Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

Chúc mừng Anhbasg về nhà.../ http://vudongha.wordpress.com/2010/03/26/cong-an-da-th%e1%ba%a3-blogger-anhbasg-t%e1%bb%a9c-lu%e1%ba%adt-s%c6%b0-phan-thanh-h%e1%ba%a3i/

“Tủ sách Tuổi Hoa” trở lại

Hình lấy từ trang web fahasasg.com.vn Nhà sách Xuân Thu ở TPHCM có rất nhiều loại sách cho mọi lứa tuổi, kể cả sách ngoại văn

Khánh An, phóng viên RFA
2010-03-25

Đối với các thế hệ người Việt thập niên 60, 70, rất nhiều người đã từng say mê và yêu mến những tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa”, với ba loại Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím.

Thế nhưng sau năm 1975, độc giả Việt Nam đã không còn cơ hội tiếp xúc với các tác phẩm vốn có rất nhiều đóng góp cho công tác giáo dục thanh thiếu niên trước đây. Chính vì vậy, việc tái xuất bản các tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa” đã thu hút sự quan tâm của không chỉ độc giả ở trong nước.

Một giá trị văn học

Linh mục Phạm Trung Thành, Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, người chịu trách nhiệm xin giấy phép xuất bản để những tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa” một lần nữa được đến tay bạn đọc, cho biết: “Chúng tôi đang bắt đầu tái bản trở lại, đã xin phép nhà nước cho tái bản nên chúng tôi cho phát hành. Hiện nay, chúng tôi đã ra được 99 đầu sách và chúng tôi sẽ lần lượt ra hết.”

Khánh An: Dạ vâng. Tất cả sách trước đây đều được phép phát hành hết hay sao, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Không biết ạ, tại chúng tôi xin từng đợt. Hiện nay về vấn đề phát hành sách ở Việt Nam thì tương đối cởi mở thêm một chút. Vì vậy, chúng tôi đang cố gắng để phục hồi văn hóa đọc cho giới trẻ và nhất là chúng tôi nhận thấy cái giá trị của “Tủ sách Tuổi Hoa”, có thể giới trẻ ngày nay không mặn mà lắm nhưng dù sao, mình vẫn phát hành.

Khánh An: Dạ vâng. Văn phong của “Tủ sách Tuổi Hoa” là văn phong của trước năm 1975, so với sách dành cho thanh thiếu niên bây giờ là ngôn ngữ mới sau này. Vậy liệu “Tủ sách Tuổi Hoa” có còn phù hợp với các bạn trẻ hiện nay không, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Quan điểm của tôi thế này, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay thiếu những nhà giáo dục và những nhà văn tâm huyết cho tuổi trẻ để có thể có những tác phẩm xuyên qua những câu chuyện thường ngày mà mang tính giáo dục.

Cái đó thì thực sự là thiếu, dẫu rằng ngày nay giới trẻ ở Việt Nam nói chung, giới trẻ ở thành phố Sài Gòn này nói riêng, họ không mặn mà gì với lối hành văn cũ như thế nhưng chúng tôi thấy rằng cần phải gìn giữ một giá trị văn học đã có một thời đóng góp vào trong nền văn học của Việt Nam. Thí dụ, ngày nay người ta không viết văn theo kiểu của Tự Lực Văn Đoàn nữa nhưng mà không thể phủ nhận được giá trị của Tự Lực Văn Đoàn.

Có thể ngày nay ít người đọc Tự Lực Văn Đoàn nhưng không phải vì vậy mà chúng ta không gìn giữ. Chỉ có một cách duy nhất để gìn giữ “Tủ sách Tuổi Hoa”, đó là tái bản. Chúng tôi tái bản, ví dụ, một đầu sách 1000 cuốn. Bán được một nửa thôi, dù lỗ, chúng tôi vẫn tái bản để trong thư viện một số nơi, của một số nhà giáo dục, một số trường, vẫn có để khi cần cho một đôi ba tâm hồn nào đó.

Nhưng mà trong một, hai tháng phát hành vừa rồi, tôi thấy là đúng, giới trẻ không mặn mà nhưng lứa tuổi của chúng tôi trở lên, tuổi của trước năm 1975, lứa tuổi mà có một thời đã say mê Tuổi Hoa thì họ đi tìm lại.

Lệch pha giữa hai thế hệ

DongSuaMe-200.jpg
Một tựa sách loại HOA XANH: tình cảm nhẹ nhàng (gia đình, bạn bè). Hình chụp từ trang web tuoihoa.hatnang.com

Khánh An: Và như vậy cha có nghĩ rằng mình sẽ có một hướng nào khác, giống như một Tủ sách Tuổi Hoa thời đại mới cho các bạn trẻ không?

LM Phạm Trung Thành: Trong quá khứ, hai ba năm vừa rồi, tôi đã làm, đang làm và sẽ tiếp tục làm, đó là chúng tôi mở ra các cuộc thi viết truyện ngắn dành cho các bạn trẻ để phát hiện những cây bút trẻ. Nhưng mà chúng tôi xin nói thật là ba lần chúng tôi phát động, chúng tôi cũng có trao giải thưởng rồi cũng tập hợp những bài trúng giải để in, nhưng mà chất lượng thì đúng là không cao.

Hay là bây giờ tôi và ban giám khảo là những lớp người đã cổ, không tìm được những điều hay ở trong áng văn mới hay sao, tôi cũng không rõ. Ví dụ, ban giám khảo của chúng tôi, tôi mời nhà thơ Đình Bảng, là một trong những nhà văn, nhà nghiên cứu xuất thân từ Đại học Văn khoa cũ, phần đông ban giám khảo đều xuất thân từ Đại học Văn khoa cũ, khoa Văn, và phần đông đều lắc đầu và chấm để nâng đỡ các em, rồi mở giải, vỗ tay với nhau.

Chúng tôi cũng đang dự định là thử mở một trại sáng tác để cho những anh, những bậc trưởng thượng, những bậc đại thụ trong văn học Việt Nam còn sống sót, nâng đỡ các em bằng cách truyền đạt nghề. Chúng tôi đang suy nghĩ với nhau chuyện này. Hoàn cảnh hiện nay cũng đang có những cơn lốc, cơn lốc sống kinh khủng lắm và những hình thức nghệ thuật khác ở Việt Nam cũng đang lấn lướt nhiều.

Tôi có một kinh nghiệm là những giá trị của Tự Lực Văn Đoàn đã xây dựng nên con người, thế hệ của chúng tôi. Cho nên tôi cũng muốn, thôi thì, mình cố gắng làm một cái gì đó.

Khánh An: Dạ. Cha nhận xét như thế nào về văn hóa đọc của các bạn trẻ hiện nay, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Tôi không dám vơ đũa cả nắm nhưng những cái đang ồn ào ở trên mạng, ở trước mắt thì nó cũng giống như là ca nhạc vậy. Tức là, hay là tại vì mình lớn tuổi rồi và mình chịu ảnh hưởng quá lớn bởi lối hành văn của ngày xưa (nên) mình không cảm nhận được giới trẻ hay sao. Thí dụ như là tôi có thể nghe nhạc tiền chiến, tôi có thể nghe những ca khúc sonate, họăc là những bài giao hưởng, tôi rất là thích thú.

Nhưng tôi không thể chịu đựng được nhạc, cách nhảy múa và lối ăn mặc của ca sĩ ngày nay trên sân khấu. Đang khi đó, tôi nhìn trên màn ảnh hoặc đến các tụ điểm, tôi thấy là các bạn trẻ kéo đến rất đông và họ nhảy múa theo như thế. Tôi vẫn nghĩ, hay là chúng tôi đã đi lùi thời đại và chấp nhận một cái mới như là chấp nhận nó đáng có và không thể nào chống đối lại các em.

Mặc dù vậy, thỉnh thỏang trên báo chí ở Việt Nam, ở Sài Gòn, vẫn có những nhà phê bình họ nói những lời báo động và kêu cứu rất nặng nề. Bây giờ thì quan điểm của tôi là không nên phê bình giới trẻ mà làm sao phải đồng hành, hội nhập để cùng với các em đi tìm, khám phá lại những gì đẹp, hay. Còn thú thật, cũng giống như ca nhạc vậy, một số sách mà tôi đọc, tôi rất là nản.

hoado-200.jpg
Một đầu sách loại HOA ĐỎ: truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám. Hình chụp từ trang web tuoihoa.hatnang.com

Tôi lấy thí dụ, hầu như không tìm được một đoạn văn nào miêu tả một khung cảnh mà làm cho tâm hồn mình nhẹ nhàng lên. Mình không tưởng tượng đựơc khung cảnh mà nhân vật đang ở như thế nào. Trong khi đó đối với Tự Lực Văn Đoàn hay là đối với những tác phẩm Tuổi Hoa nhẹ nhàng hơn, thì bao giờ cũng có những đoạn văn tả cảnh trước, mây trời thế nào, sắc trời ra sao, rồi bên đường đi có những gì, đại khái như vậy, thì gần như những tác phẩm bây giờ không có những miêu tả đó, mà vô là đối thoại, hành động ngay.

Cảm thông với giới trẻ

Khánh An: Và như cha nhận xét, đó là một cơn lốc hiện nay. Là người làm sách có tâm huyết thì mình sẽ đi theo hướng nào, “cuốn theo chiều gió” hay đi ngược lại chiều gió, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: “Cuốn theo chiều gió” thì chắc chắn không vì mình không thể làm cái gì đó khác mình. Đi ngược thì không nên, bởi vì tôi có một kinh nghiệm khi mình còn trẻ, mình bị các cụ la rầy, chê bai tuổi trẻ bây giờ không bằng tụi tao ngày xưa thế này thế nọ, thì mình cảm thấy là các cụ không cảm thông.

Còn bây giờ, như tôi thưa chuyện hồi nãy, có lẽ chúng ta phải tìm một cuộc gặp gỡ, một sự cảm thông. Tôi luôn luôn đứng về phía họ để nhìn ra họ là nạn nhân của thời cuộc, đặc biệt là thời cuộc của đất nước chúng ta ở trong nước. Phải nói là các bạn trẻ là nạn nhân, nạn nhân của rất nhiều vấn đề xã hội.

Từ đó, nó tác động đến tâm hồn và con người. Tôi nghĩ rằng tôi không thể chiều theo cơn lốc vì tôi không thể làm khác tôi. Đồng thời, tôi cũng không được phép đi ngược lại cơn lốc bởi vì tôi không thể chống chính người học trò, con cái, anh em mình.

Có lẽ phải có gì đó cảm thông, hội nhập để tìm cách gìn giữ và cũng phải cân nhắc lại mình, coi chừng mình hoài cổ. Tôi nghĩ, làm sao phải giữ được cái hồn Việt cho các em, thật sự khó. Hiện nay, cơn lốc về kinh tế đã tạo ra một sự phá sản về đạo đức trong xã hội.

Nhân đây tôi cũng nói luôn, khi tôi thực hiện cuốn này, tôi cũng đã tham khảo luật pháp Việt Nam và luật tác quyền, tôi cũng muốn nói với các tác giả, một số tôi đã được gặp, còn một số không biết lưu lạc ở phương trời nào rồi, thì chúng tôi sẵn sàng và muốn được gặp một số tác giả mà có tác phẩm chúng tôi tái bản, để chúng ta có thể nói chuyện với nhau về tác quyền.

Khánh An: Dạ vâng. Cảm ơn cha rất nhiều.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tuoi%20hoa-fiction-books-before-1975-were-published-KAn-03252010153753.html

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2010

Ngàn Năm Thăng Long trong mắt người nghệ sỹ

2010-03-24

Giới văn nghệ sỹ, những người suốt cả cuộc đời gằn bó với Hà Nội đã nghĩ gì về ngày đại lễ Ngàn Năm Thăng Long. Mặc Lâm xin gởi đến qúy vị ý kiến của một số văn nghệ sỹ.

Screen capture: ngannamthanglong.gov

Ngàn Năm Thăng Long. Screen capture: ngannamthanglong.gov

Câu nói Ngàn Năm Thăng Long từ hai năm nay đã trở nên thân quen với người dân thủ đô khi nhà nước vận động cả nước chuẩn bị ăn mừng ngày kỷ niệm này vào tháng 10 tới đây.

Biến cố này có thể người dân Hà Nội chưa bao giờ chứng kiến trong đời, sự nôn nao chờ đợi ngày đại lễ đang âm ỉ trên từng lãnh vực, từ kinh doanh nhỏ lẻ cho tới dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí tất cả đang đua nhau chuẩn bị cho 10 ngày hội lớn mà theo dự kiến sẽ có hàng triệu người tham gia.
Tính chất hội hè thấy rất rõ trên mọi công trình đang chuẩn bị hiện nay. Nhà nuớc không ngần ngại khi bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng mới hay trùng tu những địa điểm lịch sử. Nhiều công trình liên quan tới ngày hội cũng đang được nhanh chóng hoàn thành cho kịp thời hạn.

Thì cái điều này không biết là cái cách làm của nhà nước và thủ đô Hà Nội họ sẽ hy vọng mang lại những hiệu quả gì lớn hơn những cái sự mình phải chi tiền bạc có tới tay ai hay không thì không thể tính được.

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo

Hà Nội sẽ đổi mới sau lễ hội?

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo cho biết suy nghĩ của ông về biến cố này với những đắn đo giữa sự tôn vinh văn hóa và những yếu tố không cân bằng đang xảy ra hiện nay:
- Ở dất nước nào thì cái vấn đề thủ đô cũng rất là quan trọng vì nó là đầu não, nó là trái tim, nó là tất cả những cái gì mà để đại diện cho văn hiến, kinh tế, chính trị của đất nước đó. Cái việc nhắc lại truyền thống của một thủ đô thì điều ấy luôn luôn là tốt, luôn luôn là hợp ý tất cả mọi người dân và đất nước.

Ở Việt Nam mà làm cái kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long thì họ cũng nhắc đến một truyền thống, là một cái truyền thống yêu nước và cống hiến, thì tôi nghĩ đấy là một cái việc cũng đáng làm, chỉ có cái điều là trong điều kiện kinh tế của đất nước và nhân dân nó cũng đang còn thấp, đời sống cũng đang rất vất vả thì cái việc chuẩn bị cho ngày đại lễ như thế thì tôi nghĩ là rất tốn kém, mà thậm chí là rất quá tốn kém.

Thì cái điều này không biết là cái cách làm của nhà nước và thủ đô Hà Nội họ sẽ hy vọng mang lại những hiệu quả gì lớn hơn những cái sự mình phải chi tiền bạc có tới tay ai hay không thì không thể tính được. Nhưng mà dầu sao nó cũng có một cái điều kiện để mà thay đổi phần nào cái bộ mặt của thủ đô Hà Nội, thì điều ấy là điều

Thành Thăng Long thời Pháp thuộc. Photo courtesy of Wikipedia
Thành Thăng Long thời Pháp thuộc. Photo courtesy of Wikipedia
mong muốn.
Giới trẻ xôn sao chờ đợi ngày hội này qua các buổi trình diễn nghệ thuật hoành tráng. Người lớn thì sẵn sàng cho những ngày nghỉ lễ vui chơi với gia đình. Cả xã hội hình như đang vận hành cùng với guồng máy chính quyền trong biến cố được xem là lịch sử này. Thế nhưng đối với nhà thơ kiêm đạo diễn phim Phan Huyền Thư thì không mấy quan tâm lắm tới những xao động chung quanh. Chị nói:
- Thực ra thì em nghĩ rằng cái việc Nghìn Năm Thăng Long ấy nếu nó là việc của lịch sử, việc của trời đất, việc của dân tộc, một thể chế nào đi chăng nữa thì em không nghĩ rằng nó là cái gì riêng của nhà nước hay là của gì cả. Tất cả kể cả nhà nước cũng như là các cơ quan tổ chức cũng như là mỗi một người dân, một công dân, đặc biêt là Hà Nội như em, đều có một cách khác để kỷ niệm cho cái lễ hội này một cách khác nhau.

Em nghĩ là đối với nhiều thế hệ con người là cũng rất tốt, rất tích cực và rất là cần thiết. Nhưng mà vấn đề em nghĩ tới là sau một nghìn năm thì OK, rồi từ một nghìn năm trở đi thì thế nào đây, thì đấy là câu hỏi mà mình nghĩ đến .

Cô Phan Huyền Thư, nhà thơ-đạo diễn

Nhưng mà thực hiện những cái đó thì nó cũng là cái tốt thôi, nhưng mà nó không phải là cái gì đó quá lớn để có thể mất nhiều thời gian quan tâm đâu vì mình còn nhiều việc khác. Thực ra thì cái kiến thức về lịch sử của em thì nó chả đợi cái dịp này.

Tự em trau dồi và tự em tìm hiểu lịch sử dân tộc từ lâu rồi. Còn cái việc khuếch trương tất cả những kỷ niệm này để giúp cho cá nhân em thì em không biết, em nghĩ là đối với nhiều thế hệ con người là cũng rất tốt, rất tích cực và rất là cần thiết.

Nhưng mà vấn đề em nghĩ tới là sau một nghìn năm thì OK, rồi từ một nghìn năm trở đi thì thế nào đây, thì đấy là câu hỏi mà mình nghĩ đến .

Sự tham gia của người Trung Quốc

Như mọi dự án lớn nhỏ từ trước tới nay, Hà Nội Ngàn Năm vẫn không tránh khỏi những vết xe cũ mà nhiều người cho là khó thể tránh, đó là vấn nạn chia chác trong dự án. Công trình càng lớn thì mối lợi càng nhiều khiến không ít người có trách nhiệm khó cưỡng lại sức cám dỗ tới việc rút ra một ít từ khối lượng tiến quá lớn của dự án.

Tượng Lý Thái Tổ tại Hà Nội
Tượng Lý Thái Tổ tại Hà Nội. Photo courtesy of Wikipedia
Phim Lý Thái Tổ là một. Báo chí theo dõi cuốn phim từ khi kịch bản đầu tiên hoàn thành, rồi sửa đi sửa lại, qua tay nhiều đạo diễn, và cuối cùng cuộn phim được giao cho một đạo diễn người Trung Quốc phụ trách.
Mọi công đoạn đều được hoàn tất từ Trung Quốc, từ việc thuê áo quần, đạo cụ cho đến quay phim, hậu kỳ…đều do Trung Quốc đảm trách. Cũng may diễn viên là người Việt nên dân chúng thủ đô không phải nghe người lồng tiếng.
Nhà biên kịch kiêm đạo diễn Doãn Hoàng Giang cho biết suy gẫm của ông, cũng như những dự tính mà ông từng nghĩ tới khi được mời làm tổng đạo điễn cho chương trình Ngàn Năm Thăng Long trước đây:

Mọi công đoạn đều được hoàn tất từ Trung Quốc, từ việc thuê áo quần, đạo cụ cho đến quay phim, hậu kỳ…đều do Trung Quốc đảm trách. Cũng may diễn viên là người Việt nên dân chúng thủ đô không phải nghe người lồng tiếng.

- Trước hết, với Hà Nội thì nó là thủ đô của cả nước mà lại là một thủ đô có một nghìn năm, nghìn năm văn hiến, trải qua bao nhiêu biến thiên lịch sử. Bây giờ kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long thì tất cả những người trong đất nước này thì đều mong muốn đóng góp một cái gì đó cho Nghìn Năm Thăng Long cho nó tốt đẹp, cho Hà Nội nó đẹp đẽ lên, cho Hà Nội nó văn minh lên, cho Hà Nội nó lịch sự lên, chớ không phải chỉ là một cái ngày kỷ niệm không thôi. Vấn đề là sau cái kỷ niệm đấy Hà Nội lại là cái gì? Nhân cái kỷ niệm này phải làm sao biến Hà Nội trở thành một Hà Nội văn minh lịch sự hơn, đó mới là điều quan trọng.

Cái này người ta không nghĩ đến vấn đề kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long mà nó như là một miếng bánh chia phần ra, mỗi người làm một tí một tí thành ra cái tổng thể để cho kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long, nó vẫn không hay. Cái kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long nó thì phải để lại cho con cháu mình một điều gì đó. Thí dụ như có một nghìn cái đài lửa được rải khắp đất nước để kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long. Trên cái đài lửa ấy thì có thể mỗi một tỉnh, mỗi một thành phố họ sẽ làm một cái đài theo ý của họ, và trên cái đài lửa ấy thì khắc tên các danh nhân của địa phương ấy, những người đã đóng góp cho đất nước này. Đấy, đại khái kiểu như thế.

Nhà nước đang có vẻ lệch hướng khi đặt trọng tâm quá nhiều vào các chương trình lễ hội mà không chú trọng đúng mức tới tầm quan trọng của ý nghĩa lịch sử để tôn tạo những hình ảnh hào hùng mở mang bờ cõi của cha ông. Lễ hội càng nhiều thì ý nghĩa đích thực của lịch sử càng ly tán.

Quan trọng là bài học lịch sử ngày đại lễ để lại

Những vết đen đang làm cho ngày đại lễ mất dần vẻ đẹp của một ngày trọng đại. Nhà nước đang có vẻ lệch hướng khi đặt trọng tâm quá nhiều vào các chương trình lễ hội mà không chú trọng đúng mức tới tầm quan trọng của ý nghĩa lịch sử để tôn tạo những hình ảnh hào hùng mở mang bờ cõi của cha ông.

Lễ hội càng nhiều thì ý nghĩa đích thực của lịch sử càng ly tán. Người ta không thể tập trung ý nghĩ trên mỗi chặng đường giữ nước của cha ông bằng pháo bông, bằng ca nhạc hiện đại hay những đám rước linh đình với múa rồng, rước lân  tràn ngập đường phố.
Đạo diễn Doản Hoàng Giang cho rằng phải để lại điều gì đó đáng nhớ đối với Ngàn Năm Thăng Long hơn là chạy theo những cuộc vui chơi vô ích:
- Phải để lại điều gì cơ, chứ còn kỷ niệm xong rồi nhảy nhót, rồi vui chơi, rồi là đánh trống, rồi là múa hát, xong rồi nghìn năm thế mà thôi thì cũng không hay. Nhân kỷ niệm Nghìn Năm Thăng Long này thì Hà Nội phải có một biến chuyển lớn cơ, chứ Hà Nội bây giờ nó có vẻ đẹp cổ kính của ngày xưa nhưng mà đồng thời bây giờ nó cũng luộm thuộm, nó nhếch nhác, nó nhiều thứ lôi thôi lắm.

Giao thông thì hỗn loạn, đường phố thì chật chội, rác rưởi này, vân vân, tức là bây giờ nó phải làm thế nào để Hà Nội kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long, tức là kỷ niệm một nghìn năm văn hiến của Hà Nội thì Hà Nội đừng mất đi cái màu sắc văn hiến của mình, đừng mất đi vẻ đẹp của mình, đừng mất đi cái thanh lịch của mình. Đấy, cái điều đó mới quan trọng.
Ý kiến cho rằng đầu tư thêm vào các bài học lịch sử để dạy dỗ các em ý nghĩa đích thực của việc dời đô vẫn tốt hơn những món tiền lớn lao vung vãi trong lòng Hà Nội để rốt lại có thể sẽ còn nhiều chuyện nhiêu khê không ai đoán trước được sẽ xảy ra làm cho hình ảnh Thăng Long lu mờ thêm trong lòng người dân cả nước.

Theo dòng thời sự:

Nhân chứng kể về việc Anhbasg bị bắt một cách dã man.../ http://freelecongdinh.wordpress.com/2010/03/25/blogger-anhbasg-b%E1%BB%8B-b%E1%BA%AFt/

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

Vĩnh biệt Hữu Loan......../ Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết./ Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt/ http://nhanam.multiply.com/journal/item/251

Vĩnh biệt Hữu Loan, vĩnh biệt một nhân cách cao thượng

Vĩnh biệt Hữu Loan!

Vậy là người vệ quốc quân - người trai khói lửa năm xưa đã ra đi. Mai đây, mộ chí của chàng sẽ tím biền biệt một màu sim và để lại cho người yêu thơ những câu thơ không chết. Như "cây gỗ vuông chằn chặn", Hữu Loan còn để lại một tinh thần bất khuất của một trí thức không biết cúi đầu. Những năm tháng kéo xe thồ đá trên núi nuôi con ăn học gửi lại thế hệ sau bài học cao cả về khí tiết.

Vĩnh biệt Hữu Loan.

Màu Tím Hoa Sim
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân đi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về, cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy đời chiến chinh mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương người vợ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
mà chết người gái nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng.
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành chiếc bình hương tàn lạnh vây quanh.
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói.
Không được trông nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím.
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ.
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa!…
Một chiều rừng mưa ba người anh
từ chiến trường Đông Bắc
biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng.
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chôn mộ chí.

Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa.
“Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm
Mẹ già chưa khâu …”

Lời tự thuật của HỮU LOAN

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa,chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà . Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học . Đến năm 1938 , lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốân quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn .Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy , trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và ...Tôi - Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên . Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà .Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ' Em chào thầy ạ'Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một 'bà cụ non'. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ...

Có lần tôi kể chuyện ' bà cụ non' ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành... Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ...Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: ' mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu' Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi:

-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt qúa nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những qủa sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt qúa.”
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, qủa sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những qủa sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại...em vẫn đứng yên đó ...Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ....

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp...

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sơ,ï vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm'soạn kịch bản'.
Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là:'yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả'. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói , hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại...Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn( thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi .

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh ...
...Tôi về không gặp nàng....

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa.. Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang 'ở nhà trông vườn' ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ 'quê đẻ của tôi đấy' thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :

Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.


Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi' hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi'. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi qúa! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ qúa rồi!
Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng...Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ...Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu qúy, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi....Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ qúa, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954- 1955.

Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản qúa, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn ,nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó , cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng .

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ ,nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Qúa xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái- và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ' tái xuất giang hồ' sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia 'lộc' cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán./.

* Hữu Loan.