Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009
Ngày của những bóng ma
Những người sống đang chết
Trên những ngã tư đường đèn xanh đỏ
Trong những công sở lạnh
Trong những căn nhà hoang
Khuya lơ giấc ngủ
Chết hết một ngày
Chết hết một đời
Ngày của những con quỷ
Vàng rực nỗi buồn
Nỗi buồn bò ra từ sách đỏ
Nghị quyết nói về sự tuyệt chủng
Con người còn thua một . . . con cọp
Con người được sinh sản từ những cuộc họp
Từ hang ổ của bầy rắn
Lúc nhúc phì phì nọc độc
Con người thành vật tế thần
Thành mồi ngon cho ác thú
Ngày của những cơn lũ cuồng
Những con quỷ ngồi cười trên bàn nhậu
Núi rừng bật gốc
Sông khô suối cạn
Có làm sao đâu
Có làm sao đâu mà than khóc
Lũ ở trên cao — sao lụt lội trong lòng?
Lại một ngày nắng lạnh
Ngọn bắc phong trở mình rét mướt
Ở đâu đó hội hè
Nghìn năm vui quá
Cho chúng tôi vui lây
Chút hạnh phúc làm người!
nguyễn tấn cứ
Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009
Lấy tiền nhân dân ăn chơi xa hoa
VNEXPRESS hôm nay đưa tin về Hội nghị đói nghèo do Liên Hợp Quốc tổ chức dựa theo tin dịch lại từ hãng thông tấn AP. Qua đó, chân dung của các tên độc tài, vơ vét tiền của nhân dân để ăn chơi xa hoa, phung phí. Họ tụ họp nhau lại để vay mượn tiền các nước giàu có, nhưng nhân dân họ đã, đang và sẽ chết đói chính từ những khoản tiền này.
Chân dung Robert Mugabe (Wikipedia):
Trong những năm cầm quyền, ông Robert Mugabe đã thay thế sự thống trị của thiểu số da trắng bằng sự thống trị của thiểu số da đen tập hợp quanh lợi ích cá nhân của chính ông. Ông cũng cho rằng Chúa đã giao quyền lực cho ông ta nên không ai có thể đoạt lại. Các vụ trấn áp do ông chủ mưu trong những năm 1980 làm 20.000 người thiệt mạng. Năm 1998, quân đội của Mugabe trấn áp những cuộc biểu tình của người dân phản đối tình trạng giá nhu yếu phẩm tăng cao. Năm 2005, gần 600.000 người Zimbabwe đã mất nhà cửa bởi các “chiến dịch thanh lọc” thành phố.[10]
Ngày 3 tháng 4 năm 2008, báo chí thế giới được thông báo rằng đảng đối lập chính, Phong trào Thay đổi dân chủ đã tuyên bố kiểm soát được Quốc hội. Tuyên bố này đã được xác nhận khi kết quả bầu cử được công bố nhưng hiện nay đang bị tranh cãi.[11]
Tổng thống Zimbabwe vừa bị tước danh hiệu hiệp sĩ ngày 25-6 năm 2008 bởi Nữ hoàng Anh Elizabeth II vốn phong cho Mugabe từ năm 1994 để phản đối sự vi phạm nhân quyền của ông. Phong trào thay đổi dân chủ của ông Tsvangirai, đối thủ của Mugabe cho biết gần 90 người ủng hộ phong trào này đã bị những người theo phe Mugabe sát hại. Do sử dụng bạo lực để đàn áp phe đối lập mà ông Mugabe đã bị thế giới lên án.[12]
Dưới thời Mugabe, Zimbabwe lạm phát lên tới 11 triệu %, đồng tiền mệnh giá 100 tỉ đôla Zimbabwe (ZD) chỉ đủ mua một ổ bánh mì và tỷ lệ mắc bệnh AIDS vào loại cao nhất châu Phi còn tuổi thọ thì vào hàng thấp nhất thế giới.[13] Tỷ lệ thất nghiệp của Zimbabwe là 70% và ít nhất 80% dân số sống dưới ngưỡng nghèo đói. Mức lạm phát của Zimbabwe tăng hàng năm tới 993,6% và thuộc hàng cao nhất thế giới.[14]
Khi bị tố cáo là hăm dọa bằng bạo lực phe đối lập trong kỳ bầu cử để giữ quyền lực, Mugabe tuyên bố: "Họ có thể hét to bao nhiêu tùy thích, từ Washington hoặc từ London hay từ bất cứ nơi nào khác. Người dân chúng tôi, người dân chúng tôi và chỉ người dân chúng tôi quyết định chứ không phải ai khác".
Điều đáng nói là những tên độc tài thuộc các nước nghèo châu Phi đang bắt tay với Trung Quốc để bán tài nguyên nước họ, đẩy nhân dân họ vào súng đạn chết chóc và đói nghèo. Theo GS David Shinn thuộc ĐH Geogre Washington thì Trung Quốc đã đổi chiến đấu cơ J-7, phản lực cơ K-8 và radar lấy quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên phong phú của Zimbadwe. Suốt thời gian vận động tranh cử của Mugabe, các tàu chở vũ khí của Trung Quốc tấp nập cập cảng Zimbabwe
Hầu như không nước nào trong nhóm 8 quốc gia giàu nhất tham dự Hội nghị đói nghèo do Liên Hợp Quốc tổ chức, trong khi các đại biểu đến từ những nước nghèo nhất tranh thủ đi mua sắm, du hí.
Diễn đàn Lương thực năm nay do Liên Hợp Quốc tổ chức, bắt đầu từ hôm thứ 2 và kéo dài 3 ngày, diễn ra trong bối cảnh dân số đói nghèo thế giới vượt con số 1,02 tỷ, cao nhất kể từ năm 1970. Trên thực tế, xin tài trợ mới là mục đích chính của Hội nghị. 60 nhà lãnh đạo từ các nước nghèo đến với hy vọng thuyết phục nước giàu tăng viện trợ nông nghiệp hàng năm từ 7,9 tỷ USD lên 44 tỷ USD.
Tuy nhiên, đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Liên Hợp Quốc, nước giàu tỏ ra rất thờ ơ. Không một nhà đại diện nào thuộc nhóm G8 tham dự Hội nghị lần này, ngoại trừ Thủ tướng Italy Silvio Berlusconi không thể vắng mặt với tư cách chủ nhà.
| Tổng thống ZImbabwe, Robert Mugabe (đeo kính) trong Hội nghị Lương thực do Liên Hợp Quốc tổ chức diễn ra tại Rome, Italy. Ảnh: Reuters |
Theo AP, các nhà quan sát cho rằng sự vắng mặt của các quốc gia thịnh vượng không có nghĩa là họ không hành động. Cuộc gặp gỡ của nhóm G8 vừa diễn ra tại thành phố L'Aquila, Italy đã đề ra nhiều chương trình rõ ràng để chống nạn đói, giúp nông dân tăng năng suất lương thực trên khắp thế giới.
Phần lớn các nước giàu nhận xét Hội nghị lương thực lần này chỉ là sự phí phạm thời gian và tiền bạc, chẳng mang lại lợi ích cụ thể. Thực tế, ngay từ trước khi sự kiện diễn ra, thông tin rò rỉ cho thấy 60 nhà lãnh đạo sẽ chẳng đi đến kết luận nào, ngoài những tuyên bố chung chung, không có thời gian hành động cụ thể.
Phát biểu hôm nay trên tờ Telegraph của Anh, bà Clare Short, phụ trách Chương trình phát triển quốc tế của nước Anh nói: "Tôi không cử ai tham dự hội nghị lần này vì không hy vọng rằng hội nghị sẽ hoạt động hiệu quả".
Trong khi đó, cuộc họp diễn ra tại Rome biến thành kỳ nghỉ cho vài đại biểu. Một trong những nhân vật có ảnh hưởng ở châu Phi là ông Moammar Gadhafi, người đứng đầu nhà nước Lybia, đã tổ chức một buổi dạ hội tại dinh cơ của ông tại thủ đô Italy, với sự tham dự của hàng trăm phụ nữ trẻ.
Các hãng tin Italy cho hay, Tổng thống Zimbabwe, ông Robert Mugabe đến Italy bằng chuyên cơ riêng với một đoàn tùy tùng hơn 60 thành viên. Nhiều người trong số họ tranh thủ thời gian 3 ngày để thăm thú châu Âu.
Còn đệ nhất phu nhân Leila Zine của người đứng đầu nước Tunisia thì thỏa sức mua sắm tại đất nước của thời trang. Hãng tin AP cho biết trong cuộc đổ bộ đến con phố của những thương hiệu nổi tiếng thế giới Via Condotti, đệ nhất phu nhân cùng đoàn tùy tùng đã gây ách tắc cả một đoạn đường.
Cò
Tưởng Năng Tiến
Cò là một loài chim nước có mỏ, cổ và chân cẳng đều dài – sống bằng tép, hến, ốc, cá… – thường quanh quẩn nơi ao hồ hay sông rạch. Cò cũng là tên gọi của một giới người, mới xuất hiện ở Việt Nam, chuyên lo việc môi giới dịch vụ – như cò máu, cò bệnh, cò mả, cò nhà, cò việc…
Trong một xã hội bình thường thì cò nhà chính là những người hành nghề địa ốc, cò việc là những chuyên viên tìm kiếm và giới thiệu việc làm, cò mả là những nhân viên làm việc cho những nghi táng gia (còn gọi nôm na là nhà quàn, chuyên lo việc hỏa táng hay mai táng), và cò bệnh là những cán sự y tế (có nhiệm vụ giới thiệu khách hàng đến những cơ quan chữa trị thích hợp) khi hữu sự. Tất cả những công việc này đều cần thiết, rất hữu ích và đều được khách hàng quí trọng.
Ðiều không may cho giới cò ở Việt Nam là họ sinh sống trong một môi trường xã hội rất không bình thường nên bị gọi là “cò” (một cách khinh miệt) và luôn luôn phải hành sử rất bất thường, cứ y như những kẻ gian manh – lúc nào cũng thậm thụt lấm lét tựa những tên ma cô dắt mối, hay những người buôn bán ma túy – nơi đầu đường xó chợ.
Cò, tất nhiên, không phải là nguyên nhân của những tệ trạng xã hội. Họ cũng là nạn nhân như bao lương dân khác. Túng thì phải tính, thế thôi. Sự bất hạnh của giới người làm cò, nghĩ cho cùng, chỉ là chuyện nhỏ (và chuyện rất thường) ở Việt Nam. Nơi đây, cả một dân tộc đang bị vùi dập và khinh miệt hay chà đạp chứ đâu có riêng chi một giới người nào.
Ðã thế – ở xứ sở của chúng ta – bên cạnh cò thật còn có thêm cò … giả, cò đều và cò mồi. Những con cò chuyên cung cấp những dịch vụ … thừa. Nói cách khác, chúng tạo ra nhu cầu (không có thật) và dùng mánh khóe hay bạo lực bắt mọi người phải sử dụng những dịch vụ (không cần thiết) của mình. Chính loại cò này mới là thủ phạm của tội ác, đáng bị chỉ tên và kết án.
Xin đơn cử một thí dụ:
“Hầu như vùng nông thôn nào cũng có cò heo, nhưng ở phạm vi bài này, chúng tôi chỉ khoanh gọn đội quân cò heo ở huyện Trực Ninh – một huyện phía Nam của tỉnh Nam Ðịnh. Ðội quân này có khoảng 50 người được phân bố rải rác ở tất cả các chợ có heo bán như Cát Thành, Trực Tuấn, Trực Bình, Liêm Hải, Phương Ðịnh… “
“Ðể sống được, ngoài phương thức cổ điển là dựng vai mồi, đưa người mua vào bẫy, đám cò lợn còn tiến hành kinh doanh lợn. Nói như các cụ thì chợ chưa họp kẻ cắp đã đến. Các cò lợn cũng vậy. Mỗi khi đến phiên chợ, họ đến rất sớm để gặp khách nào có ổ lợn mà xem ra lớ ngớ thì cò lợn xúm đến tranh mua. Thường thì họ trả rất rẻ, chê bủng chê beo, nhấc lên bỏ xuống chán chê.”
“Nếu có ai khác cố tình mua và chủ lợn cố tình bán thì các cò lợn sẵn sàng chơi luật rừng ngay, không thì họ cũng giằng co cho đến lúc con lợn gẫy chân. Vì vậy trước sau cò lợn cũng mua được ổ lợn (hay con lợn). Rồi chẳng cần xách đi đâu, họ ngồi luôn xuống tại chỗ để bán lại. Gặp hôm nào lợn ít họ lãi gấp đôi, còn bình thường họ lãi gấp rưỡi, ít khi bị hòa vốn.”
“Nạn cò lợn ở các xã có chợ lợn ở huyện Trực Ninh xuất hiện cách đây 15-16 năm. Càng ngày nó càng phát triển. Nó không những không đem lại lợi ích gì cho bà con nông dân mà còn gây nhiều khốn khó cực lòng. Không ít người đã từng nhăn mặt méo mồm với đám quân cò lợn bất trị chuyên lừa lọc này (”Cò Heo,” Sống Mới, 01 Mar. 2002:27).
Chuyện lừa lọc của lũ cò giả, như cò lợn (thực ra) không có gì mới mẻ, và chỉ là chuyện nhỏ – của đám cò con – tại thôn quê. Ở bình diện quốc gia, nước Việt còn nhiều thứ cò đểu khác “vĩ đại” (và đáng ngại) hơn nhiều.
Cò chiến thuộc loại này. Sau Thế chiến thứ Hai, khi phong trào giải thực lan rộng trên toàn cầu (và việc trao trả độc lập cho những quốc gia bị trị trở thành một xu hướng không thể đảo ngược ở khắp mọi nơi) thì đám cò chiến ở Việt Nam vẫn cố tạo ra một cuộc chiến “đánh đuổi thực dân để giành độc lập.”
Sau đó, họ tiến hành một cuộc chiến tranh khác bằng cách hô hoán lên là đất nước bị xâm luợc, rồi bắt ép nửa phần dân tộc Việt đi chém giết nửa phần còn lại. Trong cả hai cuộc chiến (rất) “thần thánh” và (hoàn toàn) không cần thiết đó, đám cò đểu đều thắng lợi một cách vẻ vang. Chỉ có nhân dân là (đại) bại – theo như cách nói của thi sĩ Nguyễn Duy.
Dù đã thua te tua, và thua thê thảm liên tiếp qua mấy thế hệ nguời như thế, dân chúng vẫn chưa được để yên. Sau 1975, ở Việt Nam bỗng xuất hiện một loại cò giả khác – gọi là cò người. Ðám cò đểu này tạo ra đủ thứ áp lực khắc nghiệt khiến hàng triệu người Việt phải quyết định bỏ nước ra đi, và chính chúng đứng ra “bán bãi thu vàng” cho những chuyến phiêu lưu nát lòng và hãi hùng này.
Vấn đề trên đã được nhà báo Bùi Tín nhắc lại (trên tạp chí Cánh Én, số Xuân Kỷ Mão, phát hành tại Ðức Quốc, tháng 2 năm 1999) trong bài “Hai câu hỏi cần trả lời rõ ràng khi thế kỷ 20 khép lại.” Một trong hai câu hỏi này, được đặt ra cho ông Phạm Văn Ðồng, nguyên văn như sau: “Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979…Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?”
Thế kỷ XX đã khép lại, ông Phạm Văn Đồng đã từ trần, chuyện bán bãi thu vàng đã chấm dứt, đám cò người (cũng) đã chuyển vùng – sang một địa bàn hoạt động khác, xuất khẩu lao động – chịu nhận thu nhập ít ỏi hơn. Tuy gọi là “ít” nhưng theo lời tác giả Lê Diễn Đức (trong bài “Sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn,” đọc được trên talawas, vào ngày 3 tháng 4 năm 2009) thì ”ở Việt Nam buôn công nhân đi nước ngoài là business hợp pháp ít vốn nhiều lời nhất, hơn cả ma tuý.”
Cò người, tuy thế, vẫn chưa bị công luận lên án kịch liệt (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này, chi tiết hơn, vào tuần tới, cũng trên diễn đàn này) vì cạnh chúng có vài loại cò khác – gian ác hơn nhiều và cũng đang gây ra nhiều điều tiếng tệ hại hơn.
Trước hết, hãy nói qua về cò bauxite. Nhân danh chủ trương lớn của một đảng, đám cò này ngang nhiên mang một phần đất nước ra bán xới. Khi bị chất vấn về hiểm họa của môi sinh (và an ninh quốc phòng) vì đã để cho ngoại nhân khai thác tài nguyên ở một vùng trọng yếu của đất nước, đám cò này liền bù lăn bù loa đe dọa – bằng hình thức “Thông cáo báo chí – rằng: “bản kiến nghị phản đối của các nhà trí thức gửi Lãnh đạo Đảng và Nhà nước là không có cơ sở, không đúng với tình hình thực tế, hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động, và bị các tổ chức phản động lợi dụng.”
- Biểu ngữ treo trên đường cao tốc: Nguồn BBC
Cò đảo và cò biển còn đáng sợ hơn vì hung hãn và côn đồ hơn thế. Nhiều công dân Việt Nam đang bị giam cầm chỉ vì đã biểu tình, hay treo biểu ngữ, bày tỏ nguyện vọng của họ về việc bảo toàn lãnh thổ, sau khi biết được việc cắt biển và dâng đảo của đám cò này.
Ngày 10 tháng 9 năm 2008, một công dân Việt Nam, ông Nguyễn Văn Hải, bị xử hai năm rưỡi tù giam (với tội danh “trốn thuế”) nguyên do chỉ vì đã tỏ thái độ phản đối việc rước đuốc Thếvận hội Bắc Kinh, cũng như lên tiếng về chủ quyền của Việt Nam liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tương tự, liên tiếp trong bốn ngày (6,7,8 và 9) vào tháng mười năm 2009, đám cò biển và cò đảo đã dựng lên những phiên toà ở Hà Nội và Hải Phòng và tuyên án chín lương dân (*) nhiều năm tù chỉ vì họ đã kêu gọi sự bảo toàn lãnh hải, và tuyên xưng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
Trước đó, vào ngày 18 tháng 9 năm 2008, một công dân Việt Nam khác – cô Phạm Thanh Nghiên – đã bị một số đông công an và nhân viên an ninh (của thành phố Hải Phòng) lôi ra khỏi nhà khi cô đang ngồi toạ kháng, với hai khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” và “Phản đối công hàm bán nước của thủ tướng Phạm Văn Đồng.”
Dù hơn một năm đã trôi qua (xem ra) nhà đương cuộc Hà Nội vẫn còn lúng túng, chưa nghĩ ra được tội danh gì thích hợp cho trường hợp Phạm Thanh Nghiên. Do đó, cô vẫn tiếp tục bị biệt giam và không biết đến bao giờ mới được mang ra “xét xử!”
Giữa vòng vây của một đám cò, Phạm Thanh Nghiên – tất nhiên – đang phải đối diện với rất nhiều hung hiểm. Không cần phải là thầy bói, người ta vẫn có thể nói trước được tương lai “lành ít dữ nhiều” của nhân vật này. Số phận của cả dân tộc Việt (e) cũng không khác mấy, nếu cứ tiếp tục cam chịu để bị cai trị và dẫn dắt bởi một bầy cò (cò đểu, cò giả, và cò mồi) như thế.
Tưởng Năng Tiến
(*)
1. Trần Đức Thạch: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
2. Vũ Hùng: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
3. Phạm Văn Trội: 4 năm tù và 4 năm quản chế.
4. Nguyễn Xuân Nghĩa: 6 năm tù và 3 năm quản chế.
5. Ngô Quỳnh: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
6. Nguyễn Văn Tính: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.
7. Nguyễn Văn Túc bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế.
8. Nguyễn Kim Nhàn bị kết án 2 năm tù và 2 năm quản chế.
9. Nguyễn Mạnh Sơn bị kết án 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.
Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2009
Bài thơ của một người yêu nước mình
buổi sáng tôi mặc áo đi giầy ra đứng ngoài
đường
gió thổi những bông mía trắng bên sông
mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua
bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
tôi yêu đất nước này như thế
mỗi buổi mai
bầy chim sẻ ngoài sân
gió mát và trong
đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
tôi vẫn sống
vẫn ăn
đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu
mẹ tôi thức khuya dậy sớm
năm nay ngoài năm mươi tuổi
chồng chết đã mười mấy năm
thủa tôi mới đọc được i tờ
mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần
nước sông gạo chợ
ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi
nợ
sống qua ngày nên phải nghiến răng
cũng không vui nên mẹ ít khi cười
những buổi trưa buổi tối
ngồi một mình hay khóc
vẫn thở dài mà không nói ra
thương con không cha
hẩm hiu côi cút
tôi yêu đất nước này xót xa
mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
thương tôi nên ở goá nuôi tôi
những đứa bà con hằng ngày chửi bới
chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho
một đứa hủi
ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới
thắp ba cây hương
với mấy cái bông hải đường
mẹ tôi khóc thút thít
cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
con nó còn nhỏ dại
trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng
tôi yêu đất nước này cay đắng
những năm dài thắp đuốc đi đêm
quen thân rồi không ai còn nhớ tên
dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
áo mồ hôi những buổi chợ về
đời cúi thấp giành từng lon gạo mốc
từng cọng rau hột muối
vui sao khi còn bữa đói bữa no
mẹ thương con nên cách trở sông đò
hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
đêm nào mẹ cũng khóc
đêm nào mẹ cũng khấn thầm
mong con khôn lớn cất mặt với đời
tôi yêu đất nước này khôn nguôi
tôi yêu mẹ tôi áo rách
chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu
tôi bước đi
mưa mỗi lúc một to
sao hôm nay lòng thấy chật
như buổi sáng mùa đông chưa có mặt trời mọc
con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua
nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước
chim đậu trên cành chim không hót
khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may
tôi yêu đất nước này những buổi sớm mai
không ai cười không tiếng hát trẻ con
đất đá cỏ cây ơi
mười ba năm có héo mòn
đất đá cỏ cây ơi
lòng vẫn thương mẹ nhớ cha
ăn quán nằm cầu
hai hàng nước mắt chảy ra
mỗi đêm cầu trời khấn Phật tai qua nạn khỏi
ngày mai mua may bán đắt
tôi yêu đất nước này áo rách
căn nhà dột phên không ngăn nổi gió
vẫn yêu nhau trong từng hơi thở
lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài
thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai
tôi yêu đất nước này như thế
như yêu cây cỏ trong vườn
như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
nuôi tôi thành người hôm nay
yêu một giọng hát hay
có bài mái đẩy thơm hoa dại
có sáu câu vọng cổ chứa chan
có ba ông táo thờ trong bếp
và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen
tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
trong bước chân chim sẻ
ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
hay nói chuyện huyên thuyên
chuyện trên trời dưới đất rất lạ
chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
cứ hay cười mà không biết có người buồn
sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
ngó cây cam cây cải
thương mẹ già như chuối ba hương
em chưa buồn vì chưa rách áo
tôi yêu đất nước này rau cháo
bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
áo đứt nút qua cầu gió bay
tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan
tôi yêu đất nước này lầm than
mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển
ăn rau rìu rau éo rau trai
nuôi lớn người từ ngày mở đất
bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
một tiếng nói cũng đầy hồn thánh Gióng
tôi đi hết một ngày
gặp toàn người lạ
chưa ai biết chưa ai quen
không biết tuổi không biết tên
cùng sống chung trên đất
cùng nỗi đau chia cắt bắc nam
cùng có chung tên gọi Việt Nam
mang vết thương chảy máu ngoài tim
cùng nhức nhối với người chết oan ức
đấm ngực giận hờn tức tối
cùng anh em cất cao tiếng nói
bản tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập
tự do
bữa ăn nào cũng phải được no
mùa lạnh phải có áo ấm
được nói cười hát ca yêu đương không ai cấm
được thờ cúng những người mình tôn kính
hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định
tôi trở về căn nhà nhỏ
đèn thắp ngọn lù mù
gió thổi trong lá cây xào xạc
vườn đêm thơm mát
bát canh rau dền có ớt chìa vôi
bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc
mẹ bồng con lên non ngồi cầu ái tử
đất nước hôm nay đã thấm hồn người
ve sắp kêu mùa hạ
nên không còn mấy thu
đất nước này còn chua xót
nên trông ngày thống nhất
cho người bên kia không gọi người bên này là
người miền nam
cho người bên này không gọi người bên kia là
người miền bắc
lòng vui hôm nay không thấy chật
tôi yêu đất nước này chân thật
như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
và yêu tôi đã biết làm người
cứ trông đất nước mình thống nhất