” về câu chuyện “Chiếc cầu đu dây qua sông Pô Kô!” Vừa tỏ ý ngạc nhiên, chối biến không biết gì hết để trốn trách nhiệm, ông Hồ còn tỏ ra có óc hài hước nữa. Trước các đại biểu gật gù, ông lên tiêng khen ngợi hành động đu dây của đồng bào Ngọc Hồi! Ông nói đó là “một sáng tạo không ai ngờ tới!” Tuyệt vời! Chắc khi Ðảng áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin thì cũng sáng tạo kiểu đó!

Thiếu một điều là ông Hồ chưa đề nghị hãy giữ nguyên cái cầu dây đó, chụp hình, gửi dự thi sáng kiến của ngành giao thông vận tải nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản! Cả thế giới sẽ phải khâm phục! Tỉnh Kontum có thể biến nơi này thành một địa điểm du lịch, tuyển nhiều phụ nữ tới biểu diễn đu dây qua cầu!

Ông Hồ Nghĩa Dũng còn khoe rằng ông đã hỏi Sở Giao Thông tỉnh Kontum. Và họ “báo cáo” rằng họ không hề biết chuyện cây cầu đu dây làm xiệc này! Trời đất quỷ thần ơi! Ở trong tỉnh bị bão sập mất bảy cây cầu; dân túng quá phải đu dây qua sông, nhiều người đã rớt xuống sông, có người đã mất mạng! Vậy mà ông thủ trưởng Sở Giao Thông không hề biết! Câu chuyện này còn lạ lùng, đáng lên báo, lên đài, hơn câu chuyện chiếc cầu đu dây nữa! Chỉ có ở nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản mới có những chuyện lạ lùng như vậy!

Nhưng nếu ông Hồ Nghĩa Dũng nói đúng sự thật, thì ông cũng tố cáo bà Y Vêng là người nói dối. Bà khoe đã “tổng hợp nhanh” các tin tức về vụ này, rồi đem báo cáo lên ông thủ tướng. Vậy tại sao những người trách nhiệm về giao thông ngay trong tỉnh mà bà làm bí thư họ lại không biết? Tại sao ông bộ trưởng phụ trách ngành giao thông trong chính phủ cũng không biết?

Nếu bà Y Vêng nói sự thật, thì ông Hồ Nghĩa Dũng mới là người nói dối. Ông nói gà, bà nói vịt, một trong hai người phạm tội nói dối. Mà lại nói dối trước báo chí, trước Quốc Hội, tức là bày trò dối trá với cả nước!

Nhưng cuối cùng thì câu chuyện chiếc “Cầu đu dây qua sông Pô Kô” lại có hậu. Sau khi nhiều người Việt biết cảnh khổ của đồng bào huyện Ngọc Hồi, mối từ tâm khắp nơi được đánh thức dậy. Bao nhiêu người đã góp tiền để giúp đồng bào dựng lại một cây cầu chắc chắn hơn. Nhiều doanh nghiệp cũng đóng góp. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài cũng gửi tiền về góp. Cuối cùng, trong lòng dân tộc Việt Nam không lúc nào thiếu những mối từ tâm. Bây giờ chỉ còn lo làm sao khi cây cầu mới được dựng lên, đó là cầu cốt sắt chứ không phải cốt tre! Chỉ có các nhà báo, đặc biệt là các nhà báo tự do trên mạng mới hy vọng giúp đồng bào Kontum bảo đảm được điều này.

Nói vậy chứ báo chí cũng có lúc giúp chúng ta nhìn thấy những cảnh đẹp trong cuộc đời, không phải họ chỉ loan báo toàn tin xấu! Báo chí dưới hình thức mạng lưới còn bén nhạy hơn nữa. Vì số nhà báo tự do trên các mạng rất đông, mà những người tự do luôn luôn động mối từ tâm, dễ cảm động trước các các tin tốt đẹp, hay khi nhìn thấy từ tâm thể hiện. Cho nên trong mấy ngày qua “Dân Mạng” nô nức khen ngợi anh tài xế taxi Ðoàn Thanh Xuân đã đem trả lại hành khách cái túi đựng tiền, nhiều thứ ngoại tệ trị giá trên 26 ngàn Mỹ kim. Hành động này, như một dân mạng viết, “cho thấy trên thế giới vẫn còn rất nhiều người tốt!”

Nếu theo tinh thần của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, thì ta nên nói lại: “Trên thế giới lúc nào cũng rất nhiều người tốt!” Không một chủ nghĩa độc hại hay một chế độ gian trá nào có thể hủy diệt mất thiện tâm của loài người!

Những tù nhân của lợi ích trước mắt

Vương Trí Nhàn
(Theo blog Vương Trí Nhàn)


... Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại...

Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ. Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết(?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.

Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi nôm được. Tại sao có tình trạng đó? Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế. Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế!

Cài gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia. Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực. Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.

Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.

Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục.

Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Không ngại mang tiếng ác khẩu, có người còn bảo là suy đồi là vô phương cứu chữa. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm -- tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò -- so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại không dùng được.

Trừ người đã mất hết lý trí, tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi.

Nhưng thay đối thế nào bây giờ ? Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp? Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện ? Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của đi nữa. Ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước. Vâng, không thiếu gì cả. Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?

Và trước tiên, điều vướng mắc nhât, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục -- các thầy các cô hiện nay -- sẽ đi đâu làm gì?

Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?

Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm! Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.

Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!

Không ai tự nguyện chặt chân mình. Đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.

Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!

Như mấy ngày đầu tháng sáu này, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên phạm vi cả nước, báo chí phải có bài đánh giá. Trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn, một phóng viên hỏi có phải năm nay Bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình xuôn xẻ thế, rồi một quan chức của Bộ thì trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện Bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả.

Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được. Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy. Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì? Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không nên thân à? Đốt đuốc giữa ban ngày cũng không tìm ra ai khờ khạo thế.

Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột. Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt. Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để lấy tiếng là có xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém. Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc… Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại.

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Claudia Dreifus – Đạt lai Lạt ma

Trần Quốc Việt dịch

Nơi ta ít ngờ gặp được đức Tenzin Gyatso nhất, tức đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 14 của Tây Tạng, nhà lãnh đạo tôn giáo và thế tục của nhân dân Tây Tạng, người đoạt giải Nobel hoà bình năm 1989, nguời cổ động chính của thế giới cho sự thay đổi chính trị bất bạo động, là tại một khu nghỉ mát chơi gôn sang trọng tên Sheraton El Conquistador ở thành phố Tucson, tiểu bang Arizona. Tuy nhiên vào một sáng mùa thu gần đây ông có mặt ở nơi này, vẫn mặc áo cà sa màu nâu đỏ sẫm truyền thống, quanh ông là các nhà sư phật giáo cùng các người bảo vệ không phải phật tử. Các du khách kinh ngạc khi thấy ông bước vội qua quầy rượu.

Đức Đạt lai Lạt ma đã đến nơi xa xăm không ngờ này để đọc và giảng đạo luận Nhập Bồ Tát Hạnh[1] của tác giả Tịch Thiên, một vị bồ tát thế kỷ thứ tám. Trong năm ngày trời, 1,500 người theo dự khoá tu học phật pháp đã liều bị đau lưng, tê tay để ngồi hàng giờ ghi xuống lời giảng về tánh nhẫn. Đối với họ, những người tham gia trong phong trào phật giáo ngày càng phát triển ở thế giới Phương Tây, đây là cơ hội hiếm có để tu học với bậc đứng đầu tôn giáo, tựa như theo học những lớp dạy về Thánh Kinh với đức Giáo Hoàng. Hơn nữa, trong số những người khao khát theo học này có nhiều người thế tục hơn, họ là những người tranh đấu kỳ cựu của thập niên 1960 nên xem đức Đạt lai Lạt ma là mục sư Martin Luther King, thánh Ghandhi của phong trào chính trị này. Đây còn là một sinh hoạt đức Đạt lai Lạt ma rõ ràng thích thú, một khoảng thời gian tạm ngưng cần thiết khỏi công việc thường lệ với cương vị người đứng đầu chính phủ Tây Tạng lưu vong ở Ấn Độ. Ông thường nói về mình, “Tôi là một nhà sư Phật giáo bình thường–không hơn không kém.” Qua những lần giảng đạo pháp, ông luôn biểu lộ sự khiêm nhường ấy.

Song đời ông hoàn toàn không bình thường. Ông sinh năm 1935 trong một gia đình nông dân ở miền đông bắc Tây Tạng. Năm lên hai tuổi, sau khi đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 13 qua đời, ông được xác nhận là đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 14 tái sanh của Đức Phật Từ Bi. Sự xác nhận ấy tạo ra tên mới cho ông: Lhamo Dhondup giờ đổi thành Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso (Thánh Đức, Hào Quang Êm Diệu, Hộ Pháp Hùng Biện, Từ bi, Thông thái của Đức Tin, Biển của Trí Tuệ). Được đưa lên Lạp Tát học, ông lớn lên trong một hoàng cung 1,000 phòng. Ông được các nhà sư cận kề, thương yêu và dạy ông các môn học như triết học, y học và siêu hình học. Họ đã cho ông tuổi thơ đầy thần tiên.

Những tháng ngày thần tiên ấy chấm dứt khi ông được yêu cầu gánh vác trách nhiệm người đứng đầu nhà nước khi ông 15 tuổi. Sự kiện này lại diễn ra vào chính thời điểm Quân đội Giải phóng Nhân dân đang xâm lăng Tây Tạng. Trong chín năm trời kế tiếp, nhà lãnh đạo trẻ đã cố gắng thương lượng với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tức những kẻ rắp tâm muốn sát nhập Tây Tạng vào Trung Quốc. Rồi đến năm 1959, sau khi Trung Quốc “dẹp tan” cuộc nổi dậy của người dân thường Tây Tạng nhằm chống lại ách cai trị của Trung Quốc, đức Đạt lai Lạt ma đào thoát sang Ấn Độ; từ đấy khoảng độ 100,000 người Tây Tạng đã vuợt qua dãy Himalaya để theo ông.

Ở Ấn Độ ông được phép lập ra chính phủ lưu vong trong một làng nhỏ tên Dharamsala cách New Delhi một ngày đường lái xe. “Đức ngài đã xây dựng nên một cộng đồng Tây Tạng tồn tại được ở Ấn Độ, qua đó bảo tồn được văn hoá Tây Tạng,” người bạn thân thiết của ông, Robert Thurman, giáo sư chuyên ngành về  Ấn Độ – Tây Tạng ở đại học Columbia, nhận xét. “Ông đã đoàn kết nhân dân Tây Tạng lại trong hoàn cảnh lưu vong và truyền cho họ niềm hy vọng trong suốt cuộc trấn áp rất khốc liệt, thậm chí gần như diệt chủng trên quê hương họ. Ông cũng là nhà lãnh đạo Tây Tạng đầu tiên trở thành nhà lãnh đạo thế giới, ngay cả khi ông không có cơ sở chính trị– mà chỉ dựa trên sức mạnh đạo lý của mình.”

Ở Tucson, một ngày sau khi khoá tu học kết thúc, đức Đạt lai Lạt ma tiếp người phỏng vấn này tại phòng của ông. Đúng như ta nghĩ trước khi gặp một người mà từ thuở lên 2 đã được xem là thánh, ông chào đón người lạ với vẻ trang trọng dễ chịu, mà chẳng mấy chốc tan biến đi khi ông đắm chìm trong các ý nghĩ và trong cuộc trò chuyện. Một tiếng rưỡi thành ba tiếng; vẻ trang trọng hoá thành tiếng cười. Ta có cảm giác là ông hơi chán trước cảnh sùng kính thái quá ông gặp phải hàng ngày. Ấn tượng nổi bật nhất về đức Đạt lai Lạt ma là niềm vui chan chứa ở ông qua nụ cười nở rộng, qua cảnh ông thích thú trước những sự mâu thuẫn và khiếm khuyết của bản thân. Nhà báo William Shirer có lần nói đến những cuộc phỏng vấn Gandhi dành cho ông trong thập niên 1930 như sau: “Ta cảm thấy ta tưởng chừng như là người duy nhất ở trong phòng, tưởng như ông dành trọn vẹn thời gian trên đời này của ông cho ta.” Lời nhận xét này cũng đúng với đức Tenzin Gyatso.

Hỏi: Thưa đức ngài, ông có vẻ là người rất hạnh phúc. Trong đời mình có những lúc nào đó khi lòng tin của ông vào cái thiện của con người bị thử thách?

Đạt lai Lạt ma: Không.

Hỏi: Từ trước đến nay ông không bao giờ cảm thấy mình gần trở nên hoài nghi?

Đạt lai Lạt ma: Không. Tất nhiên, khi tôi nói rằng bản tính con người là hiền dịu, không hẳn 100 phần trăm như vậy. Phàm con người ai cũng có bản tính đó, nhưng có nhiều người hành động ngược với bản tính của họ, tức là sai. Chắc chắn tôi có nhiều lúc buồn. Những lần Trung Quốc đàn áp tại Lạp Tát năm 1987, 1988, những lúc ấy lại buồn. Có quá nhiều người bị giết. Đôi lúc tôi buồn khi tôi nghe những câu chuyện cá nhân của những người tỵ nạn Tây Tạng bị tra tấn hay đánh đập. Trong lòng chợt cảm thấy khó chịu, cảm thấy giận. Nhưng cảm giác ấy chẳng bao giờ kéo dài lâu. Tôi luôn luôn cố gắng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc hơn, cố tìm cách an ủi.

Hỏi: Tôi hiểu rằng ông đã giận lắm trong cuộc chiến tranh vùng vịnh năm 1990, ông chưa bao giờ từng giận đến như thế.

Đạt lai Lạt ma: Giận ư? Không. Nhưng có một điều,là khi người ta bắt đầu đổ lỗi Saddam Hussein, tôi thấy cảm thông với ông ấy.

Hỏi: Với Saddam Hussein?

Đạt lai Lạt ma: Vâng. Vì người ta trút hết lỗi lầm lên ông, như thế không công bằng. Ông ấy có thể xấu, nhưng nếu không có quân đội dưới quyền, ông ta không thể nào hành động hiếu chiến như thế được. Còn quân đội của ông, nếu không có vũ khí thì cũng chẳng làm được điều gì. Mà vũ khí lại không sản xuất tại chính Iraq. Ai cung cấp vũ khí cho họ? Chính các nước Phương Tây! Rồi đến ngày xảy ra chuyện, họ lại đổ hết lỗi tại ông, mà không thừa nhận họ cũng có phần lỗi. Như thế là sai. Cuộc khủng hoảng vùng vịnh cũng chứng minh rõ ràng những hậu quả nghiêm trọng của việc buôn bán vũ khí. Chiến tranh, nếu không có quân đội, cao lắm chỉ giết vài người, còn có thể chấp nhận được. Nhưng chiến dịch quân sự gây ra đau khổ cho rất nhiều người, thì thật đáng buồn.

Hỏi: Ông đã nói giết người đôi lúc có thể chấp nhận được?

Đạt lai Lạt ma: Tương đối thôi. Trong xã hội con người, người ta bị giết vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, khi ta có quân đội lâu đời, và các nước có các quân đội như vậy đánh nhau, tổn thất thật là ghê gớm. Chẳng phải một hay hai người chết, mà cả hàng ngàn người. Còn với vũ khí hạt nhân thì đến hàng triệu người chết, quả thật cả hàng triệu người. Vì lý do đó, việc buôn bán vũ khí thật là vô trách nhiệm. Vô trách nhiệm! Phi quân sự hoá toàn cầu là cực kỳ quan trọng và cần thiết.

Hỏi: Tại Tây Tạng, từ cuối những năm 1950 đến đầu những năm 1970, ông có người anh tham gia lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Trung Quốc. Thực ra, các kháng chiến quân này được CIA ủng hộ. Ông cảm thấy sao về điều này?

Đạt lai Lạt ma: Tôi luôn luôn chống lại bạo lực. Nhưng các kháng chiến quân Tây Tạng thời ấy là những người rất tận tâm. Họ sẵn sàng hy sinh đời mình cho quốc gia Tây Tạng. Và họ đã tìm được cách để nhận sự giúp đỡ từ CIA. Bấy giờ, động cơ giúp đỡ của CIA thuần tuý là chính trị. Họ giúp đỡ không phải vì cảm thông thật sự, không phải vì sự ủng hộ cho sự nghiệp chân chính. Sự giúp đỡ ấy không được lành mạnh cho lắm.

Ngày nay, sự giúp đỡ và ủng hộ chúng tôi nhận được từ Hoa Kỳ thật sự xuất phát từ sự cảm thông và lòng trắc ẩn con người. Cho dù họ mong muốn có quan hệ tốt với Trung Quốc, quốc hội Hoa Kỳ ít nhất vẫn ủng hộ nhân quyền Tây Tạng. Vì thế đây là điều thật sự rất đáng quý và thật lòng.

Hỏi: Để thay đổi chủ đề, giống như một vài nhà lãnh đạo tôn giáo đã phát biểu, ông có nói về nguy cơ bùng nổ dân số toàn cầu.

Đạt lai Lạt ma: À, vấn đề dân số là một thực tế đáng ngại. Tại Ấn Độ, do truyền thống tôn giáo nên nhiều người miễn cưỡng chấp nhận ngừa thai. Do vậy, theo quan điểm Phật giáo, tôi nghĩ về vấn đề này ta có thể mềm dẻo. Tôi nghĩ nói thẳng ra có lẽ tốt hơn, rồi sau cùng tạo ra không gian cởi mở hơn cho các nhà lãnh đạo các truyền thống tôn giáo khác thảo luận vấn đề.

Hỏi: Vậy, ông cảm thấy thế nào về việc đức Giáo Hoàng John Paul II tiếp tục phản đối ngừa thai?

Đạt lai Lạt ma: Đấy là nguyên tắc tôn giáo của ông. Ông đang hành xử dựa trên nguyên tắc nào đấy, đặc biệt khi ông nói về nhu cầu tôn trọng quyền của các bào thai. Quả thật, tôi cảm thấy rất xúc động là đức Giáo Hoàng có lập trường rõ ràng về vấn đề đó.

Hỏi: Ông cũng có thể hiểu nhu cầu của phụ nữ, người có thể không thể nuôi con?

Đạt lai Lạt ma: Cách đây vài năm tôi qua Lithuania, tôi đến thăm một nhà trẻ, ở đấy người ta bảo tôi, “Tất cả những cháu bé này đều vô thừa nhận.” Như thế tôi nghĩ rằng tốt hơn là hoàn cảnh nên được ngăn chặn ngay từ ban đầu, tức ngừa thai. Tất nhiên, theo quan điểm Phật giáo, phá thai, nói chung, là hành động giết người và tiêu cực. Nhưng nó phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nếu cháu bé chưa ra đời bị thiểu năng về trí tuệ hay khi ra đời sẽ gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho cha mẹ cháu, thì đây là những trường hợp có thể ngoại lệ. Tôi nghĩ phá thai nên được tán thành hay không đưọc tán thành tuỳ theo từng hoàn cảnh.

Hỏi: Tôi hiểu ông đã trải qua một sự thay đổi lớn trong nhận thức của ông về vai trò của phụ nữ trên thế giới.

Đạt lai Lạt ma: Không hẳn là thay đổi. Tôi đã đạt đến ý thức về sự nhạy cảm trong các vấn đề của phụ nữ; ngay hồi những thập niên 1960 và 1970, tôi không có kiến thức nhiều về vấn đề này. Quan diểm cơ bản của Phật giáo về bình đẳng nam nữ đã có từ lâu đời rồi. Ở các bậc Phật giáo mật tông cao nhất (tantric levels), ở bậc tối thượng mật tông (esoteric level), ta phải tôn trọng phụ nữ: tất cả phụ nữ. Trong xã hội Tây Tạng, từ trưóc đến nay vẫn có những sự kỳ thị vô cảm. Tuy nhiên vẫn có những phụ nữ xuất chúng, tức những đại lạt ma, những người được tôn kính trên khắp Tây Tạng.

Hỏi: Trong số báo gần đây của tạp chí phật giáo Tricycle, diễn viên Spalding Gray hỏi ông về các giấc mơ của ông, ông có nhắc rằng đôi lúc ông mơ thấy những phụ nữ đánh nhau.

Đạt lai Lạt ma: Phụ nữ đánh nhau? Không phải, không phải… Điều tôi muốn nói là rằng, trong các giấc mơ của tôi, thỉnh thoảng nhiều phụ nữ đến gần tôi và tôi ngay lập tức nhận thức, “Mình là bhikshu, mình là nhà sư.” Nói vậy chắc chị hiểu, đây là từa tựa như tình dục…

Hỏi: Trong các giấc mơ của ông, ông nhận thức điều này và ông “chống lại” cảm giác ấy?

Đạt lai Lạt ma: Vâng. Tương tự như vậy, tôi nhiều lúc mơ thấy có người đánh tôi và tôi muốn phản ứng lại. Rồi ngay lập tức tôi nhớ, “Mình là nhà sư mình không nên giết người.”

Hỏi: Ông có từng trải nghiệm sự giận dữ? Ngay cả Chúa Jesus cũng từng có những lúc giận dữ.

Đạt lai Lạt ma: Hãy đừng so sánh tôi với Chúa Jesus. Ông là bậc thầy vĩ đại, bậc thầy vĩ đại… Còn về câu hỏi của chị, lúc tôi còn trẻ hơn, tôi thật sự có cáu giận. Nhưng trong 30 năm qua thì không. Một điều là, sự căm ghét, oán hận, gần như không còn nữa.

Hỏi: Vậy những khuyết điểm và nhược điểm của ông là gì?

Đạt lai Lạt ma: Lười biếng.

Hỏi: Người ta nói ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng. Vậy làm sao ông có thể lười biếng được?

Đạt lai Lạt ma: Không phải lười biếng chuyện ấy. Chẳng hạn, do hay đến các nước Tây Phương, tôi dần dần bắt đầu rất thích trau giồi thêm tiếng Anh của mình. Nhưng khi tôi thật sự cố gắng học, thì sau một vài ngày, tự nhiên tôi thấy không còn hứng thú nữa. (Cười.) Đấy mới là lười biếng. Còn các nhược điểm khác, tôi nghĩ, là giận và quyến luyến. Tôi quyến luyến với chiếc đồng hồ đeo tay và với chuỗi hạt tụng kinh của mình. Rồi, tất nhiên, đôi lúc với những phụ nữ đẹp… Nhưng nhiều nhà sư cũng có những trải nghiệm tương tự. Một phần là do tò mò: nếu ta dùng cái này, không biết cảm giác sẽ như thế nào? (Chỉ vào háng của ông.)

Và, dĩ nhiên, ta có cảm giác rằng cái gì mà tình dục ắt hẳn là cái gì đấy rất hạnh phúc, một sự trải nghiệm kỳ diệu. Khi cảm giác này nảy nở, tôi luôn luôn nhìn đến khía cạnh tiêu cực của nó. Đức Bồ Tát Long Thọ, một trong những vị thầy Ấn Độ, đã có lời dạy như sau: “Nếu ta ngứa, gãi được chỗ ngứa thì thấy thích. Nhưng tốt hơn là  đừng có ngứa gì hết.” Tình dục cũng giống như thế. Nếu ta có thể sống mà không có cảm giác ấy, thì có nhiều bình an hơn. (Mỉm cười.) Và nếu không có chuyện giao hợp, ta chẳng phải lo ngại phá thai, bao cao su, đại loại những thứ như thế.

Hỏi: Thưa ông, tiếng cười của ông nổi danh toàn thế giới – Điều gì khiến ông cười?

Đạt lai Lạt ma: Do trong gia đình có điểm chung… thường hay thích cười. Một người anh của tôi, Gyalo Thondup, chẳng mấy khi cười. Còn người anh khác, Lobsang Samten, lại rất thích kể chuyện cười tục. Đến người anh thứ ba, Taktser Rinpoche, cũng hay cười. Nói chung tất cả người Tây Tạng rất hiền hoà vui vẻ. Thuở nhỏ, tôi có người trợ lý về tôn giáo, người này luôn luôn nói với tôi, “Nếu thầy có thể cười thật thoải mái thì rất có lợi cho sức khỏe của thầy.”

Hỏi: Ông thường làm gì để giải trí, để thư giãn?

Đạt lai Lạt ma: Mỗi buổi sáng trước khi thức dậy tôi thích để cho các ý tưởng nhập vào mình. Tôi thiền vài tiếng đồng hồ cho người được mạnh khoẻ và tươi tỉnh trở lại. Sau đó, công việc xử thế hàng ngày của tôi thường xuất phát từ mục đích giúp đỡ, hay tạo ra bầu không khí tích cực cho những người khác. Ngoài ra tôi làm vườn… làm vườn là một trong những thú tiêu khiển của tôi. Tôi cũng đọc bộ bách khoa có hình. (Cười.) Tôi là người của hoà bình, nhưng tôi thích xem những sách có hình về chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tôi có vài cuốn sách như thế, tôi nghĩ do hai tờ TimeLife hợp tác ấn hành. Tôi vừa đặt mua một bộ mới. Ba mươi cuốn.

Hỏi: Thật sao? Tại sao Tái Sanh của Từ Bi lại thích thú như thế về một trong những sự kiện khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại?

Đạt lai Lạt ma: Có lẽ vì những câu chuyện chiến tranh ấy rất tiêu cực và ghê rợn, chúng củng cố niềm tin của tôi vào bất bạo động. (Mỉm cười.) Tuy nhiên tôi thấy những máy móc bạo lực ấy lại rất hấp dẫn. Nào xe tăng, nào máy bay, đặc biệt các hàng không mẫu hạm. Rồi đến các tàu lặn của Đức (U-Boat), các tàu ngầm…

Hỏi: Có lần tôi đọc trong sách rằng khi còn bé ở Lạp Tát, ông đã thích các đồ chơi chiến tranh.

Đạt lai Lạt ma: Vâng, thích lắm. Tôi cũng đã có khẩu súng hơi ở Lạp Tát. Còn tôi hiện đang có một khẩu ở Ấn Độ. Tôi thường cho các con chim nhỏ ăn, nhưng khi chim bay tụ lại, các con diều hâu thấy chúng liền bay đến bắt — trông rất đau lòng. Vì thế để bảo vệ bầy chim nhỏ này, tôi giữ súng hơi.

Hỏi: Vậy đây là súng phật giáo?

Đạt lai Lạt ma: (Cười) Súng từ bi!

Hỏi: Cho phép tôi hỏi ông một câu hỏi khó về điều ông vừa nhắc đến. Ông là người không thể nào thiếu được đối với phong trào của ông. Ông có từng bao giờ sợ rằng ông sẽ chịu cùng số phận như Mahatma Gandhi và Martin Luther King Jr.?

Đạt lai Lạt ma: Đôi lúc tôi cũng chợt nghĩ đến điều này. Riêng chuyện “không thể nào thiếu được”, người ta vẫn tiếp tục phong trào nếu không có tôi.

Hỏi: Các học giả Châu Á khẳng định rằng quốc gia Tây Tạng sẽ không thể nào tồn tại nổi sau năm 1959 nếu ông không phải là nhà lãnh đạo chính trị tài giỏi đến như thế. Nếu điều đó đúng, ông có lo ngại rằng Trung Quốc có thể kết liễu phong trào độc lập Tây Tạng bằng cách giết ông?

Đạt lai Lạt ma: Một số người Trung Quốc cũng nói thực với người Tây Tạng rằng: “Các anh chỉ có một người. Nếu chúng tôi xử lý chuyện này, vấn đề coi như được giải quyết xong.”

Hỏi: Ông có chuẩn bị sẵn cho khả năng đó không?

Đạt lai Lạt ma: Không hẳn lắm, mặc dù nói chung, là phật tử, nhập thiền hằng ngày của tôi cũng chuẩn bị sẵn cho cái chết. Chết vì lão bệnh tự nhiên, tôi hoàn toàn sẵn sàng. Còn chết bất ngờ, đấy thực sự là bi kịch — nếu xét theo quan điểm của những người thực hành tôn giáo.

Hỏi: Vào tháng Chín, những người Palestine đã chấp nhận thoả hiệp để đạt đến sự tự trị trong khu vực. Nếu người Trung Quốc đưa ra mặc cả như thế, ông có chấp nhận hay không?

Đạt lai Lạt ma: Thật sự, trong 14 năm qua, lập trường cơ bản của tôi rất tương tự. Có một sự khác biệt: trong trường hợp Palestine, hầu như tất cả các chính quyền đều xem vùng đất ấy bị chiếm đóng nên biểu lộ sự quan ngại. Trong trường hợp Tây Tạng, chỉ có quốc hội Mỹ và vài chuyên gia pháp lý xem Tây Tạng là nước có quyền tự quyết nhưng bị chiếm đóng.

Hỏi: Cảm giác của ông thế nào khi ông theo dõi việc ký kết hiệp định hoà bình Trung Đông gần đây?

Đạt lai Lạt ma: Đấy là thành tựu lớn. Vấn đề này chỉ hơn vấn đề Tây Tạng một năm. Vấn đề của chúng tôi bắt đầu vào năm 1949, vấn đề của họ bắt đầu vào năm 1948. Trong những năm đó, biết bao nhiêu hận thù dựng lên. Hãy tưởng tượng: từ thuở nhỏ, người  Palestine đã được dạy căm thù. Điều đó được xem như có lợi cho quyền lợi dân tộc. Thực ra, điều đó rất tiêu cực; phát sinh ra biết bao bạo lực. Giờ đây, hai bên đạt đến hiệp định trong tinh thần hoà giải, trong tinh thần bất bạo động. Điều này quả là kỳ diệu.

Hỏi: Có bất kỳ các dấu hiệu nào Trung Quốc biết đâu có thể chấp nhận thoả hiệp?

Đạt lai Lạt ma: (Nói nhanh) Không.

Hỏi: Ông có lần viết Trung Quốc muốn cai trị thế giới. Ông vẫn còn nghĩ như thế?

Đạt lai Lạt ma: Ý của tôi không phải như vậy. Lời nhận xét ấy có quan hệ nhiều đến ý định về thế giới quan Marxist, hơn là về chủ nghĩa bành trướng lịch sử dân tộc Trung Quốc.

Hỏi: Ông nghĩ điều đó vẫn còn đúng?

Đạt lai Lạt ma: Tôi nghĩ, điều ấy đã được thay đổi. Tinh thần ấy… có lẽ vào thập niên 1960 cùng với cuộc Cách mạng Văn hoá, nó hiện diện vào lúc đó. Về bên phía Xô Viết, vào khoảng năm 1956, Khrushchev nhận thức rằng mục tiêu ấy không thực tế. Vào cuối cuộc Cách mạng Văn hoá, vào thập niên 1970, người Trung Quốc nhận thức rằng mục tiêu ấy là không tưởng. Hiện giờ tôi nghĩ vấn đề là chủ nghĩa Sô vanh dân tộc Trung Quốc. Đối với họ, tất cả các dân tộc khác đều man di mọi rợ.

Hỏi: Bao gồm cả ông?

Đạt lai Lạt ma: À, Chắc chắn rồi! Tất nhiên rồi! Họ là nước kiêu ngạo. Sau khi chủ nghĩa Marx không còn nữa, chiến lược của họ là vươn đến mức độ phát triển kinh tế của các nước Tây Phương. Họ xem mình là người bênh vực cho thế giới thứ ba, đặc biệt sau khi Liên Xô sụp đổ. Giờ họ coi Nga là một phần của Tây Phương. Vì vậy những gì ta có là quốc gia đông dân nhất thế giới, chế độ toàn trị thuộc loại tệ hại nhất, cai trị bằng khủng bố – kèm với vũ khí hạt nhân và với ý thức hệ cho rằng sức mạnh là nguồn quyền lực tối hậu. Trưóc đây kinh tế của họ yếu kém, nhung hiện giờ đang cải thiện — nhưng những điều khác vẫn không thay đổi. Tạp chí Time đã gọi họ “siêu cường của thế kỷ tới.”

Hỏi: Điều đó có làm ông sợ?

Đạt lai Lạt ma: Dù sao chúng tôi cũng đã mất nước rồi. Nhưng tôi lo ngại cho thế giới! Cộng đồng thế giới có trách nhiệm đạo đức để cố gắng giúp dân chủ ở Trung Quốc. Vấn đề bây giờ, là làm sao tạo ra dân chủ? Các trí thức và sinh viên Trung Quốc, họ vốn là lực lượng chính trị mạnh, và rất quan trọng. Cộng đồng thế giới phải dành mọi khích lệ cho lực lượng này. Chúng ta không nên buông thả theo bất kỳ hành động nào làm nản lòng họ.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng vào thời điểm của cuộc phản kháng ở Quảng trường Thiên An Môn, phong trào dân chủ sẽ thành công?

Đạt lai Lạt ma: Vâng. Thật sự, biến cố ngày 4 tháng Sáu khiến tôi sửng sốt. Tôi không ngờ họ bắn vào chính dân của họ.

Hỏi: Nhưng nếu những người cộng sản Trung Quốc đã tàn bạo với những người Tây Tạng như ông tố cáo, thì tại sao họ lại không tàn bạo với những người biểu tình ủng hộ dân chủ?

Đạt lai Lạt ma: Vì đó chính là dân của họ! Sao họ có thể đành bắn vào dân họ? Trong Cách mạng Văn hoá thì điều này còn dễ hiểu. Quảng trường Thiên An Môn  đã chứng minh rằng một chế độ không do dự khi bắn vào nhân dân của họ, một chế độ như thế… Từ đấy ta không nên còn hoài nghi về thái độ của họ đối với những người nước khác.

Hỏi: Từ sự đánh giá không-lạc-quan lắm này, ông thấy tình huống nào có thể diễn ra cho Trung Quốc và Tây Tạng?

Đạt lai Lạt ma: Cơ bản là chế độ cộng sản Trung Quốc: chế độ nhất định thay đổi, chỉ là vấn đề thời gian thôi. Trên khắp thế giới ngày nay, có sự phát triển về tự do và dân chủ. Hơn nữa phong trào dân chủ, bên trong và bên ngoài Trung Quốc, vẫn hoạt động rất tích cực. Một khi người Trung Quốc muốn lắng nghe các vấn đề của những người  khác, thì những người Tây Tạng sẽ không chống lại quốc gia Trung Quốc. Đường hướng của chúng tôi là theo tinh thần hoà giải. Chắc chắn chúng ta có thể có sự đồng thuận.

Trong khi đó, cộng đồng quốc tế phải ủng hộ Tây Tạng và tạo áp lực đối với Trung Quốc. Nếu không có điều này, đường hướng của chúng tôi, theo 14 năm kinh nghiệm vừa qua, không có hy vọng phản hồi.

Hỏi: Để kết thúc, tôi có đọc đâu đó ông tiên đoán rằng, khác với thế kỷ 20, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của hoà bình và công bằng. Tại sao?

Đạt lai Lạt ma: Vì tôi tin trong thế kỷ 20, con người đã học được từ rất nhiều, rất nhiều kinh nghiệm. Một phần tích cực, đa phần tiêu cực. Bao nhiêu đau thương, bao nhiêu đổ nát! Quá nhiều người bị giết trong hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ này. Nhưng bản chất con người là  bản chất cao quý ở chỗ khi ta đối diện với một hoàn cảnh rất nghiêm trọng, tâm hồn con người liền tỉnh thức để tìm hướng đi khác. Đấy là khả năng của con người.

Nguồn: “The Dalai Lama”, New York Times 28/11/1993.

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Tựa đề bản dịch của ni sư Trí Hải (nguồn: Thư viện Hoa sen).