Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010
“Ðối với kiều bào ở California là nơi có đông người Việt Nam, thì báo Nhân Dân điện tử là món ăn tinh thần lớn nhất, quí nhất. Riêng đối với tôi việc làm đầu tiên trong ngày là mở trang báo Nhân Dân điện tử… Nhiều người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân…” http://nhanam.multiply.com/journal/item/408/408
Tưởng Năng Tiến – Nhà tôi và nhà văn trung tướng
Mới đây, trên diễn đàn talawas, tôi được ông Lâm Hoàng Mạnh ngỏ lời ngợi khen nức nở: “Không hiểu sao cứ mỗi lần đọc xong bài của T.N.T tôi cứ ‘nở từng khúc ruột vì khoái’ cách viết thông minh… của tác giả.” Ôi, tưởng gì chớ “thông minh” thì tôi nổi tiếng ngay từ thưở nhỏ – trước cả khi cắp sách đến trường – và đã khiến cho rất nhiều người phải xuýt xoa, hay tấm tắc!
Tuy tôi thông minh, học giỏi, bằng cấp đầy mình nhưng đi làm thì không ma nào mướn. Lý do: tôi được cái thông minh nhưng lại bị cái gương mặt rất khó coi (ngó tối tăm thấy ớn) và cách ăn nói thì cũng rất khó nghe, cứ như cắn vào mông người ta vậy. Chỉ thoáng nhìn thấy cái bản mặt của tôi là thiên hạ đã xuống tinh thần. Và hễ tôi mở miệng ra, dù chưa kịp nói dứt câu, là đã có đứa sấn (sổ) vào muốn… tát!
Để tránh bị bạo hành, tôi đành phải ở nhà hành nghề viết báo. Thời buổi này ra đường hay bị kẹt xe. Làm việc ở nhà cũng khỏe thôi, nếu kiếm ra tiền, và nếu sống độc thân.
Tiếc thay, tôi không có cái được hai thứ may mắn đó. Nhà tôi lại hơi… nhậy cảm. Đi ra, đi vô cứ nhìn thấy mặt (khó coi) của chồng là nàng nổi cáu. Đã thế – như đã thưa – tôi lại hay phát biểu linh tinh khiến cho vợ con, và mọi người chung quanh, nếu không nổi điên thì cũng (đùng đùng) nổi giận.
Cuộc đời tôi rõ ràng đã đi vào ngõ hẹp, và (ngỡ) sắp bế mạc tới nơi thì may sao ông Nguyễn Minh Triết nhảy ra chấp chính. Ở địa vị cao nhất nước, ổng thường nói chuyện trước đám đông, và ăn nói cũng rất khó nghe. Ổng giễu rất dở nhưng giễu dai, và giễu hoài, khiến cho cả nước phải cau mày hay đỏ mặt đều đều.
Từ đó, dù tôi có phát ngôn ngu ngốc hoặc bừa bãi tới cỡ nào (chăng nữa) cũng chả bị ai phiền trách. Đến Chủ tịch nước mà còn nói năng vô duyên, lạng quạng – cứ như một tên hề rẻ tiền – như vậy thì chấp gì một thằng thường dân (nát rượu) cỡ như thằng Tiến – đúng không?
Điều may mắn kế tiếp trong cuộc đời tôi là sự lên tiếng rất bất ngờ của vị đại biểu quốc hội, tỉnh Hà Nam (”Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc”) cùng với ảnh chụp của đương sự, và lời bình của blogger Kami:
“Đọc lời phát biểu… kèm theo tấm hình của ông Trần Tiến Cảnh trong cuộc họp, nếu ai đó có chút hiểu biết về tướng mặt thì cũng được an ủi, vì câu phát biểu ấy nó cũng ngu không kém những gì hiện trên bộ mặt của ông ta.”
Nhà tôi, có lẽ, là người được “an ủi” nhiều hơn cả. Nàng chăm chăm nhìn vào mặt ông đại biểu, rồi (bất giác) thoáng nở một nụ cười: té ra, mặt mũi của chồng mình cũng chưa đến nỗi nào.
Từ hôm đó, kể như, gương vỡ lại lành!
Tôi biết ơn ông Nguyễn Minh Triết và ông Trần Tiến Cảnh không biết chừng nào mà nói. Hai ổng đã gỡ cho (cả đời) tôi một bàn thua thấy rõ.
Có kẻ khen như vậy là hậu vận tốt. Tôi cũng gật gù cho vui lòng người đối thoại chớ tự biết rằng (nó) cũng không tốt gì cho lắm.
Tôi vẫn sống rất chật vật bằng nghề viết báo. Tiền nhuận bút kiếm được để uống cà phê thì dư, hút thêm vài điếu thuốc lá là vừa đủ nhưng nếu (tiện thể) ăn sáng luôn thì chắc thiếu, thiếu chắc.
Tôi sống nhờ vợ, tất nhiên. Hoàn cảnh sống này tuy không thể gọi là lý tưởng nhưng cũng khả kham, cho đến khi có sự cố là bức thư ngỏ của nhà văn Trần Mạnh Hảo (“Kính gửi Trung tướng Công an Nhà văn – họa sĩ – nhạc sĩ – thi sĩ – kịch sĩ – nhiếp ảnh gia – điện ảnh gia Hữu Ước”) được phổ biến khắp nơi.
Nhà tôi, nói tình ngay, không biết, và cũng không cần biết, Trần Mạnh Hảo là ai. Nàng cũng chả để ý gì đến nội dung của bức thư, và những chuyện lùm xùm trong đó, chỉ cần thấy cả đống chức tước, danh hiệu… của ông Hữu Ước là đã đâm ra tức tối, nước mắt đầm đìa, rồi buông lời cay đắng:
“Coi, chồng người ta kìa: Trung tướng Công an Nhà văn – họa sĩ – nhạc sĩ – thi sĩ – kịch sĩ… tùm lum tùm la không thiếu thứ gì…”
May là nhà tôi chưa biết rằng ông Hữu Ước còn là Tổng Biên tập vài tờ báo nữa. Mà không phải là thứ báo để chùi hay để gói đâu nhá. Báo của ổng có độc giả hẳn hoi, kể cả độc giả ở nước ngoài – theo như tường thuật của ông Nghiêm Tiến Quang (Giám đốc Công ty in báo Hà Nội) trên tờ An Ninh Thế Giới, số ra ngày 2 tháng 1 năm 2009:
“Tại chợ người Việt ở thủ đô Berlin (Đức), tôi gặp một ông mua một lúc 5 tờ ANTG. Tôi bắt tay ông hỏi: ‘Sao bác mua nhiều thế?’. Ông cười: ‘Tôi mua hộ mấy ông bạn cùng làm ở chỗ tôi. Tôi hỏi tiếp: ‘Ở Đức có nhiều người đọc ANTG không? Ông gật đầu: Nhiều đấy. Đọc xong lại cho mượn, rồi chẳng thấy ai trả lại. Bởi báo có nhiều bài cần đọc.”
Trước đây, trên báo Nhân Dân (số ra ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong mục “bạn đọc góp ý và phê bình”) tôi cũng thấy có độc giả ở Hoa Kỳ bầy tỏ sự thích thú tương tự về tờ “công báo” này:
“Ðối với kiều bào ở California là nơi có đông người Việt Nam, thì báo Nhân Dân điện tử là món ăn tinh thần lớn nhất, quí nhất. Riêng đối với tôi việc làm đầu tiên trong ngày là mở trang báo Nhân Dân điện tử… Nhiều người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân…”
Ở một nơi mà đêm nào cũng bị cúp điện khổ như thế đấy. Nhiều người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân. (Tôi chết được chớ chả bỡn đâu, Giời ạ!)
Cái gì làm cho tờ Nhân Dân trở nên “hấp dẫn” (tới) cỡ đó thì không nghe ai nói, còn lý do khiến cho báo của ông Hữu Ước bán chạy – theo nhận xét của ông Trần Khuê – chỉ là “những trò câu khách rẻ tiền”:
“Giở bất cứ tờ báo công an nào cũng chỉ thấy toàn là tội ác tội phạm: con giết cha, chồng đầu độc vợ, trò đánh thầy, công an thì buôn ma túy, hải qua thì ăn hối lộ, tòa án và viện kiểm sát thì chơi xỏ nhau hoặc đồng tình xử oan người nghèo vô tội. Các sở thương binh xã hội cấp thẻ thương binh giả, đắp mộ liệt sĩ giả, người chết đã hàng chục năm vẫn còn tên trong danh sách và vẫn được các cán bộ ‘lĩnh hộ’ tiền. Cán bộ viên chức thì bằng cấp giả mạo, công ty quốc doanh, tư doanh thì chụp giật, móc ngoặc (‘lừa đảo’ ngân hàng, bộ trưởng thì thông đồng với cấp dưới ăn cả vào tiền xóa đói giảm nghèo, không kể miền xuôi miền ngược, ăn cả vào tiền cứu lũ cứu lụt,… Chưa kể đến các tin ghen tuông, tạt axít, say rượu đâm chết người, quan chức đi chơi gái điếm đánh bạc bị trấn lột nghe cũng đã đủ thấy ghê người, thế mà ngày nào cũng đăng tải bằng chữ cỡ lớn, bằng một giọng văn mùi mẫn. Thật là những trò câu khách rẻ tiền.”
Và “ khách” của ông Hữu Ước vừa được ông Phạm Đình Trọng điểm danh, trên Đàn Chim Việt:
“Hãy lưu ý những người thường xuyên đọc báo Công an tpHCM sẽ thấy đó là những ông chạy xe ôm ngồi chờ khách đọc tin vụ án, những bà ngồi bán hàng ngoài chợ khi chợ vắng đọc chuyện quan hệ tình cảm của ông nọ bà kia, những cô công nhân ở khu nhà trọ đọc chuyện lừa tình, lừa tiền . . . Tờ báo với đối tượng người đọc như vậy, với nội dung thông tin như vậy dù số lượng phát hành có lên tới cả triệu bản vẫn không phải là tờ báo lớn!”
Giáo sư Trần Khuê và nhà văn Phạm Đình Trọng đều nói không “oan” nhưng (e) không đủ về báo của ông Hữu Ước. Ông Robert Templer, đặc phái viên của A.F.P tại Việt Nam, có nhận xét thấu đáo hơn:
“Tờ báo được nhiều người ưa thích nhất tại Việt Nam là tờ ‘Công An Thành Phố Hồ Chí Minh’, do công an địa phương xuất bản. Tờ báo này được in ra với số lượng hàng tuần là 500.000 số và những người bán báo cho biết là họ bán hết ngay, chứ không như tờ Nhân Dân của Đảng mà đa số đều không muốn bán vì nó mang lại quá ít tiền.
Tờ Công An đăng tải nhiều chuyện giật gân về tình dục và bạo hành, về các băng đảng và mãi dâm. Tờ báo này đưa ra hình ảnh về Việt Nam khác hẳn với ý niệm về nước Việt Nam an bình không hề có tội phạm theo đường lối trước kia của chính quyền. Nhưng tờ báo lại phối hợp hình thức đăng tin giật gân với sự nhấn mạnh về nhu cầu xiết chặt kỷ cương nhằm ổn định xã hội.
Nó thường là diễn đàn để công kích bất cứ ai chỉ trích Đảng – nó hay đả kích việc làm của những nhà văn, những nghệ sĩ và những người hoạt động tích cực trong lãnh vực xã hội, và thường có thái độ thù địch với người ngoại quốc.
Tờ báo hay có những bài về người Việt ở hải ngoại mà báo đó mô tả như những phần tử nguy hiểm và những tội phạm. Các bài báo thường có tính cách phỉ báng, và hay vi phạm quyền sống riêng tư của người dân. Nó tiêu biểu cho sự xấu xa nhất của hai thế giới: đó là cái xấu của lối làm báo chuyên đăng tin giật gân được thấy ở Tây phương và lối kiểm soát xã hội và chính trị tồi tệ nhất được phô bầy tại các nước cộng sản. Tờ báo này tuyên truyền hữu hiệu hơn tờ Nhân Dân và có nhiều người đọc hơn bất cứ tờ báo nào khác tại Việt Nam.
Tự do báo chí không thể bao gồm quyền được viết lên những lời lăng mạ và những bài báo bất lương như thường thấy trong tờ báo này.”[1]
Nạn nhân mới nhất của “những bài báo bất lương thường thấy trong tờ báo này” là thầy giáo Đỗ Việt Khoa. Trên blog riêng của mình, ông đã công bố đơn tố cáo gửi đến báo Công an Nhân dân và An ninh Thế giới về việc báo này đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật …
Tâm nguyện của Trung tướng nhà văn, nhà báo Hữu Ước là “không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo Công An Nhân Dân – An Ninh Thế Giới và Văn Nghệ Công An cho tốt.” Để làm “tốt” chuyện này, đương sự đã lắm phen “ngậm máu phun người” – theo như cách nói (nguyên văn) của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang. Những người không, hay chưa, có học vị tiến sĩ thì họ nói cách khác – bỗ bã hơn chút đỉnh: ngậm cứt phun người!
Tôi cố “giảng” cho nhà tôi hiểu rằng mình thà chịu đói chớ không thể hành sử như cái đám vô lại ở báo công an, hay công an làm báo:
“Nếu coi Hữu Ước là người thành đạt thì đây là trường hợp điển hình của kẻ thành đạt vào thời nhiễu nhương thôi em ạ…”
“Hứ, ngay cả vào lúc nhiễu nhương, đục nước béo cò, thiên hạ kiếm lợi kiếm danh dễ như lấy đồ trong túi… mà anh (vẫn) kiếm không đủ tiền để ăn sáng… là nghĩa làm sao?”
Thực đúng là cái thứ “dí lồn vào thơ.” Nó nói thế thì thông minh cỡ tôi, chớ có thông minh gấp đôi, cũng đành phải botay.com thôi.
© 2010 Tưởng Năng Tiến
© 2010 talawas
[1] Đoạn văn thượng dẫn do ông Lý Công chuyển ngữ, và được trích từ bài nói chuyện của Robert Templer – tại cuộc hộ thảo “Vietnam: Développement et Démocratie – Perspective et Realités” – vào ngày 29 tháng 4 năm 1998, tại thượng viện Pháp. Chúng tôi in được bản dịch của bài nói chuyện này từ http://daiviet.org vào ngày 24 tháng 8 năm 2004. Hiện nay bài nói chuyện của Robert Templer không còn có thể tìm lại trên internet. Vì vậy, chúng tôi đã liên lạc với qúi vị phụ trách trang web Đại Việt Cách Mạng Đảng, qua địa chỉ tapchicachmang@yahoo.com, và được hồi âm vào ngày 16 tháng 8 năm 2010 như sau:
“Bài này chúng tôi có để trên trang nhà của Đại Việt, nhưng khoảng hơn năm nay, trang nhà của chúng tôi bị đánh phá không ngừng… Chúng tôi đã sửa nhiều lần, nhưng vừa sửa xong lần nào cũng bị đánh phá ngay lập tức. Hiện tại chúng tôi đang thiết kế lại toàn bộ nên không sửa lại trang nhà cũ nữa. Thành thử tìm ‘link’ của bài này trên trang nhà cũ, không biết nó nằm chỗ nào. Nếu ông chỉ cần Reference để kịp thời gian tính cho bài viết của ông, chúng tôi thiết nghĩ ông chỉ cần ‘refer’ là trích từ Tạp Chí Cách Mạng số 12 của Đại Việt Cách Mạng Đảng, trang 56, phát hành vào tháng 12 năm 1998, từ Germantown, tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ.”
MẤT TIỀN MUA BÁNH THÌ PHẢI ĂN
(Quanh chuyện làm Phim “Lý Công Uẩn”)
Nhớ chuyện cười ra nước mắt thời những năm 60 của thế kỷ trước, đồng bào dân tộc ở miền Bắc nước ta lúc bấy giờ còn nghèo và rất lạc hậu. Họ chưa biết tiêu tiền và cũng chưa nói sõi tiếng Kinh, nên không thể phân biệt được chiếc bánh gạo, bánh sằn với bánh xà phòng. Bởi vậy mới có chuyện người Thái đi chợ về, vừa đi vừa ăn “Bánh” xà phòng. Thấy sự lạ, cán bộ hỏi: xà phòng là để tắm, để gội đầu không ăn được đâu! Người Thái bảo: “Mất tiền mua thì phải ăn thôi, không thích cũng ăn, cay đắng gì cũng phải ăn kẻo phí của Yàng (Giời)!”.
Trở lại câu chuyện làm Phim “Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long” (19 tập) của Cty CP truyền thông Trường Thành, là tác phẩm mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội với kinh phí gần 100 tỉ đồng. Xung quanh bộ phim này hiện có dư luận phản ứng trên các diễn đàn mạng. Một vài tờ báo đã đưa thông tin “hoãn phát sóng bộ phim”… vì Hội đồng duyệt quốc gia đề nghị phải lược những bối cảnh mang đậm chất Trung Hoa…
Theo tôi, hãy lắng nghe tiếng nói của những “người trong cuộc” và tốt nhất phải ăn cái bánh xà phòng “Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long” xem nó đắng cay đến chừng nào? chứ chưa được ăn mà cứ cấm, cứ cãi “chay”, cãi vã tùm lum thì càng thêm thèm, càng thêm kích thích tính tò mò muốn ăn cái “bánh” ấy mà thôi.
Được biết, bộ phim “Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long” có sự tham gia khá đông đảo, hùng hậu của các nghệ sĩ Trung Quốc. Kịch bản do ông Trịnh Văn Sơn – GĐ Cty Trường Thành – viết và Kha Trung Hòa biên tập. Đạo diễn phim là Cận Đức Mậu (đạo diễn của phim truyền hình “Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên”), quay phim người Trung Quốc. Và gần 700 bộ trang phục cổ trang được may từ TQ, thuê trường quay Hoành Điếm (TQ) và phim có sự tham gia của hàng trăm diễn viên quần chúng TQ
Biên tập phim là Kha Chương Hoà, người biên kịch cho Thái tổ mật sử, Võ Tắc Thiên, Vương Triều Ung Chính… Phim có 3 đạo diễn, trong đó có hai gương mặt Trung Quốc. Tổng đạo diễn là Cận Đức Mậu, người từng thực hiện Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên, Đại Tống khai quốc. Điều này làm nhiều người lo ngại phim về lịch sử Việt lại mang đậm màu sắc Trung Quốc đến mức Cố vấn mỹ thuật – trang phục cho phim là GS.TS. Đoàn Thị Tình phải lên giải trình với Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch. Vì thế, màu sắc TQ tràn ngập bộ phim cũng là dễ hiểu.
Phim khắc họa giai đoạn từ thời tiền Lê đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi tên là Thăng Long, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ ổn định và phát triển dài lâu của đất nước. Tác giả kịch bản là ông Trịnh Văn Sơn – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành, đơn vị bỏ tiền sản xuất bộ phim. Ông Sơn cho biết, đây là kịch bản đầu tiên và duy nhất của ông. Kịch bản được ông Sơn thai nghén nhiều năm, hoàn thành tháng 8/2009 và đệ trình lên Hội đồng lý luận trung ương. Từ khi xong kịch bản đến khi kết thúc tiền kỳ phim vừa tròn một năm. Theo ông Sơn, đây là quãng thời gian rất eo hẹp và nếu không nhờ đến sự góp sức của êkíp chuyên nghiệp Trung Quốc thì không thể hoàn thành nổi.
Ông Trịnh Văn Sơn với tư cách tác giả kịch bản và nhà sản xuất cho rằng, sự góp mặt của êkíp Trung Quốc chỉ làm tăng giá trị nghệ thuật, tính hoàng tráng chân thực của phim – những điều mà các bộ phim dã sử khác của Việt Nam chưa làm được, chứ không làm giảm bớt tính dân tộc của bộ phim. Phim được làm trên các cứ liệu lịch sử dưới sự cố vấn của giáo sư sử học Lê Văn Lan, đã xin ý kiến phản biện từ Hội Điện ảnh. Nhà biên kịch Trung Quốc Kha Chương Hòa không can thiệp gì vào cốt truyện mà chỉ sắp xếp kịch bản theo nguyên tắc, 3 phút có một cao trào nhỏ, 5 phút có một cao trào trung bình và 10 phút có một cao trào lớn để người xem bị cuốn hút vào phim.
Trước khi bắt tay làm phim, Cận Đức Mậu đã nhiều lần sang Việt Nam để đến thắp hương ở đền vua Đinh, vua Lê, tượng đài Lý Công Uẩn, tuyển chọn diễn viên và cảm nhận văn hóa Việt. Các thành viên trong đoàn phim đánh giá, vị đạo diễn này có nghiệp vụ sư phạm cao, hướng dẫn diễn viên rất tận tình dù gặp phải rào cản về ngôn ngữ. Những bối cảnh tại Hoàng Điếm đều được lựa chọn sao cho giống với cảnh núi rừng, cung điện Việt Nam thế kỷ 11. Ông Sơn cho rằng, chính tính hoàng tráng của phim khiến nhiều người nghĩ nó là sản phẩm “made in China”.
Cũng khá bức xúc với việc Đường tới thành Thăng Long bị cho là giống phim Trung Quốc, GS.TS. Đoàn Thị Tình cho biết những bộ trang phục bà thiết kế hoàn toàn mang hồn túy dân tộc. “Tôi là người nghiên cứu lịch sử trang phục Việt Nam hàng mấy chục năm trời, từng được giao thiết kế trang phục cho phim Lý Công Uẩn của hãng phim truyện Việt Nam nhưng sau đó, vì nhiều lý do bộ phim này không thể thực hiện. Những bộ trang phục thiết kế cho Đường tới thành Thăng Long là kết quả nghiên cứu nhiều năm trời, trên cơ sở khoa học dân tộc và đại chúng”.
Theo bà, việc tương đồng giữa trang phục cổ trang Việt Nam bà Trung Quốc là không thể tránh khỏi vì những bộ giáp phục, long bào đều có mẫu số chung, hơn nữa văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng nhiều tới văn hóa Việt Nam qua 1000 năm Bắc thuộc. Tuy nhiên những họa tiết, hoa văn trên trang phục thể hiện nhận thức xã hội thì hoàn toàn khác nhau. “Long bào Lý Công Uẩn sử dụng họa tiết hoa sen vì Lý Công Uẩn rất sùng bái đạo Phật. Hình ảnh con rồng thời Lý cũng hoàn toàn khác với rồng Trung Quốc. Sóng nước liên hoàn trên vai giáp phục thời Lý khác với họa tiết thẳng trên vai giáp phục Trung Quốc” – bà Tình cho biết.
Bà khẳng định, giai đoạn tiền Lê sang thời Lý tương ứng với triều đại Tống ở trung Quốc, trong đó trang phục thời Lê Long Đĩnh rập khuôn hoàn toàn thời Tống còn trang phục thời Lý Công Uẩn thì có nhiều khác biệt. Mũ đội đầu của vua và hoàng hậu cũng được thiết kế dựa theo pho tượng cổ nhất về vua Lý Công Uẩn ở chùa Lý Kiến Sơ (Gia Lâm – Hà Nội). Theo bà, khi đưa những bộ quần áo này sang, êkíp Trung Quốc rất bất ngờ vì phía Việt Nam có thể phục dựng trang phục tốt như vậy.
Nhà sản xuất hy vọng, việc chọn hướng đi tắt đón đầu cho quá trình chuyển giao công nghệ sản xuất phim cổ trang sẽ đem đến một tác phẩm đáng xem cho công chúng, vừa mang ý nghĩa lịch sử vừa có giá trị nghệ thuật.
Họa sỹ Đinh Quang Tỉnh biên tập & bình luận
http://nguyentrongtao.org/m%E1%BA%A5t-ti%E1%BB%81n-mua-banh-thi-ph%E1%BA%A3i-an.xml
Nỗi cực khổ của công nhân sống trong lòng ‘lô cốt’
Nguyễn Ðạt/Người Việt
Bất cứ ai tới Sài Gòn trong vài năm nay, đi lại trong thành phố, hẳn đều có dịp chia sẻ nỗi phiền bực từ những “lô cốt” công trình. Trước sau có khoảng 80 con đường tại Sài Gòn dựng hàng trăm “lô cốt” che chắn cho việc thi công các dự án công trình gọi chung là “công trình nâng cấp đô thị-vệ sinh môi trường thành phố...”
| “Lô cốt” choán giữa đường Âu Cơ, quận 11. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt) |
Ða số “lô cốt” trên các con đường che chắn nhiều tháng trời, liên tiếp nhau, chỗ này dỡ đi chỗ kia lại che chắn, thường xuyên gây ùn tắc giao thông và trở ngại không ít cho sinh hoạt của người dân ở khu vực. Khá nhiều “lô cốt” án ngữ trọn lòng đường, hai bên lề đường lát gạch bị hư hại nát vỡ do các loại xe giao thông mỗi ngày.
Có những nơi “lô cốt” che chắn sát cạnh nhà phố buôn bán hoặc mở quán tiệm, việc kinh doanh bị trở ngại, nhiều cửa tiệm hàng quán phải ngưng hoạt động. Những chỗ đã tháo dỡ “lô cốt” luôn để lại mặt đường những vũng sâu, hang hố, đã gây nhiều vụ té xe, tai nạn giao thông.
Hàng ngàn người có việc phải đi lại mỗi ngày trên đường Bà Hom - quận 6, nhưng không dám mạo hiểm đi lại khi trời mưa, vì nhiều đoạn đường bị ngập nước cao hàng tấc, đặc biệt ở những chỗ dựng “lô cốt” đã thường xuyên xảy ra tai nạn như xe bị sụp ổ gà, xe đụng phải nắp cống, xe lọt xuống hầm công trình sát bên vách dựng,...
Hầu như ai ai cũng biết, đó là những nỗi phiền bực thường thấy đối với người dân Sài Gòn trước những “lô cốt” công trình. Ở đây chúng tôi muốn nói tới nỗi khổ cực bên trong những “lô cốt,” nỗi khổ cực của những công nhân lao động ở các công trình, nếu không có dịp tiếp xúc với người lao động bên trong “lô cốt,” có thể chúng ta sẽ không biết tới.
Làm nhiều, ngủ ít
Hàng ngàn công nhân là những người lao động chính yếu ở các công trình này với công việc đào đất, lấp đất phục vụ việc lắp đặt hệ thống ống cống thoát nước. Họ làm việc, sinh hoạt nghỉ ngơi hoàn toàn trong hàng rào tôn che chắn của “lô cốt.”
| Ðường sá khu vực “lô cốt” ở đường Bà Hom, quận 6. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt) |
Một thanh niên 28 tuổi, từ thành phố Mỹ Tho lên Sài Gòn, làm công nhân lao động cho tổng công ty xây dựng số 1, tranh thủ giờ nghỉ trưa cho biết, anh từng làm phụ hồ cho nhiều công trình xây dựng ở Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre nhưng chưa bao giờ vất vả gian lao như công việc hiện nay. Từ ngày đơn vị làm công trình tới nay, anh cùng các công nhân khác làm công việc đào đất, lấp đất nặng nhọc. Vì công việc phải di chuyển hết chỗ này sang chỗ khác, nên không ai tính toán dự liệu chỗ ăn ở thuận tiện, phải ăn ngủ ngay tại chỗ công trình bên trong “lô cốt.”
Anh kể: “Mỗi đội khoảng 20 người, làm việc theo ca. Nếu chọn làm việc ca ngày, thời tiết luôn nóng bức nên năng suất sẽ thấp, khó hoàn thành chỉ tiêu kịp thời hạn, nên anh thường chọn ca đêm, làm được nhiều hơn, ban ngày sẽ ngủ bù. Nhưng ban ngày lại ít ai có thể ngủ được, bởi tiếng xe cộ đủ loại, tiếng máy xe múc đất, ủi đất cứ xoáy vào óc. Lều ngủ ở cuối “lô cốt,” công nhân trải những manh chiếu mà ngủ. Gặp lúc trời mưa thì thật khốn khổ, giăng mắc lều bạt che chắn cách nào cũng không tránh khỏi ướt nước mưa khắp từ trên xuống dưới chỗ nằm.
Anh kể thêm: “Ðặc biệt khốn khổ hơn nữa, như những lúc làm việc ở phần cống bao chính, ở độ sâu từ 10-15 mét, muốn ngất xỉu vì bị ngộp thở và quá nóng bức, lâu lâu phải lên trên nghỉ xả hơi. Nhiệt độ dưới đó có thể từ 50 tới 60 độ C, hầm nóng cộng với hơi nhiệt từ máy móc tỏa ra. Bắc đường ống ở độ sâu này rất vất vả khó khăn vì thường gặp nước mạch ngầm và đá chẻ sâu dưới lòng đường.”
Những “công trình ngàn năm” này chắc còn kéo dài nhiều ngày tháng nữa, anh công nhân này cho biết, đơn vị tổng công ty xây dựng số 1 nhận nhiều gói thầu thuộc 3 dự án lớn: công trình cải thiện môi trường cấp thoát nước, công trình cải tạo kênh Nhiêu Lộc và công trình đại lộ Ðông Tây.
“Vì miếng cơm manh áo, anh em công nhân phải gồng mình mà đi theo công trình. Từ lúc làm việc trong ‘lô cốt’ tới nay, em thấy sức khỏe kém sút hẳn, mới đây cân thử, thấy bị mất đi bốn, năm kí-lô. Nhiều anh em khác còn bị mắc bịnh này bịnh nọ. Mắc bịnh này bịnh nọ cũng đúng thôi, vì phải thường xuyên sống trong môi trường ô nhiễm, đầy bụi bặm đường sá, sặc mùi xú uế từ kênh rạch, ống cống cũ tỏa ra.”
Chúng tôi nghe chuyện, thấy thật éo le khi những công nhân trong “lô cốt” mặc nhiên bị xem là nguyên nhân gây trở ngại giao thông ở thành phố mấy năm nay, trong khi họ chỉ làm công việc được giao, đầy khổ cực để mưu sinh.
Kiểm duyệt xuất bản ở VN: Các tác phẩm dân chủ Tây Phương gặp khó khăn
HÀ NỘI (AP) - Tác phẩm có ảnh hưởng lớn của nhà văn Pháp Alexis de Tocqueville nhan đề “Dân Chủ ở Hoa Kỳ,” không được chính quyền mấy hoan nghênh nên phải chọn xuất hiện dưới một tên khác.
| Một độc giả đứng cạnh cuốn sách của tác giả Alexis de Tocqueville xuất bản ở Việt Nam với cái tên 'Nền Dân Trị Mỹ.' (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images) |
Khi nhà xuất bản Tri Thức ở Hà Nội cho ấn hành tác phẩm này ba năm về trước, đầu đề của nó không đá động gì đến dân chủ, và nó mang tên “Nền Dân Trị Mỹ.”
Vấn đề kiểm duyệt là một trong nhiều thử thách mà nhà xuất bản ở một quốc gia độc đảng phải đối đầu, phần hành của nhà xuất bản là nhắm vào việc phiên dịch các từ quan trọng trong triết học, tư tưởng chính trị và khoa học xã hội Phương Tây.
Ngành xuất bản còn phải đối đầu với sự thiếu hụt người thông dịch có khả năng chuyển ngữ các tác phẩm lớn của tư tưởng Tây Phương, cũng như thiếu vắng độc giả.
Chu Hảo, 70 tuổi, chủ bút kiêm giám đốc nhà xuất bản nói: “Do chiến tranh cùng những vấn đề tồn đọng của lịch sử, nền giáo dục Việt Nam gần như hoàn toàn thiếu vắng những giá trị phổ quát hàm chứa trong cổ văn.”
“Ðiều học được chỉ giới hạn trong kinh điển Mác-Lê. Ngay cả ngày nay, triết học, đặc biệt là lịch sử triết học có vẻ rất xa lạ đối với sinh viên học sinh Việt Nam.”
Ông Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa Học Công Nghệ, nói rằng triết học là nhu cầu thiết yếu cho phát triển cá nhân, thiếu nó là điều “cực kỳ nguy hại cho sự phát triển của đất nước trong ngắn hạn cũng như về lâu về dài.”
Phạm Toàn, người chuyển ngữ tác phẩm cổ điển viết năm 1835 của Tocqueville cho biết, khi mới bắt đầu từ bốn năm trước, nhà xuất bản tập trung vào nhiều tác giả nổi tiếng.
Những đặc trưng khác gồm tác phẩm của Stuart Mill, triết gia người Anh thế kỷ 19, và thuộc kỷ nguyên hiện đại có phê bình gia người Mỹ Noam Chomsky.
Sau đó là tác phẩm của nhà tư tưởng Pháp thế kỷ thứ 18, Jean Jacques Rousseau và Voltaire, cũng như nhiều văn sĩ khác.
| Ông Chu Hảo, giám đốc nhà xuất bản Tri Thức. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images) |
Nói chung, có hơn 100 tác phẩm đã được phiên dịch, mà mỗi thứ bán được chừng 2,000 cuốn. Ông Hảo xót xa công nhận rằng phần lớn người mua chỉ là các nhà khảo cứu hoặc doanh gia hơn là sinh viên học sinh và cán bộ.
Cũng như mọi nhà xuất bản khác ở Việt Nam, nhà xuất bản Tri Thức trực thuộc một cơ quan của nhà nước. Trong trường hợp này đó là Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật (LHCHKHKT).
Ban chỉ đạo nhà xuất bản Tri Thức ngoài việc nhận được trợ giúp tài chánh của LHCHKHKT, họ còn được giúp đỡ từ đóng góp của tư nhân cũng như các tòa đại sứ của các nước.
Ðể thông dịch từ nhiều ngôn ngữ ở Âu Châu sang tiếng Việt, ông Hảo phải cần đến những nhà ngữ học có tuổi đời từ 60 trở lên.
Thế hệ trẻ ở Việt Nam ngày càng ít học thứ ngôn ngữ của nước cựu thuộc địa, đó là tiếng Pháp. Họ thích chọn học tiếng Anh hay nhiều thứ tiếng khác để dễ kết nối với thế giới rộng lớn bên ngoài hơn. Ông Hảo nói rằng ngay cả sự thông thạo tiếng Việt thường vẫn chưa đến đâu.
Ông xót xa cho hay: “Kiến thức tổng quát của giới trẻ quá thấp do nền giáo dục quốc gia quá yếu suốt trong nhiều thập niên.”
Ở Việt Nam hiện nay, tuổi của phân nửa dân số là dưới 30.
Nhiều chuyên gia nhận xét thấy hệ thống giáo dục trong nước còn quá xa với tiêu chuẩn quốc tế, do hậu quả của tham nhũng, và không thích hợp để đào tạo được chủ lực có năng lực cho nhu cầu của đất nước.
Nhiều chỉ trích cho rằng hệ thống giáo dục trong nước vẫn còn tính cách từ chương hơn là tư duy.
Các tác phẩm về tự do hay dân chủ, như của Tocqueville, phải đối chọi với thách thức khác trong nền ý thức hệ cưỡng chế của đất nước.
Ông Hảo nói: “Có những qui tắc bất thành văn, qui định một vùng ‘nhạy cảm’ mà mọi nhà xuất bản không được phép vượt qua.”
Tính cách nhạy cảm này đã vơi đi phần nào kể từ khi Việt Nam bắt đầu chính sách “Ðổi Mới” và năm 1986, theo ông Hảo.
Một khi mà sự kiểm duyệt vẫn muốn xen vào, ông Hảo nói ông kiên nhẫn giải thích về tầm quan trọng của việc chấp nhận sự khác biệt và cãi rằng “những gì khác với quan điểm của Ðảng Cộng Sản không hẳn là phản động.” (TP)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=119154&z=1
Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010
Đột nhập xem các quan chức đánh bạc
Theo chân ông Phi qua hai lần cửa, chúng tôi bước lên lầu hai ngôi nhà. Ở đây đang có hơn chục người và đã yên vị hai sòng bài ở góc nhà...
Trên chiếu bạc của các quan chức, họ cũng sát phạt nhau không thương tiếc. Nhưng cũng từ trên chiếu bạc lại là những mối quan hệ làm ăn, mà thông thường là những chuyện làm ăn bất chính nhằm kiếm thêm nhiều tiền để đánh bạc.
Vất vả nhập vai
| Ông Nguyễn Thường Phi (phải) trên chiếu bạc tại gia. Ảnh lấy từ video clip của PV. |
Chuyện có lần cố tình thua bạc của một doanh nhân của Quảng Trị để kiếm mối làm ăn ở Quảng Bình khiến tôi tò mò. Sau nhiều lần tạo cớ quen biết, dần dà đến độ tin cậy, tôi cũng được doanh nhân này cho cùng đi Quảng Bình “làm ăn”.
“Biết chú có máu đen đỏ, nhưng để vào được sới bạc này thì tôi không dám đảm bảo. Ở đó toàn quan to, họ kín đáo lắm, nếu không phải là những người có mối quan hệ làm ăn thì khó mà vào được”- trước khi đi, doanh nhân này cảnh báo.
Chúng tôi đến Quảng Bình khoảng hơn 5 giờ chiều. Đúng như lời cảnh báo của vị giám đốc doanh nghiệp, sới bạc mà chúng tôi vào là một ngôi nhà 3 tầng, kín cổng cao tường, nằm ngay đường lộ to nhất TP Đồng Hới. Mặc dù trên đường đi, vị doanh nhân này đã điện thoại báo trước với chủ nhà, nhưng thủ tục để vào được cũng lắm phiền hà.
Mặc dù doanh nhân nọ đã nhẵn mặt ở đây, nhưng “người gác cửa” nghe nói là vợ của chủ nhà vẫn hỏi han rất kỹ trước khi mở 2 lần cửa. Quả như vị doanh nhân cảnh báo, tôi bị loại ngay ở lần cửa thứ nhất, mặc cho ông này giải thích, năn nỉ. Trước khi quay vào, “người gác cửa” không quên ra hiệu cho tôi đánh xe đi nơi khác đỗ.
Ngồi buồn một mình, tôi lân la hỏi chuyện những người dân gần dó. Thì ra, đó là nhà ông Viện phó Viện Kiểm sát (VKS) tỉnh Quảng Bình, tên là Phi. Một số người hàng xóm của ông Phi cho biết, ngôi nhà này là sới bạc to của những người có máu mặt ở Quảng Bình. Họ nhẵn mặt những người thường xuyên đến đây. Mặc dù không được vào trong, nhưng ở đây ai cũng biết họ đến để đánh bạc.
Cứ sau giờ làm việc hành chính buổi chiều là mọi người lại lũ lượt kéo nhau đến đây. Người đi ô tô, người thì xe máy... họ vào trong, im ắng và ra về thường là 2-3 giờ sáng. Không đêm nào những hàng xóm của ông Phi không bị thức giấc vì tiếng xe máy, tiếng ô tô tăng ga, tiếng chó sủa... và đôi lúc còn được nghe lời cãi cọ qua lại vì chuyện ăn thua.
Trở lại Quảng Bình không lâu sau đó, lần này chúng tôi được đích thân chủ nhà là ông Phi xuống đón tận cửa. Số là, trong chuyến “làm ăn” lần trước, dù đêm đó không vào được sới bạc, nhưng trưa hôm sau tôi lại may mắn cùng vị doanh nhân kia hầu rượu ông Phi. Nhờ cách giới thiệu có nghề của bạn tôi, cộng với sự nỗ lực hết sức trong cuộc nhậu, tôi đã được ông Phi biết đến như là một tay chơi có số má ở đất Quảng Trị.
Mỗi đêm chục triệu tiền xâu
| Tại sòng bạc này, sự ăn thua được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. |
Theo chân ông Phi qua 2 lần cửa, chúng tôi bước lên lầu 2 ngôi nhà. Khác với vẻ im ắng bên ngoài, ở đây đang có hơn chục người và đã yên vị 2 sòng bài ở góc nhà. Vừa rót trà mời khách, ông Phi vừa gọi người nhà mang chiếc chăn chiên trải lên trên chiếc bàn được làm bằng gỗ mun, mà theo cách giải thích của ông Phi là để dễ bắt bài hơn. Một bộ bài Tây mới tinh được đưa ra.
Ông Phi giao cho tôi xáo bài, nói là để khách quan, không làm bài, không tiểu xảo, khi vào chơi ở nhà này ai tài, ai đỏ thì ăn. Xóc bài xong, lấy cớ là có nhiều người đang muốn chơi, với lại cái món Phỏm tôi cũng không khoái, thế là tôi được ngồi ngoài hầu trà các bác.
Ngồi cùng mâm bạc với ông Phi có vị doanh nhân ở Quảng Trị, ông Thởi, nghe đâu là Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lí người nghèo Quảng Bình và một người nữa cũng là cán bộ cấp tỉnh. Cách chơi được ông Phi quy ước “ù một triệu”. Có nghĩa là, người về nhì mất cho người nhất 200 ngàn đồng, về ba mất 400 ngàn đồng, về bét mất 600 ngàn đồng, người bị cháy 800 ngàn đồng, người nào ù thì ba người còn lại phải mất mỗi người 1 triệu đồng.
Ngoài ra, ai cho đối phương ăn con bài thứ nhất mất 200 ngàn đồng, con thứ hai 400 ngàn đồng, con thứ ba (gọi là con chốt mất 800 ngàn đồng) và con già (K) mất tiền bằng con chốt. Với cách chơi này, bình quân mỗi ván người về nhất thu được khoảng 1,2 triệu, ù thì khoảng 3 triệu, còn nếu ù mà có 4 già và ăn bài chốt thì có thể lên đến 10 triệu 200 ngàn đồng.
| Ngôi nhà ông Phi, cũng là địa điểm chứa chấp cờ bạc, luôn kín cổng cao tường. |
Ghé mắt nhìn sang 2 sòng bên cạnh, họ chơi nhỏ hơn. Sòng của con trai ông Phi nghe đâu cũng làm ở VKS, ù 500 ngàn đồng, sòng còn lại là của các bà sồn sồn, mỗi ván ù chỉ có 250 ngàn đồng. Ở đây có một quy ước, ai ù phải bỏ lại cho chủ nhà một số tiền nhất định để “thuốc nước”, còn gọi là tiền xâu, tùy theo mức chơi. Nếu chơi ù 250 ngàn thì mỗi ván, chủ nhà xâu 100 ngàn đồng, ù 500 thì xâu 200 ngàn, còn sòng của ông Phi thì mỗi ván ù người ăn phải bỏ lại 500 ngàn đồng cho chủ nhà.
Với 3 sòng bài hoạt động như cách nói của vị doanh nhân Quảng Trị: “Đen lắm, mỗi đêm bạc ông Phi cũng thu được hơn 10 triệu đồng tiền xâu”. Điều khiến nhiều quan chức Quảng Bình tìm đến nhà của ông Phi để chơi bài được lí giải: chơi ở đây an toàn, đặc biệt ông Phi có nguồn tiền dồi dào cho các con bạc vay không lấy lãi nếu hết tiền. Chỉ mới hơn 1 giờ đồng hồ, sòng bài của ông Phi đã có người phải vay 30 triệu đồng.
Đến khoảng 1 giờ sáng, sòng ông Phi tan vì người vay 30 triệu lại hết tiền và không muốn vay thêm. Ông Phi quay sang rủ “tay chơi Quảng Trị” là tôi vào thay. Lấy cớ hơi mệt và quá khuya, tôi lảng tránh. Sau cái bắt tay chặt, hẹn ngày gặp lại, ông Phi sà xuống sòng bài của các bà sồn sồn, cầm bài cho vợ để bà vợ xuống mở cửa cho nhóm chúng tôi về.
Bạn tôi hẹn tuần tới có cuộc chơi lớn, có thể có nhiều gương mặt tầm quyết định gói thầu. Muốn thắng họ trong bài bạc không khó, vì họ là nghiệp dư. Nhưng phải thua thôi. Đó là cách đưa tiền ngọt ngào và êm thấm nhất để toan tính những chuyện lớn hơn.
1.000 năm Thăng Long–Hà Nội: thi nhau xài tiền và phá!
Nhật Hiên, RFA
Từ khi Hà Nội bắt đầu chuẩn bị cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội cho đến nay, đã có quá nhiều lời ra tiếng vào từ người dân trước những dự án xa xỉ, hoang phí không cần thiết, thậm chí phản thẩm mỹ, phản văn hóa.
Gần đây lại thêm hàng loạt công trình văn hóa nghệ thuật đang khiến dư luận sôi sục, bất bình, phẫn nộ.
Bộ phim nô dịch về văn hóa
Trước hết là về bộ phim truyền hình nhiều tập “Lý Công Uẩn - đường đến thành Thăng Long” do công ty cổ phần truyền thông Trường Thành sản xuất. Theo báo Người lao động,“Được biết, sau khi xem toàn bộ 19 tập phim, cảm nhận chung của phần lớn các thành viên trong hội đồng là “yếu tố Trung Hoa rõ quá”. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi vì,“Kịch bản được viết bởi một “tay ngang”- ông Trịnh Văn Sơn - sau đó được nhà biên kịch Trung Quốc Kha Chung Hòa - tác giả kịch bản của những bộ phim nổi tiếng: Võ Tắc Thiên, Vương triều Ung Chính - “chuốt lại”.
Bộ phim được thực hiện với kinh phí khoảng trên 100 tỉ đồng; ê kíp làm phim (phía nước ngoài) là những gương mặt dày dạn kinh nghiệm phim trường ở Trung Quốc: Đạo diễn Cận Đức Mậu - đạo diễn phim Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên, Đại Tống khai quốc và đạo diễn Triệu Lôi; các chuyên gia hóa trang Trung Quốc; thuê trường quay Hoành Điếm Trung Quốc; thuê Trung Quốc may gần 700 bộ trang phục cổ; thuê diễn viên đóng thế của Trung Quốc và hàng trăm diễn viên quần chúng người Trung Quốc...”.
Chỉ cần xem trailer của bộ phim được phát tán rộng rãi trên mạng, ai cũng phải nghĩ rằng đây là phim Tàu lồng tiếng Việt. Đó cũng là nhận xét của nhà thơ Đỗ Trung Quân khi trả lời báo Pháp luật: “Tôi nói rằng Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long là “phim Trung Quốc nói tiếng Việt” hoặc “phim Trung Quốc không cần phụ đề”. Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng: “Mới xem qua thôi mà tôi đã thấy hãi, nếu không nói kinh hoàng!
Từ trang phục cho đến cảnh quan, từ áo mão cho đến búi tóc, hình ảnh toát ra cho ta thấy: Đây là một phim Trung Quốc; chẳng khác gì những phim lịch sử Trung Quốc khác mà đông đảo người Việt Nam quen xem.
Lời bình nhắc nhở diễn viên là người Việt Nam, nhưng bất cứ ai chưa thấy họ trên phim Việt Nam, đều nghĩ ngay họ là người Tàu, chỉ trừ cô gái và chiếc áo tứ thân.
Chi tiết nhỏ này không thể cứu vãn được tính bao trùm của bản sắc Trung Quốc!”
Nỗi thất vọng, phẫn nộ của mọi người trước hết là vì số tiền khá lớn đã bỏ ra cũng như danh sách những người phía Việt Nam tham gia trong quá trình làm phim, đều là những người có tên tuổi. Trong bài “Một bộ phim lai căng” giáo sư Nguyễn Văn Tuấn viết:
“Nội dung bộ phim nói về thân thế và sự nghiệp vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), người khai sinh ra kinh thành Thăng Long. Phim còn thuật lại sự kiện dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long từ 1.000 năm trước. Một phim như thế, chúng ta kì vọng thưởng thức một phim hàm chứa chất sử liệu rất cao, phim sẽ cho chúng ta một cơ hội tìm lại cổ sử, sống lại một thời đại tương đối thanh bình và có thể nói là cực thịnh nhất trong lịch sử nước nhà. Chúng ta cũng kì vọng rằng những người làm phim có kiến thức sử tốt, có thái độ kính trọng tiền nhân, và thể hiện bằng cách phục dựng lại những tình tiết một cách trân trọng. Nhìn qua danh sách người làm phim thấy họ có bằng cấp đầy mình: nào là nhà phê bình nghệ thuật hàng đầu Việt Nam Phan Cẩm Thượng, giáo sư tiến sĩ Đoàn Thị Tình, hoạ sĩ Phạm Xuân Hải. Trung tâm Đào tạo Công Nghệ Thông Tin HBC Việt Nam chịu trách nhiệm về phần thiết kế bối cảnh và chuẩn bị trang phục cho diễn viên…”
Bôi bác lịch sử
Cái đau xót lớn hơn là sự vô ý thức (hay cố tình) bôi bác lịch sử, là sự tự nguyện nô dịch về mặt văn hóa của những người làm phim.
Blog của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đăng ý kiến của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: “Thật không thể được! Nếu tôi là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, tôi sẽ cấm chiếu bộ phim này trên toàn cõi Việt Nam, bất kể trên truyền hình hay rạp".
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng: “Từ chỗ vô văn hóa đến chỗ văn hóa nô dịch chỉ là khoảng cách những bước đi nhỏ... Phim nhắc đến trên đây là một trong những bước đi ấy.
Vô văn hóa mà làm văn hóa thì chỉ là người đào mồ chôn văn hóa đích thực!
Mà mất văn hóa là mất hết, than ôi !
Một nghìn năm Thăng Long, một nghìn năm văn hóa dân tộc, ai sẽ chịu trách nhiệm cho những tổn thương này?”
Trang blog Gốc Sậy thì dẫn lời tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên: “Điện ảnh Việt Nam, những người quản lý ngành văn hóa Việt Nam đã và đang làm 1 việc “vô tiền khoáng hậu”: Làm phim về lịch sử dân tộc mình bằng những bối cảnh của đất nước khác. Mà quốc gia ấy, trong thời ấy và ngay cả bây giờ ‘không bao giờ muốn chúng ta bảo tồn được bản sắc của mình’.
… đau đớn là việc “tự chuyển hóa” này đang được thực hiện một cách chủ động…”
Từ bộ phim này, nghĩ rộng ra những vấn đề khác, giáo sư Nguyễn Văn Tuấn than thở: “Chưa bao giờ Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Quốc sâu đậm như hiện nay…
Chẳng lẽ 1000 năm ròng rã chưa đủ để chúng ta trưởng thành, để chúng ta thoát khỏi ách thống trị văn hóa của Trung Quốc? Tại sao Nhật và Hàn Quốc thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, còn ta thì không? Thật ra, có lẽ câu hỏi là: chưa thoát hay chưa muốn thoát?”
Bộ phim đã bị Hội đồng duyệt phim quốc gia quyết định hoãn phát sóng cho đến khi sửa chữa xong theo yêu cầu của hội đồng, mà ai ở trong nghề đểu biết đây là một việc làm rất khó, rất mất thời gian và chuyện “Việt hóa” trở lại bộ phim này hầu như không thể làm được, trừ phi vứt hết quay lại còn dễ hơn. Điều này lẽ ra sẽ không phải xảy ra nếu như bộ phim được giám sát kỹ ngay từ khâu kịch bản ban đầu.
Trang Dân báo đưa thêm một thông tin đáng chú ý khác: “Bộ phim lai căng “Đường đến thành Thăng Long” – Đài truyền hình VN góp vốn 10 tỷ đồng?”: “Dân Làm Báo nhận được thông tin từ một bạn tỏ ra khá am hiểu chuyện nội bộ ở Đài Truyền hình VN, bạn đọc có nick “Dân VTV nói” cho biết : Trong dự án phim Lý Công Uẩn – Đường đến thành Thăng Long, đài truyền hình VN có góp vốn 10 tỷ đồng từ tiền ngân sách nhà nước …
Nay phim đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn như góp ý của vị lãnh đạo Đài lúc ban đầu, không biết 10 tỷ đồng này sẽ ra sao? Và ai sẽ chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư này???
Bộ phim thứ hai, là phim nhựa “Khát vọng Thăng Long” (tên ban đầu là Chiếu dời đô) chưa ra mắt, nhưng có khả năng cũng sẽ lai căng ít nhiều vì cũng thuê trường quay của Trung Quốc. Còn nhớ bộ phim này từ khi còn là kịch bản nằm trên giấy đã đủ thứ chuyện lùm xùm tranh cãi về kịch bản, rồi ai là đạo diễn, đơn vị đầu tư, nhà sản xuất…Ngay từ hồi đó, dư luận đã choáng với con số 200 tỷ đồng được Hãng phim Truyện VN, đơn vị được đặt hàng sản xuất bộ phim truyện nhựa Thái tổ Lý Công Uẩn gửi cho Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Một con số đáng giật mình trong hoàn cảnh sản xuất và phát hành phim VN hiện nay. Nhiều người tỏ ra lo ngại: bỏ ra 200 tỷ đồng liệu bộ phim ra đời trong tương lai có xứng với “đồng tiền bát gạo”?
Tổng thư ký hội khoa học lịch sử VN Dương Trung Quốc trong bài trả lời báo Người lao động ngày 26.3.2008 đã cho rằng phim về Lý Công Uẩn là thiếu tính khả thi vì sự khó khăn về sử liệu thời kỳ này cho đến trang phục, đạo cụ, bối cảnh v.v…
Thế nhưng người ta vẫn làm và nay theo báo Thể thao văn hóa “Khát Vọng Thăng Long - Phim chưa ra mắt đã có thể bị kiện?” về vấn đề kịch bản, người tuyên bố kiện công ty Kỷ Nguyên Sáng là nhà văn-nhà báo Phạm Tường Vân, với lý do công ty này không giải quyết những quyền lợi của chị để đi đến thanh lý hợp đồng thuê viết kịch bản, chưa kể bộ phim có thể sẽ sử dụng ít nhiều nội dung kịch bản chị đã viết. Xem ra, phía sau hậu trường bộ phim này còn lắm chuyện mà chất lượng của bộ phim thì hãy còn…đợi đấy!
Những chương trình nghệ thuật tốn kém
Báo chí đưa tin, trong 10 ngày đại lễ sẽ có nhiều chương trình nghệ thuật được tổ chức hàng ngày tại các địa điểm khác nhau. Nhìn qua nội dung chương trình có nhiều điều dễ khiến người dân có cảm giác phô trương, lố lăng mà blogger Gốc Sậy đã vạch ra trong bài “Bát man tấn công đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà nội”, còn cách đưa tin của một số báo, ngay cả báo điện tử Chính phủ nước CHXHCNVN thậm chí có những chi tiết không chính xác, ví dụ như chi tiết:
“…Đặc biệt, phần âm nhạc với sự chỉ đạo của Nhạc sỹ Thế Việt sẽ có nhiều tiết mục đặc sắc như: màn hoà tấu trống hội, nhạc nước theo nghi thức cung đình, nhạc đăng đàn, nhạc múa “lục cúng hoa đăng”, nhạc “Bát man tấn công”…”Blogger Gốc Sậy:
“May nhờ đọc tin Gấp rút các chương trình nghệ thuật mừng Đại lễ của Vietnamplus.vn (08/09/2010) tôi mới hiểu”… là nhạc “Bát man tấn cống.”
“Té ra là TIẾN CÚNG (tấn cống).
Và không phải là Người Dơi Batman mà là 8 (tộc) man di.”
Nhà báo, blogger Đào Tuấn nói rõ: “Theo GS Trần Văn Khê: Bát man tấn cống thuộc “Bát ngự”, gồm 8 bài được sáng tác để nghinh giá lúc vua Thành Thái vào Nam . …Về bài Bắc Man tấn cống có chút dị biệt trong cách gọi. GS Lê Văn Tiếng trong quyền Cầm ca Tân điệu và Trần Hữu Trang gọi là Bát man tấn cống. Theo thiển ý thì bát man đúng hơn vì đó là chỉ 8 người thuộc về dân tộc man di mọi rợ phía Nam, người Trung Quốc hay dung chữ Nam man.” Tác giả nhận xét: “Còn hai chục ngày nữa là đến lễ thượng thọ cho Thăng Long ngàn tuổi. Không biết khi 1000 chiếc trống đồng cùng được gõ thì dân tình sẽ ngơ ngác náo loạn thế nào. Chả phải là trống ngũ liên chỉ được gõ đập khi thủy hỏa đạo tặc xảy ra đó sao. Hay là những nhà tổ chức đang chứng tỏ sự “rợ” của mình cho hòa hợp khi bản “bát man tấn cống” cất lên hoan hỉ trong dịp đại lễ.”
Blogger Thanh Chung thì băn khoăn trước cái tin trên báo Lao Động về chương trình “1 vạn người cùng nhảy múa trong dịp Đại lễ”, do Sở VH-TT&DL Hà Nội kết hợp cùng Hội nghệ sĩ múa Hà Nội tổ chức. “Nhẩm tính, chỉ riêng 10 ngàn bộ trang phục cho những người tham gia cũng ngốn hết vài trăm triệu. Mặc xong một lần lại cho vào kho, đợi thêm một ngàn năm nữa.” Rồi còn tiền cho các vũ công, biên đạo múa, tiền luyện tập cho 10 ngàn người không chuyên trở thành diễn viên đường phố, tiền ghép nhạc, tổng diễn tập v.v… “nếu chỉ huy động chừng một phần ba hoặc môt phần năm trong con số dự kiến thì cũng đã rất hoành tráng. Lại còn tiết kiệm được tiền đóng thuế của dân.” …Tác giả kết luận: “Giá như trong kỳ họp lần tới, các vị đại biểu Quốc hội yêu cầu Chính phủ công khai báo cáo toàn bộ chi phí cho Đại lễ 1000 Thăng Long. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, việc gì cũng dân, chỉ mỗi việc “ăn chia” là dành riêng cho những “đầy tớ nhân dân đã bị lộ”. Tổ chức cho một vạn người xuống đường nhảy múa mà độc giả như bị… đánh úp. Còn gần một tháng liệu có kịp không? Hay Sở VH – TT&DL Hà Nội rút kinh nghiệm dự án “Cổng chào”, “lắm thầy thối ma” - Tiền đã được duyệt chi mà không sao chi được. Miếng ăn đã đến miệng, lần này quyết giữ. Cứ lẳng lặng mà... tiêu.”
Con đường gốm sứ… đầy vết nứt, vỡ
Một công trình lớn khác rất được mọi người kỳ vọng là “Con Ðường Gốm Sứ”, một bức tranh tường quá khổ dài gần 4 km, được khởi công từ năm 2008, nay mới bị dư luận khám phá là có nhiều vết nứt, chỗ vỡ, bong tróc. Theo báo Vietnam Net: “Các bức tranh trên dự án ‘Con đường gốm sứ’ (Hà Nội) đã xuất hiện một số vết nứt, có vết ngắn vài gang tay, có vết dài hàng mét; ngoài ra còn một số mảng vỡ nhỏ. Nếu đi lướt qua thì trông không rõ, nhưng đứng lại quan sát thì thấy như ‘hạt sạn trong bát cơm”. Các báo khác cũng đồng loạt đưa tin về công trình dự kiến sẽ được nhận bằng kỷ lục Guiness thế giới nhưng chưa khánh thành đã nứt này. Báo VNExpress dẫn lời một số nhà sử học, nghệ sĩ, họa sĩ cảnh báo công trình này có thể trở thành một thứ “rác văn hóa” do sự xâm lấn của tính thương mại trong một công trình văn hóa, sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung, chủ đề và không có thiết kế tổng thể… Thậm chí, như nhận xét của họa sĩ Trần Lương “đây là công trình "không thể sửa chữa được về mặt nghệ thuật, mà chỉ khắc phục được phần nào đó về tính lịch sử". "Dự án đã hỏng từ gốc, nên tốt nhất là dỡ đi làm lại, biến nó thành một tác phẩm nghệ thuật cộng đồng đúng nghĩa...”
Có cảm giác như công trình, dự án nào cũng cố đấm ăn xôi làm cho bằng được, như thể đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội này quả là một cơ hội …ngàn năm mới có một lần để người ta đua nhau xài tiền chùa của nhà nước (tức tiền thuế của nhân dân) hoặc kiếm tiền (nếu là dự án của tư nhân, hay kêu gọi vốn từ xã hội)… chẳng cần bận tâm đến chất lượng, giá trị văn hóa lịch sử… Trong lúc đất nước còn nghèo, nhân dân còn bao nhiêu thứ cần kíp hơn, ngay chính Hà Nội cũng còn bao nhiêu thứ quan trọng hơn phải giải quyết từ giao thông, môi trường, hạ tầng cơ sở… thay vì những công trình, dự án hoang phí giá trị thì ít mà phá hoại thì nhiều này!