Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước (2)

SỰ THẬT THỨ BA: NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO, HAY LÀ DANH KHÔNG CHÍNH THÌ NGÔN KHÔNG THUẬN

Đảng, Nhà nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.

Xin chứng minh

Trong Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ…

Chính sách hộ khẩu đã cấm tự do cư trú.

Quyền được biểu tình của dân bị cấm chỉ bởi một nghị định (do Thủ tướng Phan Văn Khải ký): cấm từ năm người trở lên tụ tập hay đi hàng dọc ngoài đường, ngoài phố. Anh bạn chúng tôi có 5 đứa con, cộng hai vợ chồng là 7 người, mỗi sáng Chủ nhật anh chị dẫn bầy con đi tập thể dục tại công viên cách nhà hơn cây số . Đoàn rồng rắn tí hon của anh chị không thể đi thành một hàng, mà phải bí mật xé lẻ thành hai tốp, anh dẫn 3 đứa con, chị dẫn 2 đứa con giả vờ không quen biết nhau, đi vào hai lề đường khác nhau, sợ đi chung sẽ bị công an bắt… Anh bạn này tâm sự: ra Quốc lộ số 1, qua một số đường phố ở các thành phố nhỏ, thấy trâu bò được ung dung đi thành bầy đàn hàng mấy chục con trên đường mà không bị công an bắt? Sao kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò: con bò còn được tự do tụ tập, tự do nghênh ngang rồng rắn trên đường, được Đảng và nhà nước đối xử tử tế hơn hẳn con người… là sao hở các ông trời con?

Tự do tôn giáo bị cái rọ tôn giáo quốc doanh cấm cản. Hàng trăm sư sãi, chùa chiền vốn theo một hệ phái Phật giáo riêng từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã bị cấm hoạt động, bắt phải vào Phật giáo quốc doanh, nếu không chịu quốc doanh hóa Phật giáo sẽ bị bắt. Công giáo cũng phải thành Công giáo quốc doanh. Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành… cũng phải vào quốc doanh thì sao gọi là tự do tôn giáo? Ở một đất nước không có TÔN GIÁO TƯ NHÂN, chỉ có TÔN GIÁO QUỐC DOANH mà cứ xưng xưng toe toét: Việt Nam có tự do tôn giáo.

Điều 4 trong Hiến pháp cho phép chỉ một mình Đảng Cộng sản được nắm quyền lãnh đạo mãi mãi, đã cấm mọi công dân tự do hoạt động chính trị, trong khi quyền người dân được tự do hoạt động chính trị ghi rõ ràng trong Hiến pháp. Điều 4 của Hiến pháp là điều không chính danh.

Đảng và Nhà nước có trên 700 tờ báo giấy báo viết báo hình. Xã hội tự xưng  là “nhân dân làm chủ: của dân, do dân, vì dân”, “cán bộ là đày tớ nhân dân”. Tai ngược thay, chính anh đầy tớ này được độc quyền ra báo, lại cấm ông chủ ra báo là sao? Marx – sinh thời từng ca ngợi nền tự do báo chí của chủ nghĩa tư bản. Marx lên án cay độc nhà vua Phổ kiểm duyệt báo chí theo kiểu nhà nước Việt Nam hôm nay lùa tất cả nền báo chí nước nhà vào cái rọ lề phải, đánh sập hơn ba trăm blog và website cá nhân trên Internet như lời khoe khoang của ông tổng cục phó Tổng cục An ninh Bộ Công an, trung tướng Vũ Hải Triều… Không có nền tự do báo chí tư sản, nền xuất bản tự do tư sản, không thể xuất hiện chủ nghĩa Marx. Nếu Karl Marx tái sinh xuất hiện giữa lòng Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay, chắc chắn cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị lính của ông Vũ Hải Triều bắt ngay tắp lự.

Khi người dân không có quyền ra báo tư, lập nhà xuất bản tư… cũng có nghĩa người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận.

Khi Hiến pháp đã cho công dân cái quyền thì người dân không phải đi xin. Hiến pháp bảo công dân có quyền sống, quyền làm người, vậy chả lẽ khi sống là phải thở, phải ăn, phải mặc, phải yêu vợ… thì cứ mỗi lần thở, mỗi lần ăn, mỗi lần mặc, mỗi lần yêu vợ… lại phải làm đơn xin phép công an à?

Hiến pháp của các nước dân chủ văn minh sinh ra để bảo vệ người dân, đảm bảo nhân quyền, dân quyền và mọi quyền tự do của dân, cốt yếu để ràng buộc kẻ cầm quyền. Hiến pháp nước ta hiện nay sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo Hiến pháp, tự tung tự tác, làm ngược lại Hiến pháp mà không bị luật pháp ràng buộc là sao?

Quốc hiệu nước ta hiện nay xưng là: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực ra có đúng không? Thưa không! Vì nền kinh tế nước ta từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, tức nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một chủ nghĩa tư bản hoang dã. Vậy quốc hiệu nước ta muốn sát với “sự thật của đất nước” như gợi ý của Ban Tuyên giáo, phải đặt lại là: “Cộng hòa Tư bản Chủ nghĩa Việt Nam” mới chính danh.

Chủ nghĩa xã hội nói cho cùng là một mô hình ảo, hoàn toàn không có thật. Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô, với mô hình xã hội chủ nghĩa trại lính (hay trại tập trung) đã phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ… để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Quốc hiệu của nước ta như vậy là không chính danh.

Cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” được gắn vào đít khái niệm kinh tế thị trường của nhà nước ta hiện nay là một cái đuôi giả, một cái đuôi nhựa chạy bằng cục pin sắp thối của Trung Quốc. Theo nghĩa từ điển: “định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng, mà điểm tới đã được xác định cụ thể. Ví dụ ông A hẹn ông B qua điện thoại, rằng mai ta gặp nhau ở Hồ Con Rùa, tập kết tại đó ăn sáng, uống café, định hướng Buôn Ma Thuột mà tới Plây-ku nhé! “Xã hội chủ nghĩa” là khái niệm ảo trên giấy, chưa có thật trên đời và sẽ không thể có thật vì nó dựa trên những nguyên lý ảo tưởng, bịa đặt, phi khoa học.

Đưa đất nước đi vào chỗ không có thật, định hướng tới cõi không có thật mà đến thì than ôi, thà giết đất nước đi còn hơn! Nên khẩu hiệu “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, nếu theo tiêu chí “hướng về sự thật” của Ban Tuyên giáo chỉ dẫn, phải đặt tên lại cho đúng với thực chất ngữ nghĩa của từ điển là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng. Không có sự thật đi kèm, mọi lý thuyết, mọi mô hình xã hội, mọi lời hứa đều là sai trái, ảo tưởng, hứa hão, đúng như K. Marx đã nói.

Đồng nghĩa Đảng Cộng sản là đất nước, đồng nghĩa chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc là không chính danh. Đảng Cộng sản mới chỉ có 5 triệu đảng viên, còn nhân dân Việt Nam ngoài Đảng chiếm đa số tới hơn 80 triệu dân, có phù phép kiểu gì, Đảng Cộng sản cũng không thể biến thành đất nước Việt Nam được. Đảng nghĩa là phe phái, là một nhóm người. Một nhóm người sao có thể biến thành tất cả được, nên danh từ ĐẢNG TA dùng để gọi Đảng Cộng sản là không chính danh. Liên Xô đã bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học. Lenin, Stalin, Mao… đã biến nhân dân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Đông Âu… thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu cộng sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đã thất bại hoàn toàn. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Âu giờ đã đi theo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, nên khẩu hiện “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là rất buồn cười, giống như nói “Yêu nước là yêu cái không có thật” vậy…

Quốc hội nước CHXHCN VN được Đảng Cộng sản và nhà nước phong cho là cơ quan lập pháp cao nhất của nhân dân Việt Nam là không chính danh. Vì thực tế, Quốc hội này chỉ là cơ quan ngoại vi của Đảng, do Đảng lãnh đạo; Quốc hội mà 98% dân biểu là đảng viên của một đảng duy nhất thì việc gọi Quốc hội này của dân là một trò hề, là không chính danh; Quốc hội này của Đảng, dân nào có quyền bính gì trong Quốc hội giả hiệu này?

Việc một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác lập phe đảng là không chính danh, không logic, không công bằng, không có luật hay chỉ là luật rừng?

Đảng Cộng sản Việt Nam không do nhân dân Việt Nam bầu ra, nên sự tồn tại của Đảng để tuyệt đối cầm quyền là không chính danh. Đúng như Mao nói rằng chế độ chuyên chính vô sản của ông ta là do súng đẻ ra: “Súng đẻ ra chính quyền”, tức là SÚNG BẦU RA CHÍNH QUYỀN… Mấy chục năm nay, người ta đã cố tình gọi nhầm SÚNG là DÂN: “súng bầu lên chính quyền thì lại nói dối là dân bầu”… Cũng giống như (giả dụ thôi, hi vọng đừng biến thành sự thật!) sau bài viết này, công an gọi tên Trần Mạnh Hảo lên… dọa bắn; Hảo ta vốn là một con cáy 64 tuổi biết cầm bút, thấy súng há mồm sắp đối thoại với mình, sợ vãi đái, tránh voi chẳng xấu mặt nào, nghĩ mình miệng hùm gan sứa, sức đâu cãi lại miệng súng, đành phải ký vào giấy cung khai rằng: báo cáo các anh, em đã nói sai, đã nói dối, vì Đảng ta và nhà nước ta từ xưa tới nay thật thà hơn đếm, có biết nói dối là gì đâu. Thế rồi báo An ninh hôm sau hí hửng: trước lý lẽ sắc bén và thực tế sáng ngời chính nghĩa của nhân dân, tên Hảo đã không đủ lý lẽ đối thoại, đã ăn năn hối lỗi vì dám vu cáo cho Đảng ta nói dối…

Việc Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 theo thuyết Marxism là không chính danh.

Marx bảo: chủ nghĩa tư bản xuất hiện với đại công nghiệp. Marx lại bảo phương thức kinh tế châu Á không nằm trong chủ nghĩa Marx. Marx phán: giai cấp vô sản là hệ quả của giai cấp tư bản. Nghĩa là tư bản đẻ ra vô sản. Trung Hoa, Việt Nam và cả châu Á, thế giới Ảrập, Ấn Độ, Mỹ Latinh, Phi Châu… trong thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20 chưa hề có chủ nghĩa tư bản. Năm 1930, Việt Nam chưa có ông bố tư bản, sao lại có đứa con tên là vô sản ra đời? Bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp vô sản là Đảng Cộng sản Đông Dương là không chính danh, là trái với thuyết Marxism, là xây nhà trước, xây nền nhà sau.

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương nêu khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ” là không chính danh. Diệt trí thức là diệt đi hai ông đại trí thức Marx-Engels ư? Trí thức là linh hồn của xã hội, diệt trí thức cũng có nghĩa là diệt luôn xã hội loài người.

Năm 1958 – 1960 Bắc Việt Nam (năm 1975 là cả nước) tuyên bố tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với “mo cơm và quả cà”, không thông qua con đường tư bản chủ nghĩa theo sự xúi dại của Lenin là không chính danh. Theo Marx, linh hồn của xã hội chủ nghĩa là đại công nghiệp; chỉ có nền nông nghiệp lạc hậu mà dám thí mạng cùi tiến lên xã hội chủ nghĩa là tiến lên toàn dân cùng chết đói, hay tiến lên công xã kiểu diệt chủng như Khmer Đỏ, tiến lên “đại nhảy vọt” kiểu Mao khiến mấy chục triệu người chết đói, dân chúng phải ăn thịt cả con mình như cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội do Thông tấn xã Việt Nam vừa phát hành đã kể.

Năm 1986, theo gương Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì chôn chủ nghĩa tư bản (như Marx-Engels dạy) đã quay ngược lại chôn chính học thuyết cộng sản, bằng cách xây dựng nền kinh tế tự do đa thành phần tư bản chủ nghĩa, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi chết đói. Theo Marx dạy: kinh tế nào, chính trị ấy: hạ tầng cơ sở kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc chính trị. Nay, kinh tế Việt Nam là tư bản tự do mà chính trị vẫn giữ nền chính trị độc tài xã hội chủ nghĩa là sai quy luật, là không chính danh, là đầu chuột đuôi voi, là ông nói gà bà nói thóc lép, là hồn Trương Ba, da hàng thịt…

Marx–Engels từng công khai tuyên bố trong trước tác của mình: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương pháp phê phán thế giới cũ để tìm được một thế giới mới… Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi…”. Rõ ràng, chính Marx và Engels đã coi học thuyết của mình chỉ là những giả thuyết, những phép thử, những phỏng định về tương lai, tuyệt nhiên không giáo điều cho lý thuyết của mình là chân lý vĩnh hằng. Những ai đã, đang coi học thuyết Marx là chân lý bất biến là đang chống Marx, là muốn dùng Marx giả, Marx dỏm bịt mắt trí thức và nhân dân để quyết câu giờ giữ quyền lực là không chính danh.

Theo định đề: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” của Marx, chúng ta thấy thực tế đã không chấp nhận cuộc thí nghiệm XÓA TƯ HỮU hãi hùng nhất trong lịch sử loài người của Marx-Engels-Lenin với tham vọng “XÓA TƯ HỮU, XÓA CÁ NHÂN, XÓA NHÀ NƯỚC, XÓA MÂU THUẪN, XÓA ĐẢNG CỘNG SẢN, XÓA CÁC GIAI CẤP VÀ ĐẢNG CỦA NÓ, XÓA CHÍNH BIỆN CHỨNG PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CỘNG SẢN ÁO TƯỞNG PHI BIỆN CHỨNG – NƠI KHÔNG CÓ CÁI DỐI TRÁ, KHÔNG CÓ CÁI ÁC ĐỘC VÀ CÁI XẤU XA, NƠI TUYỆT ĐỐI TỰ GIÁC, TUYỆT ĐỐI TỰ DO, TUYỆT ĐỐI GIÀU CÓ, TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ NGOẠI TÌNH, KHÔNG CÒN HÔN NHÂN, KHÔNG CÒN GIA ĐÌNH KIỂU CŨ, KHÔNG CÒN NGÂN HÀNG, KHÔNG CÒN TIỀN TỆ…”. Đó là một xã hội bịa đặt không có thật: vì không có cái ác thì cái thiện cũng bị triệt tiêu, không có cái ngụy thì cái chân cũng biến mất, không có cái xấu thì cái đẹp cũng chẳng còn…

Một trăm sáu mươi hai năm từ khi “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của Marx–Engels ra đời đến nay, hàng trăm triệu sinh mạng đã bị giết, hàng tỉ người bị tù đầy, bị ngược đãi để “các vị lãnh tụ kính yêu” làm cuộc thí nghiệm đẫm máu cải tạo thế giới từ TƯ HỮU sang CÔNG HỮU, từ TƯ BẢN sang VÔ SẢN, từ CÁ NHÂN sang TẬP THỂ, XÓA QUỐC GIA chỉ còn QUỐC TẾ, XÓA HOÀN TOÀN THẾ GIỚI CŨ, NHÂN LOẠI CŨ chỉ còn MỘT THẾ GIỚI MỚI TINH, NHÂN LOẠI MỚI TINH KHÔNG CÒN TRUYỀN THỐNG, KHÔNG CÒN LỊCH SỬ, KHÔNG CÒN QUÁ KHỨ, KHÔNG CÒN TÔN GIÁO… Chao ôi, khi một con người không còn quá khứ, một dân tộc không còn lịch sử, con người ấy, dân tộc ấy sẽ biến thành tinh tinh, xã hội tinh tinh hay thành những cục bột biết ca hát?… Rút cục, cuộc thí nghiệm cộng sản kinh hồn trên phạm vi toàn thế giới đã hoàn toàn thất bại. Những nước cộng sản cứng đầu nhất như Bắc Triều Tiên, Cuba hiện nay cũng đang rục rịch thí nghiệm mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, tập toẹ học lại những bước đi làm giàu vỡ lòng nhân loại đã có từ trước khi Marx ra đời. Đây là sự thật không thể nào chối cãi, dù cãi cối cãi chày bằng còng số tám hay nhà tù, họng súng v.v…

Cám ơn Marx, đã cho chúng tôi đề bài “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để làm một bài tập làm văn về sự thật này. Cám ơn ngài cố Tổng thống nước Ba Lan tự do Lech Kaczyński đã cho chúng tôi ý tưởng rất hay: chỉ có sự thật mới giải phóng con người, làm chủ đề bài tham luận. Chúng tôi cũng xin cám ơn tiêu đề của cuộc hội thảo “Văn học nghệ thuật hướng về sự thật đất nước” của Ban Tuyên giáo Trung ương đã gợi ý, khích lệ chúng tôi dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.

Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ đến truyện “Bộ long bào của vị hoàng đế” của văn hào Andersen. Thằng bé trong thiên truyện đã liều mạng xé toang bộ long bào hoang tưởng của vị hoàng đế kia bằng cách hét thật to: ông vua cởi truồng! Tiếng kêu thất thanh của chân lý ấy có làm đám đông đang bị quyền lực hôn mê, luôn miệng tung hô vị hoàng đế mặc bộ long bào đẹp nhất tỉnh ra hay không? Nhưng hình như ngay sau khi gọi sự vật bằng tên của nó, thằng bé do sự thật, do tự do phái đến đã biến mất. Do đó, mới còn biết bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế, ca ngợi các ngài khoác những bộ long bào tuyệt vời của trần gian…

Sự thật giản dị nhường ấy, sao bị cả đám đông lờ đi? Mới hay sự cám dỗ của dối trá có bùa ngải quỷ sứ, mê hoặc con người trong bóng tối, trong đe dọa, trong hấp lực của củ cà rốt treo trước miệng con lừa… Sự thật chỉ có thể tồn tại công khai dưới ánh sáng mặt trời. Xã hội của những hội kín vây bủa con người trong lừa mị, trong sợ hãi u u minh minh, luôn xua đuổi và cầm tù sự thật. Chối bỏ sự thật, những xã hội do băng đảng hội kín cầm quyền hầu như không bao giờ đi cùng đường với lẽ phải và công lý.

Chúng tôi không dám làm thằng bé trong thiên truyện kia của Andersen; làm vị thiên sứ của sự thật này, coi chừng khả năng biến mất là điều có thể xảy ra. Hãi quá!

Chúng tôi chỉ xin kể ra ba vị nhà văn Việt Nam hình như cũng đang thử đóng vai trò của thằng bé ấy, vai trò thiên sứ của sự thật, của tự do.

Đây là lời của nhà văn Đỗ Chu bùi ngùi, chua xót, khi ông nói về sự lãnh đạo của Đảng với nhà văn; sao nhà văn giống chú cún con ve vẩy đuôi theo ông chủ trong sân nhà thế: “Tớ yêu Đảng như yêu vợ. Vợ còn sống thì tớ nghe vợ. Vợ chết thì tớ lập bàn thờ khấn vái cho đến chết. Đảng cũng là vợ của tớ. Đảng bẩn thì tớ mua xà phòng cho Đảng tắm. Mua nước hoa cho Đảng thơm. Đảng nói thì không được cãi. Đảng bảo ăn là ăn. Đảng bảo uống là uống. Đảng bảo nằm là nằm. Đảng bảo lên giường là lên gường. Đảng bảo ra đường là ra đường…” (Trích bài “Nhà văn Đỗ Chu yêu Đảng như yêu vợ” của Nguyễn Trọng Tạo ngày 13/7/2010). Về việc này, mới thấy Nguyễn Vĩ xưa thánh thật, khi ông viết: “nhà văn An Nam khổ như chó!”.

Đây là mấy câu thơ của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Chính (con trai cố nhà văn Nguyễn Đình Thi, người rất nhiều năm trước và sau 1975 từng làm Tổng Thư ký – ngày nay gọi là Chủ tịch – Hội Nhà văn Việt Nam): “Mấy thằng bạn văn nghệ chửi đổng hát hay / Cổ họng rắn hổ mang trơn tuột liếm mồi trong các HỘI ĐOÀN / hót hít chính trị như chó hít hóng cứt…” (Trích trong bài thơ “Đêm Sài Gòn” in trong tập thơ Chẹc chẹc của Nguyễn Đình Chính, do Tân Hình thức Publishing Club ấn hành trên mạng 2010).

Đây là nhà văn đại tá công an Mai Vũ, trước Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, đã lên tiếng đòi tự do sáng tác, mặc dù từ năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cởi trói cho các nhà văn:

“Đây là vấn đề nhạy cảm mà không phải ai cũng có dũng khí dám nói thật. Nhằm thiết lập một trật tự xã hội tư duy đồng chiều, chúng ta đã chính trị hóa mọi đời sống xã hội. Điều đó thật tai hại, nó làm khô héo tinh thần dân tộc. Chính trị hóa khoa học đã dẫn đến phủ nhận chân lý khách quan, làm méo mó khoa học. Trong lịch sử Xô Viết trước kia, đã có thời người làm vườn Lưxenkô – Mitsurin được tôn vinh như những nhà cải cách vĩ đại, còn Mooc găng, Menđen là những kẻ phục vụ chủ nghĩa tư bản vì thuyết gen di truyền. Kết quả, nhà di truyền học thiên tài Vavilôp đã phải tự sát, còn nền di truyền học nước Nga thì lụn bại, để lại một vết nhơ đau đớn trong đời sống khoa học xã hội Xô Viết. Đó là vụ ngụy khoa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Chính trị hóa giáo dục cũng chỉ đẻ ra những chiến binh đánh bom tự sát, chứ không đẻ ra những công dân xây dựng tương lai.

Hội Nhà văn không phải là dàn hợp xướng để hát theo cái gậy chỉ huy của người nhạc trưởng. Nó là lãnh địa của những tư duy và sáng tạo cá nhân, nó là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn lấy sứ mạng phục vụ Tổ quốc và nhân dân trên hết.
Nhà văn viết theo mệnh lệnh của trái tim, mà trái tim nhà văn thuộc về Tổ quốc và nhân dân. Anh ta là tội đồ và đáng nguyền rủa nếu thóa mạ Tổ quốc và dân tộc. Còn khuynh hướng chính trị tùy thuộc quyền lựa chọn của mỗi nhà văn. Hãy để con ngựa Văn tung vó trên cánh đồng bát ngát của tự do” (“
Về Hội nhà văn của chúng ta” của Mai Vũ, in trên website Trần Nhương ngày 11-7-2010)

Tiếp nối ba nhà văn trên, chúng tôi xin mời quý vị đọc lại bài thơ “Bài ca sự thật” của chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) đã in trên báo Tuổi trẻ số tất niên ngày 24- 01-1987

BÀI CA SỰ THẬT

Sự thật của tôi
Sự thật của anh
Sự thật của chúng ta
Sự thật của mọi người?

Nhân loại có bao thời
Sự dối trá làm quan toà phán xử
Bru-nô ơi trái đất vẫn tròn
Mà chân lý nghìn sau còn trả giá

Nhưng đất nước vẫn đi tìm sự thật
Trong câu hát có mồ hôi nước mắt
Có con nghê đá đầu đình cười cợt các triều vua
Có thằng Bờm chẳng tin lời hứa hão
Cái quạt mo không để phú ông lừa
Vua Hùng ơi Người đi tìm sự thật
Bằng cách ngày đầu năm xuống ruộng cày bừa

Bao triều đại xưa đổ vì ưa nói dối
“Muốn nói gian làm quan mà nói”
Sự thật giấu trong nhà dân đen
Sự thật từng vật vờ đi như ăn mày đầu đường xó chợ
Sự thật làm anh hề, chú mõ
Sự thật như nàng Thị Kính oan khiên
Sự thật trốn vào ngụ ngôn, ngạn ngữ sấm truyền
Sự thật có khi mượn Xuý Vân mà giả dại
Sự thật chiếc lá đa bay qua bao thời đại
Bay về đây trời nổi can qua
Con vua thất thế quét chùa sãi ơi!

Vĩnh biệt chú Cuội
Vĩnh biệt thành tích ma, báo cáo láo thành thần
Bệnh hình thức gọi sai tên sự vật
Người đói phải nói lời no
Vị đắng sao lại kêu là mật?
Ngục tù mang nhãn hiệu tự do!

Vĩnh biệt khái niệm quét vôi và từ ngữ nước sơn
Đạo đức dính trên đầu môi chót lưỡi
Vĩnh biệt những bóng ma cơ hội
Những cái đầu già cỗi tự bên trong
Những con mắt nhìn người bằng bóng tối
Có nhận ra tia nắng mới trong lòng ?

Tôi là người tập yêu sự thật
Tập nghe nên có lúc ù tai
Tập nhìn nên chói mắt
Đất nước đổi thay
Cơn đau đẻ những dòng sông quằn quại!

Hạt thóc và hạt máu có bao giờ nói dối?
Bốn nghìn năm dân tộc tôi
Đi từ bờ bên kia
Đến bờ bên này của sự thật
Để mỗi con người hôm nay trên mặt đất
Được cầm trong tay một tia nắng mặt trời…

Sài Gòn ngày 15-1-1987
Trần Mạnh Hảo

_____________

Để kết thúc bản tham luận, xin kính mời quý vị cùng chúng tôi hô 3 khẩu hiệu sau:

Khẩu hiệu một:

KHÔNG CÓ SỰ THẬT, KHÔNG CÓ LẼ PHẢI VÀ CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: không có, không có, không có)

Khẩu hiệu hai:

CHỈ CÓ SỰ THẬT MỚI GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

(xin hô ba lần: chỉ có, chỉ có, chỉ có)

Khẩu hiệu thứ ba:

SỰ THẬT LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ

(xin hô ba lần: tiêu chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chuẩn)

Xin cám ơn quý vị.

Viết tại Sài Gòn 26-07-2010

© 2010 Trần Mạnh Hảo

© 2010 talawas

Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước (1)

(Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, soạn theo thư  “mời viết tham luận” của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhờ nhà thơ Trần Đăng Khoa đọc giùm – cám ơn!)

“Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”

K. Marx

Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút,

Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!

Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia.

Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Chìa khóa cuối cùng giúp con người được giải phóng, được hoàn toàn tự do, chính là sự thật, một sự thật không còn bị giấu như loài mèo giấu của quý. Karl  Marx  đã tôn vinh sự thật lên tột cùng của nhận thức luận và phương pháp luận: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”: không có sự thật đi kèm, mọi kết luận, mọi lý thuyết, mọi khế ước, mọi hội kín, mọi cuộc cách mạng đều chỉ là ngụy lý, ngụy tạo, là lừa bịp. Cố Tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński (1949-2010) người vừa bị tử nạn trong vụ rơi máy bay trên đường bay đến rừng Katyn tham dự lễ kỷ niệm 22.440 người con ưu tú của dân tộc Ba Lan bị Hồng quân Liên Xô chôn sống hồi đầu chiến tranh thế giới thứ hai; trong bài diễn văn viết sẵn mà ông không còn cơ hội để đọc, có đoạn viết như sau: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất luôn luôn giải phóng cho con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hòa hợp.”

Lấy ý tưởng từ câu cách ngôn kinh điển của K. Marx và lời trăn trối thiêng liêng thống thiết lớn lao của ngài cố Tổng thống Ba Lan trên, chúng tôi viết bản tham luận theo yêu cầu của Hội Nhà văn Việt Nam này.

Dostoyevsky, nhà văn vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga và thế giới, từng tuyên ngôn rất hoa mỹ, rằng: “Cái đẹp sẽ cứu chuộc thế giới”. Chúng tôi thêm: “Sự thật sẽ cứu chuộc thế giới”. Sự thật sẽ cứu chuộc nền văn học của chúng ta, cứu chuộc Tổ quốc ta, nếu chúng ta cả gan một lần cùng nhau: “Gọi sự vật bằng tên của nó” theo cách ngôn của phương Tây.

Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử.

Chúng tôi viết bản tham luận này cũng để nhằm hưởng ứng cuộc hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” do Ban Tuyên giáo Trung ương vừa tổ chức tại Đà Lạt trong hai ngày 12-13/7/2010 với hơn hai trăm văn nghệ sĩ và các nhà lý luận phê bình hàng đầu Việt Nam tham dự. Cuộc hội thảo dũng cảm kêu gọi văn nghệ sĩ từ trên mây tỉnh giấc, quay về với hiện tình đất nước, do GS.TS. Phùng Hữu Phú (Ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương), chỉ đạo. Theo Đại từ điển tiếng Việt trang 803, từ “hiện thực” có nghĩa như sau: “Cái có thật, tồn tại trong thực tế” (Bộ Giáo dục & Đào tạo–Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam-NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 1998). Như vậy, khái niệm “hiện thực” chính là sự thật đã và đang xảy ra trong thực tại trên đất nước ta. Cuộc hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương vừa qua có thể được gọi bằng một cách khác: “Văn học nghệ thuật phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ánh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.

Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “Các thế lực thù địch (xin lỗi, tiên sư nó) nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, Ban Tuyên giáo Trung ương (xin lỗi) nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…” thì quả là chưa chắc; bằng chứng là trong hoàn cảnh đất nước mà sự thật trốn biệt như hôm nay, thì việc Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn chúng ta hãy mở mắt, từ bỏ giấc nam kha vô tích sự quá dài để nhìn vào sự thật, nói lên sự thật đất nước, là một việc làm quá đúng.

Tất nhiên, sự thật mà Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn nhìn nhận được nhìn bằng mắt thường, chứ không phải sự thật bịt mắt bắt dê, hay sự thật được nhìn bằng mắt kẻ khác, nhìn bằng những thấu kính ảo, kính lồi, kính lõm, hay chiếc gương chiếu yêu, chiếu bóng… Thâm ý của Ban Tuyên giáo Trung ương hình như muốn chúng ta tìm lại phong trào “Nói thẳng, nói thật” thời kỳ Đổi mới năm 1986 -1987 do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phát động?

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ năm 1987, đã làm gương nói thẳng nói thật, khi ông đặt vấn đề rốt ráo cho văn học nghệ thuật là nhà nghệ sĩ phải có tự do sáng tác; ông nói: “Cởi trói như thế nào, cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí… Tôi cho rằng khi những sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Rõ ràng, qua lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng đã thừa nhận từng trói văn nghệ sĩ và trí thức rất nhiều năm. Lần này, Ban Tuyên giáo Trung ương, thông qua cuộc hội thảo cấp nhà nước “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích kẻ hèn này là chúng tôi nói lên sự thật, toàn là những sự thật chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thật lúc này không có lợi”. Chả lẽ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K. Marx làm bùa hộ mệnh: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.

Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi xin kể ra SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lảng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “ thất phu” thay vì “ hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “tắc trách”… Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của Đảng và nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sự thật mà chúng tôi gọi tên trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quý vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi thì quý vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng; chỉ vì đuối lý mà quý vị mới phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quý vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hi vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi.

SỰ THẬT MỘT

Chưa bao giờ số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc  chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”. Đến nỗi, khi giặc chiếm Hoàng Sa rồi đặt tên quận huyện cho quần đảo này, sinh viên thanh niên biểu tình chống giặc lại bị nhà nước Việt Nam bắt. Vậy, nhà nước chúng ta hiện nay đứng về phía ngoại bang xâm lược hay đứng về phía nhân dân ta? Cũng chưa bao giờ như hôm nay, thiên nhiên và môi trường sống trên nước ta lại bị phá hoại khủng khiếp như thế: rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải… Một ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và rất nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông hiệu trưởng trường trung học Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh là học sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh. Nghe nói ông Nguyễn Trường Tô, ông Sầm Đức Xương từng là những người nhiều năm liền được bằng khen vì thành tích học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Một sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa từng là đoàn viên thanh niên cộng sản ưu tú, đã ra tay giết và cướp của chính người yêu cũ của mình một cách man rợ, không phải là cá biệt trong một xã hội con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau được đưa tin đầy tràn trên các trang báo lề phải. Lối sống vô đạo đức, hành vi vô luân, con người ứng xử với con người man rợ hơn dã thú đang là vấn nạn quốc gia, có thể đưa một dân tộc vốn có văn hóa, văn hiến bốn nghìn năm tới chỗ diệt vong… Không nhìn ra những nguy cơ chết người này, liệu 100 năm nữa Tổ quốc Việt Nam chúng ta còn tồn tại không? Dòng giống con Lạc cháu Hồng còn tồn tại không?

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23.000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục… đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính? Đây là dấu hiệu suy vong lớn nhất của dân tộc do nền giáo dục thiếu tính nhân văn, thiếu tính chân thật gây ra. Những quả bom B52 tinh thần là nền giáo dục đi chệch hướng chân thiện mỹ đang rải thảm lên tinh thần dân tộc, thì ai là người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây?

Than ôi, sau những quả bom tinh thần có tên là giáo dục mà chế độ tự ném vào mình, chỉ cần ngoại bang ném bồi thêm mấy quả bom thật vào hai đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình là đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội sẽ biến mất, dân tộc sẽ biến mất… Hai đập thủy điện khổng lồ trên nghe đâu lại nằm trên vết nứt động đất… mới hãi hùng làm sao? Đầu nguồn sông Hồng, đầu nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã và đang xây hàng trăm đập thủy điện, khiến hai con sông chính của đất nước khô cạn dần, không còn đủ nguồn nước tưới cho hai đồng bằng chính nuôi sống dân tộc. Cách Móng Cái 60 km, tại Phòng Thành, Trung Quốc đang xây nhà máy điện hạt nhân rất lớn; nếu có sự cố kiểu Chernobyl vào mùa gió bấc, Hà Nội và dân đồng bằng Bắc Bộ có thể sẽ chết hết vì nhiễm phóng xạ hạt nhân…

SỰ THẬT HAI

Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không? Không! Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền! Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi. Vụ tham nhũng mới nhất như một đòn hiểm ác đánh một cú chí tử vào đất nước là tập đoàn Vinashin – một nấm đấm thép của chính phủ – đã cướp đi của nhân dân số tiền khổng lồ là 80.000 tỷ đồng. Cứ thử làm tròn dân số nước ta là 90 triệu người (thực ra dân số Việt Nam mới chỉ trên 85 triệu dân), vị chi mỗi người dân vừa bị tập đoàn quốc doanh Vinashin cướp đi gần 9.000.000 đ. Chín triệu đồng với người nông dân là một nguồn vốn lớn: một gia đình nông dân có bốn nhân khẩu chẳng hạn, đã vừa bị Vinashin cướp đi nhãn tiền 36.000.000 đ. Đã có bao nhiêu tập đoàn Vinashin cướp hết tiền của nhân dân trong quá khứ, trong hiện tại chưa bị phát hiện? Những nấm đấm thép của chính phủ như các tập đoàn kinh tế: tập đoàn Than, tập đoàn Điện, tập đoàn Khoáng sản… đã và đang đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam. Theo kiểm toán nhà nước, năm 2008, các tập đoàn kinh tế – nắm đấp thép – đã làm thất thoát 10 tỷ đô la. Năm 2009, số thất thoát (đổ tội cho lỗ vốn) cũng không nhỏ hơn số 10 tỷ đô la năm trước. Các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các công ty quốc doanh đang là đại họa cho quốc gia; chứng tỏ thành phần kinh tế rường cột của mô hình xã hội chủ nghĩa này đã hoàn toàn thất bại. Về quốc nạn tham nhũng, bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế cao cấp của chính phủ đã phải cay đắng thừa nhận “bọn nắm đấm thép – chúng nó ăn hết tiền của dân rồi” như sau: “Một khi vẫn còn các ông lớn chủ đạo vẫn ngốn hết nguồn lực của đất nước và thâu tóm hết quyền thiết kế chính sách có lợi cho mình, thì làm sao thằng nhỏ động lực kinh tế tăng tốc được” (Tuần Việt Nam 22/07/2010).

Tại sao nhà nước ta hiện nay vốn có hai chính quyền cồng kềnh, chồng chéo nhau, giẫm đạp lên nhau: một chính quyền theo hệ Đảng và một chính quyền theo hệ nhà nước với hàng vạn ban thanh tra, hàng vạn chi bộ bốn năm sáu tốt, với hầu hết mấy triệu đảng viên gương mẫu đều đã học tập tốt đạo đức Bác Hồ, mà giặc tham nhũng lại ngang nhiên hoành hành trắng trợn từ vi mô đến vĩ mô đến như vậy? Quan tham nhìn từ xã trở lên không thấy lao động chân tay, không thấy lao động trí óc, chỉ sử dụng một thứ lao động có tên là LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO mà ai ai cũng giàu có hơn dân thường hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng tỉ lần là sao? Chung quy lại, có phải là do thể chế sai, mô hình chính trị sai: VỪA ĐÁ BÓNG VỪA THỔI CÒI, VỪA ĐI THI, CHẤM GIẢI VỪA PHÁT GIẢI VỪA ĐƯỢC LÃNH GIẢI. NHÀ NƯỚC – ĐẢNG MỘT MÌNH MỘT CHỢ: VỪA THAM NHŨNG VỪA CHỐNG THAM NHŨNG? Xin hỏi: tay phải tham nhũng, liệu tay trái có dám cầm dao chặt được tay phải hay không?

Linh hồn triết học duy vật biện chứng Marxism nằm ở câu kinh mà đảng viên cộng sản nào cũng phải thuộc làu làu: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Chỉ trừ nền chính trị của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không hề nằm trong quy luật vận động này của Marx, vì nó triệt tiêu đối lập chính trị!

Nền  chính trị độc đảng, độc quyền của nước ta hôm nay đang chống lại biện chứng pháp Marxism. Trong phép biện chứng do Hegel sáng tạo, Marx tiếp thu, có ba nhịp như sau: xuất đề, phản đề và tổng đề. Phản đề hay đối lập chính là linh hồn của biện chứng pháp Marxism. Chối bỏ đối lập, triệt để cấm phản đề, cấm đối lập chính trị, nền chính trị của nước ta ngày nay đang chống lại chính cái lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà nó thề nguyền đi theo, thành ra một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời Trung cổ bên châu Âu.

Hãy xem khẩu hiện rất duy tâm, hoàn toàn chống lại thuyết Marxism của Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh MUÔN NĂM”. Marx từng giải thích tại sao loài người thống khổ: vì loài người còn phân chia giai cấp. Mục đích của Marx là làm cho nhân loại tiến đến đại đồng, tức tiến đến thiên đường cộng sản. Muốn đến thế giới cộng sản, phải xóa bỏ các giai cấp: xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ giai cấp vô sản, xóa bỏ nhà nước, xóa bỏ công an, quân đội, tất nhiên phải xóa bỏ cả Đảng Cộng sản, vì Đảng Cộng sản là đảng của giai cấp vô sản. Mà khi xóa bỏ giai cấp, thì đảng của giai cấp cũng không còn. Hô “Đảng Cộng sản Việt Nam MUÔN NĂM” cầm bằng như hô: “Xã hội loài người có giai cấp muôn năm”! Rõ ràng hô như vậy là treo cổ chủ nghĩa Marx, là không chính danh, là tự xóa bỏ tính mục đích của Đảng Cộng sản.

(còn 1 kì)

© 2010 Trần Mạnh Hảo

© 2010 talawas

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Việt Nam: từ xuất khẩu lao động đến nạn buôn người

Song Chi phỏng vấn ông Vũ Quốc Dụng
"Ở đây chúng ta thấy vấn đề buôn người tại VN đã ở mức độ nghiêm trọng. Thứ nhất là bởi vì nhà nước VN có chính sách xuất khẩu lao động, mà khi nói đến chữ xuất khẩu lao động thì người ta có cảm tưởng là xuất khẩu những món hàng, không có sự xem trọng nhân phẩm, nhân quyền của người lao động. Vì bị xem là những món hàng để trao đổi nên người lao động rất dễ rơi vào tình trạng bị bóc lột. Thứ hai là bởi vì chính sách đó nhằm mục đích làm sao đưa được càng nhiều người xuất khẩu lao động càng tốt, thành ra các công ty môi giới lao động tha hồ chạy theo chỉ tiêu."

Phần 1

Từ nhiều năm nay, theo chính sách xuất khẩu lao động nhằm mục đích vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước, vừa thu được ngoại tệ về cho quốc gia, nhà nước Việt Nam đã ký kết thỏa thuận với nhiều quốc gia khác nhau để đưa người lao động Việt Nam sang làm việc tại các nước đó. Con số người lao động Việt Nam rời nước ra đi làm thuê lên đến hàng chục ngàn người mỗi năm. Theo báo cáo Cục quản lý Lao động nước ngoài của Việt Nam, năm 2008 có trên 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 nước trên thế giới. Thực tế, trong rất nhiều trường hợp, việc đưa người đi lao động ở nước ngoài trong điều kiện còn những kẽ hở về luật pháp như lâu nay đã dẫn đến tình trạng nô lệ lao động mới và nạn buôn người để bóc lột sức lao động.


Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vũ Quốc Dụng, Tổng thư ký Hiệp hội nhân quyền quốc tế (ISHR), Frankfurt, Đức (hiệp hội này là một thành viên của CAMSA, Liên minh bài trừ nô lệ mới ở Á Châu) về vấn đề này.



+ Trước hết xin anh giới thiệu một chút về tổ chức CAMSA?


- CAMSA tức là tên viết tắt tiếng Anh của Liên minh bài trừ nô lệ mới ở Á Châu (Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia).


Được thành lập vào tháng 2.2008, Liên minh CAMSA là một mạng lưới gồm 5 tổ chức -2 tổ chức ở Hoa Kỳ, một tổ chức ở Canada, một ở Đức và một ở Malaysia. Họ là những tổ chức độc lập với nhau, hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, và không phải chỉ là tổ chức của người Việt. Ví dụ như tổ chức của chúng tôi là Hiệp hội nhân quyền quốc tế của Đức (ISHR), là một tổ chức quốc tế chuyên bảo vệ các nhân quyền dân sự và chính trị. Các tổ chức này đồng ý làm việc với nhau trên một dự án là bài trừ vấn đề buôn người ở Á Châu.

CAMSA được thành lập với chủ trương bài trừ tận gốc nạn buôn bán người lao động Việt Nam, nhưng trong quá trình giúp đỡ cho người lao động Việt Nam mà gặp những người lao động của các nước khác bị nạn thì chúng tôi cũng giúp luôn. Công việc của chúng tôi là can thiệp trực tiếp để cứu giúp cho các công nhân bị nạn, từ đó phăng ra và phá vỡ những đường dây buôn người. Chúng tôi muốn ảnh hưởng đến các chính sách của Việt Nam cũng như của các quốc gia tiếp nhận người lao động để sửa đổi cơ chế, ngăn ngừa tình trạng buôn người lan rộng, mặt khác nâng cao nhận thức của người dân để họ có khả năng tự bảo vệ chính họ.

Khi nói đến vấn đề buôn người, liên minh CAMSA đặt trọng tâm vào vấn đề buôn người lao động vì chúng tôi xem đây là một vấn đề đang phát triển mạnh trong thời đại toàn cầu hóa nhưng quốc tế lại chưa quan tâm đầy đủ. Thông thường lĩnh vực buôn bán phụ nữ hay trẻ em để mãi dâm dễ gây xúc động lòng người hơn. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy vấn đề buôn phụ nữ và trẻ em để khai thác về tình dục thường do tư nhân hoạt động một cách lén lút ở tầm cỡ nhỏ, trong khi đó đường dây buôn lao động tại VN dựa vào các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước và hoạt động công khai, được luật pháp quốc gia hỗ trợ, thành ra nó có thể di chuyển hàng trăm ngàn người mỗi năm và nhiều khi còn có sự bảo hộ của giới chức chính quyền nữa. Nói tóm lại trong số 500 ngàn người lao động Việt Nam hiện nay ở nước ngoài, nếu chúng ta xét theo tiêu chuẩn buôn người của quốc tế thì ít nhất cũng có 100 ngàn người được xem là thành phần nạn nhân của nạn buôn người.

+ Kể từ khi thành lập cho đến nay, CAMSA đã làm được những gì, thưa anh?

- Chỉ trong vòng một năm sau khi thành lập CAMSA đã can thiệp cho 30 vụ lớn nhỏ, ảnh hưởng đến 3000 công nhân. Ví dụ như chúng tôi can thiệp và giải cứu cho 176 nữ công nhân người Việt tại Jordani bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập một cách hết sức dã man. Chúng ta biết rằng một trong những người đứng ra tổ chức giúp đỡ các chị em này, là chị Phương Anh vừa mới được đi tị nạn chính trị tại Hoa kỳ vào ngày 7.7 vừa rồi. Chị Phương Anh đứng ra giúp đỡ cho những người công nhân nên bị chính quyền VN xem là người cầm đầu, từ đó họ đã gây khó khăn cho cá nhân cũng như cho gia đình chị. Thành ra trong trường hợp này chúng tôi thấy chị không còn cách nào khác là phải đi tị nạn.

Hoặc trường hợp 1300 công nhân VN làm việc và bị bóc lột trong một hãng may mặc nổi tiếng của quốc tế - hãng Esquel, trụ sở chính đặt tại Hongkong , được chúng tôi giúp vào năm 2008. Chúng tôi can thiệp cho họ đồng thời cũng can thiệp cho 1300 công nhân của các quốc gia khác cũng làm việc trong hãng đó được hưởng những quyền lợi như công nhân Việt. Tổng cộng là 2600 công nhân đó cuối cùng đã được bồi thường gần 1 triệu Mỹ kim.

+ Trước khi tổ chức CAMSA được thành lập, các nước trên thế giới đã ý thức về vấn đề người lao động có thể là nạn nhân của vấn đề buôn người chưa?

- Định nghĩa về hành vi buôn người trong Hiệp định thư Palermo (Palermo Protocol) nêu rất rõ một trong những mục đích của việc buôn người là nhằm bóc lột sức lao động chứ không phải chỉ có bóc lột về tình dục hay mãi dâm. Nguồn gốc sâu xa của nạn buôn người là vấn đề buôn nô lệ. Vấn đề nô lệ xa xưa thực ra là vấn đề bóc lột sức lao động.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa của thế giới, khi mà biên giới giữa các nước được đi lại dễ dàng, khi mà các quốc gia cùng tìm cách phát triển về kinh tế thì thành phần lao động tay nghề kém ở những nước nghèo rất dễ bị bóc lột. Nhiều chính phủ cũng sử dụng yếu tố mức lương thấp để đưa những người lao động sang nước ngoài nên rất dễ xảy ra tình trạng buôn người theo luật quốc tế. Đó là điểm mới mà chúng tôi đóng góp vào, chúng tôi gây ý thức rằng trong việc trao đổi về kinh tế có thể tiềm ẩn vấn đề buôn người lao động.

+ Được biết, vào cuối tháng 6.2010 vừa rồi Hoa Kỳ đã đưa VN vào danh sách những quốc gia cần phải quan tâm theo dõi về nạn buôn người. Tại sao?

- Những hoạt động của chúng tôi đã gây cho Hoa Kỳ chú ý về vấn đề buôn người để bóc lột sức lao động. Trong bản báo cáo thường niên mà họ vừa công bố, họ đã dùng rất nhiều bằng chứng do chúng tôi đưa ra. Chúng tôi đã thuyết phục họ rằng dựa trên những tiêu chuẩn về vấn đề buôn người quốc tế thì rõ ràng những trường hợp này có yếu tố của vấn đề buôn người, trong đó chính phủ Việt Nam đã không hoàn thành đủ trách nhiệm của họ. Chúng ta sẽ thấy trong rất nhiều trường hợp, chính phủ VN còn cố gắng bao che cho thủ phạm, bưng bít vấn đề cũng như đe dọa cả những nạn nhân. Tất cả những lý do đó khiến cho Hoa Kỳ đã phải nâng VN từ hạng hai không bị theo dõi lên hạng hai bị theo dõi. Hoa Kỳ cũng đưa ra 12 biện pháp để yêu cầu VN phải thay đổi và những biện pháp này cũng trở thành những tiêu chuẩn để xét xem VN có tiến bộ hay không. Nếu trong vòng hai năm mà Hoa Kỳ xét thấy VN vẫn không thực hiện những thay đổi đáng kể thì VN sẽ tự động bị rớt xuống hạng ba và lúc đó sẽ tự động bị chế tài theo luật chống buôn người của Hoa Kỳ.

+ Trên thế giới đã có những quốc gia nào bị xếp vào hạng ba về tình trạng buôn người và bị Hoa Kỳ và các nước thực hiện biện pháp chế tài chưa, thưa anh?

- Trước đây Đài Loan cũng có tình trạng buôn người khá nặng và cũng đang ở hạng hai (Tier two), sắp rớt xuống hạng hai cần phải theo dõi chặt chẽ (Tier two watch list). Chúng tôi đã giúp cho chính phủ Đài Loan đối phó với tình trạng buôn người và cải thiện hình ảnh của mình. Từ một số ý kiến đóng góp của chúng tôi chính phủ Đài Loan đã đưa ra được một bộ luật chống buôn người rất là tiến bộ, và nhờ những cố gắng của chính phủ Đài Loan trong thời gian vừa rồi mà trong bản báo cáo thường niên năm nay Đài Loan được đưa lên hạng một. Hoặc là Malaysia hồi năm 2007 cũng nằm ở hạng 3, sau đó đã đưa ra một bộ luật chống buôn người thì được lên hạng 2 cần phải theo dõi chặt chẽ vào năm 2008, nhưng vì chẳng chịu áp dụng đạo luật này nên lại bị rớt xuống hạng 3 vào năm 2009. Năm nay thì Malaysia nằm ở hạng 2 cần được theo dõi chặt chẽ (giống như VN). Ở đây chúng tôi cũng có những cuộc vận động để cho các chính phủ khi đưa ra luật thì họ cũng phải làm việc theo đúng cái luật đó chứ không phải dùng luật chỉ để làm kiểng.

+ Nếu so sánh với các quốc gia khác, cụ thể là so sánh với Đài Loan và Malaysia thôi thì anh thấy mức độ tình trạng buôn người ở VN như thế nào?

- Ở đây chúng ta thấy vấn đề buôn người tại VN đã ở mức độ nghiêm trọng. Thứ nhất là bởi vì nhà nước VN có chính sách xuất khẩu lao động, mà khi nói đến chữ xuất khẩu lao động thì người ta có cảm tưởng là xuất khẩu những món hàng, không có sự xem trọng nhân phẩm, nhân quyền của người lao động. Vì bị xem là những món hàng để trao đổi nên người lao động rất dễ rơi vào tình trạng bị bóc lột. Thứ hai là bởi vì chính sách đó nhằm mục đích làm sao đưa được càng nhiều người xuất khẩu lao động càng tốt, thành ra các công ty môi giới lao động tha hồ chạy theo chỉ tiêu.

+ Xin lỗi ngắt lời anh nhưng tôi không rõ lắm ở những quốc gia như Đài Loan hay Malaysia chính phủ của họ có những chủ trương, chính sách xuất khẩu lao động như VN hay không và những công ty môi giới lao động của họ có phải cũng do nhà nước đứng phía sau như ở VN không để nói rằng vấn đề buôn người ở VN nghiêm trọng hơn?

- Vấn đề của VN là các công ty môi giới tuyển mộ lao động là công ty quốc doanh hoặc bán quốc doanh nên họ độc quyền và được nhà nước bảo vệ. Còn ở các nước khác những công ty tư nhân một mặt phải cạnh tranh với nhau, mặt khác nếu có công ty nào làm ăn không tốt thì báo chí sẽ lên tiếng, sẽ khai thác chuyện đó. Trong khi đó ở VN có những công ty môi giới làm ăn rất tồi hoặc đưa đến những hậu quả rất tệ hại cho người công nhân, ví dụ như vụ ở Jordani mà chúng tôi nói khi nãy, mà vẫn tồn tại đến bây giờ. Có những tờ báo như báo Tuổi Trẻ muốn tường thuật về vụ này thì cuối cùng chúng tôi biết là có những chỉ thị ở trên không cho báo Tuổi Trẻ được tiếp tục đưa tin vể vụ này nữa.

Hoặc có những kẻ rõ ràng là phạm pháp khi đưa người lao động ra nước ngoài để bóc lột sức lao động, nhưng khi các nạn nhân về nước và tố cáo với chính quyền thì hệ thống tư pháp của VN lại không thụ lý những vụ án đó, là vì trong bộ luật hình sự của VN chỉ có tội buôn phụ nữ và trẻ em, không có tội buôn người để bóc lột sức lao động. Còn nếu các nạn nhân mà tố cáo họ về tội lừa đảo hoặc làm trái hợp đồng lao động thì các cơ quan Viện kiểm sát hay Tòa án VN cũng làm ngơ không thụ lý. Nhiều nạn nhân đã tranh đấu, đã đình công để chống lại sự bóc lột ở Jordani hay ở nước ngoài thì khi về VN họ lại bị “nạn nhân hóa” thêm một lần nữa khi bị chính quyền VN gây khó dễ hoặc dọa dẫm.

+ Tình trạng đó có diễn ra ở các quốc gia khác không, ví dụ như Đài Loan, Malaysia, nhà nước có hăm dọa,làm khó dễ người lao động không?


- Tôi chưa gặp trường hợp nào xảy ra thường xuyên một cách trầm trọng như ở VN. Ví dụ như chúng tôi hoạt động ở Đài Loan thì chúng tôi thấy xã hội dân sự bên Đài Loan rất mạnh, tức là họ có rất nhiều tổ chức đứng ra giúp đỡ các nạn nhân và nhà nước khuyến khích các tổ chức đó, nhiều khi nhà nước làm không xuể việc thì còn cung cấp tiển cho các tổ chức làm giúp. Ví dụ như Hội Cứu viện phụ nữ ở Đài Bắc họ làm việc rất tích cực và họ hợp tác với chúng tôi để giúp đỡ cho các nạn nhân và qua đó khui ra những vụ buôn người, được báo chí mổ xẻ và cuối cùng chính quyền mới thấy đâu là những chỗ yếu, những sơ hở để đưa ra những biện pháp.

+ Nói tóm lại, có thể nói tình trạng buôn người ở VN hiện nay trầm trọng là vì các nguyên nhân sau: 1. Do chủ trương, chính sách xuất khẩu lao động của nhà nước. 2. Không có luật về chống buôn người để bóc lột sức lao động. 3. Không có một hệ thống báo chí độc lập để được quyền lên tiếng đến cùng khi sự việc xảy ra. 4. Cuối cùng là chưa có sự phát triển của một xã hội dân sự để cân bằng, điều tiết, kiểm soát các hoạt động, chính sách của nhà nước. Có phải thế không ạ?

- Vâng.

SONG CHI thực hiện.
(Còn tiếp)
Nguồn: Diễn đàn thế kỷ


Ghi chú hình: Ông Vũ Quốc Dụng, Tổng thư ký Hiệp hội nhân quyền quốc tế (ISHR), Frankfurt, Đức.

PN&HĐ: Bồ tát hiện hình và một công dân hèn nhát

"Đến hẹn lại lên", Phát ngôn và Hành động tuần này là mối trăn trở buồn vui của một công dân tự thú rằng mình là kẻ hèn nhát; chuyện một cụ bà bán vé số 78 tuổi bỏ tiền túi nuôi sinh viên; chuyện về tình trạng úng ngập khiến nhân dân lo Đại lễ ngàn năm Thăng Long bị ướt....

Những "ngôi sao" bằng... bùn

"Ngôi sao điện ảnh triển vọng" Vũ Lâm tố đạo diễn Thanh Quỳnh (Nguyễn Văn Khoa) bán giải với giá 200.000 triệu đồng. Liền ngay đó, đạo diễn Thanh Quỳnh công bố băng ghi âm với nội dung "sao" Vũ Lâm gạ đạo diễn cùng nhau tạo scandal để cùng nổi tiếng. Rồi mới đây, "sao" Vũ Hạnh Nguyên lên truyền thông khẳng định cái túi của mình mới là túi thứ thiệt và là sản phẩm duy nhất của một hãng thời trang bán về Việt Nam.

Chỉ mấy câu chuyện đó, chúng ta đã hiểu văn hóa của "sao" nước Việt là thế nào. Thế mà mấy "sao" Việt kiểu này thường xuyên xuất hiện trên nhiều phương tiện truyền thông nói những điều to tát về nghệ thuật và sự sáng tạo. Không biết, với những thứ rởm đời như vậy thì họ sáng tạo ra cái gì?

Phải thú thực, những "sao" Việt được trời phú cho một ít nhan sắc. Thế rồi qua mấy cái phim truyền hình vô bổ và nhạt nhẽo, qua mấy sàn catwalk hài hước và vụng về, qua mấy bài hát với cái giọng cao hơn karaoke một chút...bỗng vụt thành "sao". Khi thành "sao" rồi, họ ngày một lộ ra sự hiểu biết nông cạn, thói hợm hĩnh và ngốc nghếch đến thương hại.

Vũ Lâm, Ảnh Thanh Niên

Họ không gì hơn là những ngôi "sao" làm bằng bùn. Nhưng lạ thay, khi báo chí phê phán họ thì họ lại lu loa lên rằng bị moi móc đời tư. Lạ hơn nữa là có những người quản lý văn hóa cũng nói như vậy. Thật chẳng ra khoai ra ngô gì cả!

Nhưng nếu nhìn rộng ra, chúng ta lại thông cảm một phần cho các "sao" ấy. Vì có không ít những người mang danh trí thức hay văn nghệ sỹ còn bi thảm hơn thế. Bi thảm hơn và tội nghiệp hơn vì những người này được học hành và có bằng cấp cao nhưng suốt ngày chỉ lo vun vén cho bản thân và tìm cách đánh bóng những cái tên cũ mòn và tội nghiệp của mình.

Nhưng tóm lại họ cũng lại được thông cảm một chút cho dù ít hơn những "sao" nói trên. Vì lâu nay, chúng ta đã tôn vinh nhiều giá trị giả trong xã hội. Lâu nay, không ít cơ quan có thẩm quyền xác lập các giá trị văn hóa ở nước ta đã không vì những giá trị thật. Chuyện mua bán những danh hiệu này, giải thưởng nọ càng ngày càng trở nên trơ trẽn. Việc đặt tiến sỹ này, nghệ sỹ nọ, nhà văn kia...vào các vị trí không đúng với tài năng và nhân cách của họ. Chính vì thế mà đời sống văn hóa và những giá trị của sáng tạo nghệ thuật bây giờ mới nên nông nỗi này.

Tuy nhiên, cuối cùng thì những giá trị thật phải được đặt đúng vị trí của nó. Nhưng để làm được như vậy, chúng ta sẽ phải đi một chặng đường dài, rất dài vì những giá trị bị đánh tráo quá lâu đã phá vỡ nền tảng văn hóa của đất nước. Và những ai trực tiếp hay gián tiếp làm cho những giá trị giả lên ngôi là những kẻ có tội với đất nước này.

Một công dân hèn nhát

Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TƯ có trích đoạn trong một bài báo tuần này như sau: "Thời gian qua có nhiều tin nhắn tố cáo gửi qua điện thoại di động đến các lãnh đạo Đảng, Nhà nước và lãnh đạo UB Kiểm tra các cấp. UBKTTƯ đề nghị các cá nhân chấm dứt tình trạng trên và thực hiện việc tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật, không xem xét các tin nhắn vì không có giá trị pháp lý trong Luật khiếu nại, tố cáo".

Sự thật trong thông báo trên là đúng. Nhưng sau sự thật đó có một sự thật đau lòng khác. Đó là sự thật gì? Xin thưa: sự thật về nỗi sợ hãi của những người muốn đấu tranh chống tiêu cực trong xã hội ta.

Chính Trực Ngôn tôi đã có lần tiếp xúc với đồng chí Vũ Quốc Hùng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Ban Kiểm tra Trung Ương cách đây khoảng 10 năm về ông thủ trưởng cơ quan cũ của tôi vì ông thủ trưởng này có nhiều đơn tố cáo trù úm cấp dưới và những chuyện nhập nhằng khác. Tôi rất kính trọng ông Hùng và tin ông ấy. Trước khi làm việc, ông Hùng nói với tôi: "Đồng chí cứ nói hết sự thật. Tôi hứa danh dự sẽ giữ kín những gì đồng chí nói".

Nhưng thương thay, cho dù được một người đứng đắn và có quyền lực khuyến khích lên tiếng về sự thật nhưng tôi cũng không dám nói gì. Tôi không những không dám nói ra sự thật mà còn bóp méo sự thật. Đó là tôi đã nói một vài điều tốt đẹp về ông thủ trưởng kia mà ông chẳng có. Tôi là kẻ nói dối.

Hơn thế, tôi là một công dân hèn nhát. Quả thật lúc đó tôi vô cùng sợ hãi ông thủ trưởng của tôi. Nếu ông ta biết được tôi nói sự thật về ông ta thì tôi sẽ bị "giết" bằng những cách ngọt ngào và hợp lý. Chuyện này thì quá phổ biến trong xã hội ta.

Thế nên, có nhiều người biết sự thật nhưng mấy ai dám công khai danh tính để nói lên sự thật đó.

Việc gửi thư nặc danh hay nhắn tin tố cáo ai đó theo luật pháp là không có giá trị. Nhưng Uỷ ban Kiểm tra Trung Ương hãy hiểu cho người dân chúng tôi rằng: chúng tôi không thể lên tiếng về sự thật rồi sau đó "sống dở chết dở" ở chính nơi mình lên tiếng. Hoặc nếu may mắn, chúng tôi có thể không bị khổ sở thì sự thật mà người dân chúng tôi lên tiếng cũng lặng lẽ chìm vào im lặng. Nghĩa là xét cả hai phía đều là vô ích. Lợi cho xã hội cũng không mà hại cho cá nhân người lên tiếng là cầm chắc.

Cũng như trong trường hợp tôi nói trên, sau khi ông Hùng đi rồi thì ai sẽ bảo vệ "nhân chứng" là tôi đây. Ông thủ trưởng của tôi ngày ngày ở trên tôi còn ông Hùng từ đó đến nay tôi cũng không gặp lại. Đoạn đường từ Uỷ ban Kiểm tra Trung Ương đến cơ quan tôi hay đến những tỉnh, những huyện xa xôi khác chi đường từ Thiên đình xuống Hạ giới. Bởi thế, người lên tiếng tố cáo những lãnh đạo sai phạm ở cơ quan hay địa phương mình đã nhận ra bài học "xương máu" là " tránh voi chẳng xấu mặt nào".

Chính vì điều đó làm tinh thần đấu tranh cho lẽ phải và những điều tốt đẹp vô tình và gián tiếp bị thủ tiêu. Còn nếu không chịu đựng được sự sai trái, lộng hành... của lãnh đạo cơ quan mình hay địa phương mình thì hoặc là im lặng trong u buồn hoặc viết một lá thư nặc danh hay một tin nhắn đầy tuyệt vọng.

Cho nên, để những người dân chúng tôi không phải "lén lút" trong sợ hãi nhắn tin tố cáo rồi vứt sim đi hoặc đóng cửa buồng, che đèn viết thư tố cáo mà không dám ký tên rồi nhờ người khác đi gửi thư hộ thì những người lãnh đạo phải làm cho người dân chúng tôi thực sự tin rằng: đấu tranh cho lẽ phải là nhân cách của cả xã hội mà các đảng viên, các cán bộ có quyền chức luôn luôn đi đầu bằng hành động chứ không phải bằng lời nói. Vì người dân chúng tôi đã quá thấm nhuần, quá thuộc lòng lời nói của các đồng chí rồi.

Xin cám ơn các đồng chí!

Xin chào vĩnh biệt 5 cổng chào

Khi chỉ còn khoảng ba tháng nữa là bắt đầu đại lễ 1000 năm Thăng Long thì đột nhiên có quyết định xây 5 cổng chào. Nhưng rồi khi chỉ còn hơn hai tháng nữa thì lại có quyết định đột ngột dừng xây 5 cổng chào. Trước đó còn có những quyết định đột ngột giảm từ 5 cổng xuống còn 4 cổng, đột ngột thay đổi thiết kế... Những cú "tăng tốc" các dự án cũng như "quay ngoắt" và "phanh gấp" các dự án như thế làm cho người dân chóng mặt không thể nào xác định được những gì đang diễn ra quanh mình.

Biết bao cái "không ra sao" liên quan đến 5 cổng chào đã được các chuyên gia, báo chí bàn đến khá nhiều rồi. Việc tiếp tục xây 5 cổng chào hay dừng xây 5 cổng chào thực sự cũng chưa phải là những gì quá nguy hiểm. Nhưng cách làm ăn của cái thời được gọi là "công nghiệp hoá, hiện đại hoá" của chúng ta thì quả là nguy hiểm.

Nguy hiểm bởi lối làm ăn không có kế hoạch. Chúng ta biết rằng, một dự án siêu lớn như đại lễ 1000 năm Thăng Long mà thấy một sự làm ăn nhiều ngẫu hứng. Đùng đùng lát đá xanh quanh Bờ Hồ rồi đùng đùng bóc đi.

Cho đến thời điểm này, người dân chẳng thể nào hình dung nổi Hà Nội sẽ giống cái gì khi bắt đầu đại lễ. Lẽ ra, mọi công việc đã hoàn thiện và lúc này chỉ còn lại việc chuẩn bị "rượu và hoa" thôi.

Một trong những mẫu cổng chào dịp Đại lễ, Ảnh ST

Hà Nội bây giờ giống như một gia đình có cỗ khi khách mời đã lục tục kéo đến thì mâm vẫn chẳng thấy mâm, bát vẫn không thấy bát và bếp vẫn còn chưa có củi để nhóm lên nấu nướng... Hơn nữa, việc chỉnh trang Hà Nội như chọn "điểm rơi phong độ" vào đúng mùa mưa. Thế là bao nhiêu đoạn hè, đường vừa mới sửa sang lại bị mưa ngập phá hỏng. Nói chung là cứ loạn tít mù cả lên.

Nguy hiểm bởi tư duy cho những dự án lớn quá ư là hời hợt. Ví dụ chuyển Trung tâm hành chính quốc gia về Ba Vì, lát hè đường, xây cổng chào... Qua những dự án này thấy tư duy chiến lược của chúng ta không có nền tảng và rất mơ hồ.

Có người có trách nhiệm nói rằng dừng cổng chào vì có người đồng ý và có người không đồng ý. Nói thế chưa chính xác. Phải nói là việc dựng 5 cổng chào như dự định ban đầu là thất sách. Những ai bảo vệ việc dựng 5 cổng chào như thế là "cố đấm ăn xôi", là bảo thủ, là thiếu tư duy... Chúng ta cứ nói thẳng với nhau như thế cho mau tiến bộ. Chính vì tư duy về 5 cái cổng chào như thế mà chúng ta tốn phí bao nhiêu công sức và thời gian để... dừng nó lại.

Bây giờ thì người dân thở phào và cúi đầu chào tạm biệt 5 cổng chào. Tạm biệt thôi, vì biết đâu ngày mai lại nghe nói có quyết định phải dựng 5 cổng chào này thì... ngượng lắm nếu bây giờ chúng ta vội chào vĩnh biệt. Nhưng cho dù ngượng đến đâu thì cá nhân tôi cũng rất muốn cất lời: Xin vĩnh biệt 5 cổng chào. Đấy chỉ là chuyện của cá nhân tôi đấy nhé.

Sẽ có cảnh Rồng... bơi trong đại lễ 1000 năm ???

Tháng 10 năm 2008, hai năm về trước, Hà Nội và Hà Đông (thuộc Hà Tây cũ) ngập chìm trong nước như một cơn tiểu hồng thủy.

Cảnh Hà Nội trong trận lụt tháng 10 năm 2008, Ảnh Lê Anh Dũng

Có hàng trăm bài báo viết về những ngày lụt ấy. Có biết bao cuộc họp rút kinh nghiệm về hệ thống thoát nước của thủ đô yêu dấu. Những tưởng những cơn mưa như thế chẳng bao giờ thống trị nổi Hà Nội của chúng ta. Nhưng chỉ mới gần 2 tiếng đồng hồ của một trận mưa chưa nói là quá lớn đã nhấn chìm bao đường phố thủ đô.

Cơn mưa ngày 13 tháng 7 vừa qua làm cho đợt nóng kinh khủng dịu đi nhiều. Nhưng sự bức bối và lo lắng của người dân lại tăng lên trên 50 độ C. Lo lắng mất điện, lại lo lắng bị điện giật chết, lo lắng bệnh tật sinh ra do úng lụt, lo lắng nhiều sinh hoạt và công việc bị ngưng trệ...Trong sự lo lắng ấy có một nỗi lo về những ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Hầu hết người dân mấy ngày nay bàn tán rằng liệu tháng Mười năm nay, khi mà Đại lễ 1000 năm bắt đầu mà có cơn nữa đổ xuống thì sự thể sẽ như thế nào? Chắc chắn là có một Đại lễ 1000 năm trên nước bởi vì cả hai năm rồi mà hệ thống thoát nước của Hà Nội hình như chẳng được cải thiện chút nào.

Bạn tôi là một nghệ sỹ rối nước liền tưởng tượng ra một sân khấu rối nước khổng lồ và những người dân cùng ô tô, xe máy, xe đạp, xe đẩy, xe nôi... sẽ biến thành các nhân vật và các đạo cụ của rối nước. Trong sân khấu rối nước truyền thống của Việt Nam không có những tích buồn. Mọi chuyện đều vui vầy, trâu húc nhau cũng vui, cáo bắt vịt cũng vui, người bắt cá cũng vui... Nhưng trong vở rối nước thời hiện đại mà người dân thủ đô là những diễn viên thì tích diễn lại buồn.

Có người hài hước nói cứ với hệ thống thoát nước như thế này mà tháng Mười tới có mưa thì lễ khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long sẽ có cảnh Rồng bơi... trên phố thay cho cảnh Rồng bay. Câu chuyện đùa mà là lời cảnh báo thật. Một số người có trách nhiệm trong cái việc thoát nước phát biểu là cứ yên tâm không sợ gì mưa. Nhưng yên tâm là yên tâm thế nào? Hai năm trước người dân đã được nghe chữ "yên tâm" nhiều lắm rồi mà đến bây giờ khi mưa xuống chẳng thấy "yên tâm" đâu mà chỉ thấy... "loạn tâm".

Bồ tát hiện hình ở Đà Nẵng

Cụ Hoàng Thị Hồng, Ảnh danang.gov.vn

Một cụ già 78 tuổi bán xổ số. Ta nhắc lại là bán xổ số chứ không làm to như ông Tô ở Hà Giang hay bà Cúc ở Tiền Giang hoặc ông Bình Vinashin. Cụ có tên là Hoàng Thị Hồng sống ở thành phố Đà Nẵng.

Trong suốt 5 năm nay, cụ bỏ tiền của mình ra để lo chỗ ăn, chỗ ở cho những thí sinh nghèo về Đà Nẵng dự thi. Nguyên nhân gì đã khiến cụ làm như vậy? Ta xin trả lời ngắn gọn: Vì cụ có một tấm lòng nhân ái bao la.

Có lẽ chưa một người nào sống cạnh cụ nghe được cụ giảng giải đạo đức cho người khác. Nhưng trái tim cụ lại chứa đầy tình thương yêu con người bởi chính những hành động cụ thể vì con người của cụ. Hơn nữa, nếu cụ là một người quá nhiều tiền thì chuyện này lại khác. Cụ chẳng có tài sản gì trong tay ngoài những đồng tiền mồ hôi nước mắt. Cụ đâu có đất này, đất khác, cụ đâu có nhà này, nhà nọ, cụ chẳng được ai hối lộ hay đút lót bao giờ. Nhưng nhân cách cụ đứng trên đầu bao kẻ tên tuổi.

Xã hội xúc động về cụ bao nhiêu lại đau đớn bấy nhiều về những kẻ đã cướp đi hàng nghìn tỉ của nhân dân, của Nhà nước. Xã hội kính trọng nhân cách của cụ bao nhiêu lại khinh bỉ bấy nhiêu những kẻ vô nhân cách khác, những kẻ vì lợi ích của cá nhân mình, của gia đình mình, của phe nhóm mình mà gây ra bao thiệt thòi, bất hạnh cho người lao động. Còn lúc này, từ một nơi rất xa Đà Nẵng, ta cúi đầu trước cụ - cụ Hoàng Thị Hồng. Cụ là hiện thân của đức tính đẹp đẽ của con người Việt Nam, cụ là một Ví Dụ đầy tự hào và cũng đầy cay đắng về nhân cách của một xã hội, cụ quả là một vị Bồ tát hiện hình.

Ta đã dùng những từ ngữ như vậy để nói về cụ. Nhưng những lời lẽ đó đã trở nên thật phù phiếm trước lòng nhân ái và nhân cách sống của một con người như cụ.

http://tuanvietnam.net/2010-07-16-pn-and-hd-bo-tat-hien-hinh-va-mot-cong-dan-hen-nhat

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

TS. Nguyễn Quang A: Tham nhũng quan hệ - lời cảnh báo cấp bách

"Tôi nghĩ là trong các mối quan hệ, kể cả gọi là cánh hẩu, cần tường minh và xác định một cách rõ ràng là phạm vi quyền lực đó trao cho ai, đến mức độ nào, ai giám sát, vi phạm những mối quan hệ về quyền lực như thế thì phải phán xử như thế nào…. Nếu không có những khuôn khổ pháp lý, đạo đức như thế sẽ rất là khó để ngăn chặn mối quan hệ cánh hẩu hiện tại ở Việt Nam."

Quan hệ cánh hẩu ? Nó tốt, cho dù xã hội đánh giá nó thế nào, nếu như ...

 Nhà báo Trần Quốc Hải (NB): Trong kinh doanh và điều hành chính sách, mối quan hệ giữa hai bên, nếu là tích cực, sẽ hỗ trợ nhau như thế nào và sự phối hợp giữa hai nhánh của nhóm người làm công việc khác nhau nên hướng tới mục tiêu chung gì trong môi trường lý tưởng ?

TS. Nguyễn Quang A (TS): Đầu tiên tôi nghĩ là phải nói rõ khái niệm về quan hệ. Quan hệ là từ rất quan trọng, vì bất kỳ hệ thống gì đều là hệ thống quan hệ. Trong toán học có một lý thuyết cao siêu mô tả mối quan hệ, có từ thời xa xưa, ứng dụng vào những chuyện về kinh tế, xã hội và tổ chức. Đó là lý thuyết Graph.

Trong kinh doanh, mối quan hệ lại cực kỳ quan trọng. Một thực thể kinh doanh, giá trị thực sự cốt lõi là quản trị các mối quan hệ liên quan đến nó và nó muốn kết nối. Những người gọi là quản trị quan hệ tốt nhất vẫn là nhà tư bản phương Tây, hiểu theo nghĩa quan hệ là mối tương tác tất yếu của bất kỳ tổ chức nào. Toàn bộ hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp (DN) là quản trị các mối quan hệ, vì thế, mổ xẻ các khía cạnh của họat động quan hệ là rất quan trọng và rất hay.

Trước khi nói sang nghĩa xấu mà người ta sử dụng, tôi rất muốn nhấn mạnh ý nghĩa đẹp, hay của quan hệ mà mình phải phân biệt rất rõ, phải sử dụng mối quan hệ đấy để sinh sống, làm ăn của từng con người cũng như từng DN.

Quay sang chủ đề quan hệ “cánh hẩu”. Quan hệ bản thân nó là tốt nhưng sử dụng như thế nào thì mới nảy ra vấn đề chủ nghĩa tư bản cánh hẩu. Khi chủ doanh nghiệp sử dụng các mối quan hệ sẵn có hoặc xây dựng được để làm lợi cho công việc làm ăn thì đó là chuyện bình thường của DN, bất luận xã hội đánh giá nó là chính đáng hay không chính đáng.

Do vậy, khi nói về chủ nghĩa tư bản cánh hẩu không thể trách các DN tại sao nó vận động, tìm các mối quan hệ với những người để tạo ảnh hưởng có lợi cho bản thân, bất kỳ DN nào cũng thế, bất kỳ ở đâu nếu nó hoạt động đúng Luật Doanh nghiệp. Chính xác hơn, không chỉ ở chủ nghĩa tư bản mà ở đâu cũng thế, ở ta cũng thế.

Nhưng quan hệ hiểu theo nghĩa là các quan hệ cánh hẩu thường là quan hệ của các DN với những người nắm quyền lực để khuynh đảo chính sách, hướng tới kiếm được những khoản lợi bất chính, chủ yếu là trong những khoản mua sắm của Nhà nước, trong những việc phân bổ nguồn lực của đất nước cho các DN.

 

 

 

NB: Mua sắm của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) có phải là mua sắm Chính phủ không, thưa ông?

 TS: Không. Mua sắm của DNNN là của DNNN. Mua sắm của Chính phủ là mua bằng tiền ngân sách, ví dụ như sửa chữa công sở, mua máy tính cho cơ quan Nhà nước, xây nhà Quốc hội, làm đường cao tốc, xây cầu.. những khoản mà người mua và sử dụng các sản phẩm đó là Nhà nước và mục tiêu là mang lại lợi ích cho cộng đồng, mọi người có quyền sử dụng chung, không bị lọai trừ.

Có thể Nhà nước lại chỉ định ông thứ ba làm dịch vụ mua cái đó cho mình nhưng thực sự người chủ mua hàng hoá dịch vụ đó là ai? Cũng có thể ông Chính phủ bảo giao cho công ty này thay mặt cho tôi mua vì không thạo trong giao kết hợp đồng thì khi đó công ty không phải mua cho mình mà là mua cho Chính phủ.

NB: Nhưng ví dụ hành vi ông Chủ tịch hay Tổng giám đốc Vinashin đi mua tàu thì đó là hành vi gì, chi tiêu gì?

TS: Cái đấy hoàn toàn là việc kinh doanh của DN, không phải là mua sắm Chính phủ.

NB: Quá trình mua đó cũng không nhất thiết phải được giám sát theo quy trình giám sát của chi tiêu Chính phủ?

TS: Không, đó là của DN. Nhưng DN bán hàng cho Chính phủ, DN nhận được các khoản đầu tư của Chính phủ, DN nhận được các khoản ưu đãi của Chính phủ, về vốn, về tín dụng, về đất, về thương quyền. Tất cả những việc đó do ai là người quyết định? Nếu người có quyền đơn phương ra quyết định đó là Nhà nước thì lúc đó mới là quan hệ giữa DN và NN.

Trong mối quan hệ đó, giữa DN và NN nếu không sòng phẳng, nếu không được minh bạch thì lúc đó, quan hệ ấy mới gọi là quan hệ cánh hẩu.

Đó là quan hệ mà lẽ ra, thí dụ như mua bán công thì phải qua đấu thầu, phải công khai, bất kể ai cũng có quyền bán, thì lúc đó là một quan hệ theo nghĩa tốt. Người bán hàng cho Chính phủ có sản phẩm tốt, có dịch vụ tốt, cạnh tranh với người khác để thắng thầu đấy là việc bình thường.

Còn nếu do mối quan hệ quen biết giữa ông chủ DN này, bất kể là DN tư nhân hay DNNN với một ông quan chức có quyền quyết định việc mua sắm này. Họ có thể hợp thức hoá bằng việc đấu thẩu hình thức: đấu thầu nhưng lập 2-3 DN “quân xanh” để làm cho mình chắc chắn trúng thầu thì là quan hệ cánh hẩu.

NB: Việc mua một con tàu thì ai là người được mua? Xây công trình BOT thu phí thì ai là người được nhảy vào ?. Tất cả những cái đó thì theo các DN, khó mà có thể chỉ quan hệ với nhau, với khách hàng của DN mà nhân được dự án đó mà chắc chắn phải có cuộc vận động, xây dựng một mối quan hệ với những người ra quyết định đó?

TS: Cái đó là chắc chắn. Không chỉ bán hàng và dịch vụ cho NN mà còn là để kiếm kiếm được những ưu ái, những hợp đồng, những thương quyền. Ví dụ, tôi có quyền làm BOT cái đường này, tôi có quyền xây cái cầu 100m trong một quãng đường 300km do NN bỏ tiền xây, còn tôi chỉ bỏ mỗi 100 tỷ để xây 1 cái cầu 50m và tôi đứng ra thu phí.

NB: Có một vài vụ án mà cơ quan chức năng đã làm rõ chuyện sân sau, công ty con, công ty gia đình nhưng sau khi kết luận các vụ án đó thì không ai bị ra tòa vì tội danh tham nhũng cả, vì sao?

TS: Cái đấy là hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước, khuôn khổ pháp lý của Nhà nước như thế nào sẽ tạo ra bức tranh kinh tế, xã hội như thế ấy. Nếu những quan chức cấp cao của Nhà nước, những người có quyền ra chính sách cũng đụng đến chuyện như thế, như vợ con đứng đằng sau vì lợi ích cá nhân của mình, thì những kiểu xã hội như thế đằng nào cũng sụp đổ vì nó mất tính chính danh của nó.

Nhìn gia đình Shuhato từ năm 1965 giữ vị trí tổng thống lâu nhất và đưa Indonesia lên một tầm mà từ IMF và WB ca ngợi hết lời, nhưng khi hủng hoảng xảy ra thì tất cả những xấu xa đó mới “bục” ra.

NB: Tức là nếu không xảy ra khủng hoảng kinh tế, mục ruỗng từ bên trong Nhà nước của ông Shuhato không bộc lộ ra?

TS: Nó đã bộc lộ ra từ lâu rồi nhưng khủng hoảng là một cơ hội, một giọt nước tràn ly để làm cho những chuyện quan hệ như thế phải đến chỗ đổ vỡ, chứ về mặt phát triển chung thì tất cả các mối quan hệ cánh hẩu là có hại cho sự phát triển của một đất nước, của bản thân DN đó.

Tất nhiên, Nhà nước ấy có thể làm lợi cho rất nhiều người nhưng không làm lợi cho tuyệt đại bộ phận dân chúng.

Tham nhũng quan hệ đang cảnh báo cấp bách:

NB: Cứ trước mỗi dịp Tết lại có văn bản của cơ quan Đảng, chính quyền các cấp nói rằng Tết này cấm được mang quà đến nhà riêng lãnh đạo... tại sao lại phải làm như thế vì với văn minh Á Đông, quan hệ như ông nói là hành vi và cách giao tiếp bình thường giữa con người, trong cộng đồng xã hội đã được định hình như một nét văn hóa rồi.

 Liệu nó có thực hiện được không và có thể ngăn chặn hành vi mà người ta định ngăn chặn không?

TS: Mối quan hệ ở đây là giữa cấp trên và cấp dưới, ví dụ như giữa cấp huyện với cơ quan cấp tỉnh… mà như một huyện của Hà Nội mới đây ông Chủ tịch huyện chỉ thị là phải quà cáp thế này thế kia mà thực sự họ lý giải lấy tiền tiết kiệm chi tiêu chứ không phải tiền ngân sách.

Nhưng chuyện đó là chuyện thực sự là thối nát trong một mối quan hệ, vì vậy, cái đó phải cấm ngặt. Đấy là một thứ bệnh đút lót cấp trên mà ở Việt Nam có truyền thống nhiều ngàn đời, cho đến bây giờ càng phát triển.

Cho nên đấy là vấn đề là thể chế, quy chế của Nhà nước: khi quy định không được làm là không được làm. Với danh nghĩa người quen quà cáp khi Tết là chuyện khác, nhưng người ta lạm dụng cái đó để đổi chác lợi ích riêng từ lợi ích của cộng đồng, lẫy cái của chung "đãi nhau" xây dựng cho mối quan hệ của mình để mưu cầu chuyện thăng tiến, lợi lộc thì đấy lại là một phạm trù hoàn toàn khác, cũng có thể gọi là cánh hẩu nhưng là điều mà tất cả các nước văn minh đều cấm, không được làm vì nếu vậy bộ máy hành chính của Nhà nước sẽ thối rữa.

NB: Từ nãy chúng ta đã bàn về mối quan hệ nói chung và những hành vi cần thiết phải điều chỉnh. Bây giờ quay về vấn đề biểu hiện quan hệ nói theo nghĩa chung và quan hệ cánh hẩu trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang ở mức độ như thế nào, có ảnh hưởng tác động gì?

TS: Tôi nghĩ là trong các mối quan hệ, kể cả gọi là cánh hẩu, cần tường minh và xác định một cách rõ ràng là phạm vi quyền lực đó trao cho ai, đến mức độ nào, ai giám sát, vi phạm những mối quan hệ về quyền lực như thế thì phải phán xử như thế nào…. Nếu không có những khuôn khổ pháp lý, đạo đức như thế sẽ rất là khó để ngăn chặn mối quan hệ cánh hẩu hiện tại ở Việt Nam.

Không bàn về quan hệ chính trị, mua quan bán chức, chạy chức (cũng là chạy quan hệ) mà quay lại chuyện quan hệ giữa DN và Nhà nước thì tình hình là khá nghiêm trọng và cái gọi là quốc nạn tham nhũng nó cũng là từ mối quan hệ như thế - không được rạch ròi, không được minh bạch - mà không giải quyết tận gốc vấn đề này tình hình sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Đấy là lời cảnh báo cho người lãnh đạo cao nhất của đất nước này và cả nhân dân, các tổ chức đều biết vì điều đó có thể đưa đất nước đến sự lụi bại nhanh nhất, là tự mình giết mình, không thể đổ lỗi cho ai.

 

Một DN mà đằng nào trong đường lối ghi rằng, nó phải là chủ đạo, nó là của tôi, tôi phải ưu ái cho nó, và tạo mọi điều kiện để nó phát huy vai trò đó thì nó càng có cơ hội hơn để thúc đẩy mối quan hệ cánh hẩu ấy. Bởi vì, sự ưu đãi, vị thế ưu tiên của nó đã được ghi trong đường lối của Đảng rồi thì tại sao nó lại không làm?  (TS. Nguyễn Quang A)

NB: Theo ông, sự không chuẩn mực trong quan hệ giữa Nhà nước và DN hiện nay tạo ra bất công nhất trong sự phân bổ nguồn lực hay là hưởng thụ thành quả của nền kinh tế? Bất công ấy thể hiện ở đâu vì mối quan hệ này?

TS: Cả hai thứ đều rất quan trọng. Nếu phân bổ nguồn lực quốc gia một cách minh bạch, sòng phẳng, để cho những người nào có tài năng sử dụng nguồn lực đấy của quốc gia một cách hữu hiệu nhất cho bản thân quốc gia. Nếu được, người ta được phân bổ nguồn lực đấy thì đấy là cách tốt nhất.

Còn hiện nay, rất đáng tiếc là trong đầu người ta, bị một ý thức hệ ràng buộc là khu vực kinh tế NN phải giữ vài trò chủ đạo. Rất đáng tiếc, dự thảo NQ của Đại hội Đảng tới lại còn nhấn mạnh thêm sở hữu NN, sở hữu tập thể, sẽ tiến tới phải đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế. Chỉ một câu đó thôi, một câu đó là một câu sẽ làm cho chủ các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và bộ máy điều hành nền kinh tế ấy có “chỗ dựa” để tự đặt ra những quan hệ ưu đãi cho nhau.

NB: Khu vực kinh tế NN và kinh tế tập thể, ông có nghĩ rằng, đó là môi trường tốt nhất để quan hệ cảnh hẩu, hiểu theo nghĩa tiêu cực, nó phát sinh và sống thoải mái nhất so với các thành phần kinh tế khác?

TS: Chắc chắn. Nói vậy không có nghĩa là khu vực kinh tế tư nhân hay các ông chủ tư bản với NN không có quan hệ cánh hẩu. Quan hệ cánh hẩu bất luận, không phụ thuộc vào DN ấy là ai sở hữu mà nó phụ thuộc vào con người, vị thế của DN đó. Một DN mà đằng nào trong đường lối ghi rằng, nó phải là chủ đạo, nó là của tôi, tôi phải ưu ái cho nó, và tạo mọi điều kiện để nó phát huy vai trò đó thì nó càng có cơ hội hơn để thúc đẩy mối quan hệ cánh hẩu ấy. Bởi vì, sự ưu đãi, ưu tiên, vị thế ưu tiên của nó đã đường ghi trong đường lối của Đảng rồi thì tại sao, nó lại không làm?

NB: Vâng, xin mời Tiến sỹ tạm nghỉ, chúng ta sẽ tiếp tục cuộc đối thoại sau ít phút nữa ...

Nguồn: http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=750