Hiển thị các bài đăng có nhãn vănhóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vănhóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010

'Phụng dưỡng cây cổ thụ'

Một trong những bản sắc văn hóa sâu đậm của người Việt chúng ta là yêu thiên nhiên, sống hài hòa với tự nhiên, trọng tình và luôn giữ trọn tình nghĩa thủy chung.

'Xét công trạng cho người còn khó huống hồ xét công trạng cho ngựa voi, cây cối'

Không chỉ thủy chung với người mà còn thủy chung với cả vật, cả cỏ cây.

Xưa có chuyện voi của Hai Bà Trưng, của Đức Thánh Trần giúp các ngài xông trận lập chiến công, voi hi sinh khi lâm trận, người dân lập đền thờ để ghi nhớ công lao con vật hiền lành nhưng trung thành cùng người đánh giặc.

Nghe nói trong trận Điện Biên năm xưa cũng có một chú voi được ban thưởng huân chương quân công vì có công kéo pháo , chuyển gỗ xây công sự trong chiến trường.

Cây và sự tích

Nhiều cây cối gắn liền với các sự tích của Thánh Trần nay cũng còn được chăm sóc giữ gìn chu đáo trong khu đền Trần và nhiều nơi trong cả nước. Cây đa Tân Trào ở “Thủ đô gió ngàn năm” xưa cũng thuộc về loại cổ thụ được chăm sóc và giữ gìn.

Công bằng mà nói, nếu bình xét công trạng, cây đa Tân Trào xét về nhiều mặt, cũng không có gì hơn hẳn nhiều cổ thụ khác trong cả nước. Về lí lịch: bản thân, cây đa Tân Trào có thể do dân làng trồng mà cũng có thể do chim chóc ăn quả thải hạt mà có.

Chi bạc tỷ làm cái thân đa Tân Trào giả bằng xi măng, bằng nhựa hóa học, chẳng có một giá trị gì ngoài sự phảm cảm.

Vũ Thế Long

Có những cây như cây vú sữa do Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay trồng để làm gương cho cả nước thi đua trồng cây. Những cây ấy cũng có thành tích thật thiết thực. Những “Tân thụ” ấy có lí lịch, ngày tháng năm trồng và ảnh chụp phim quay rõ ràng.

Lí lịch của đa Tân Trào thì tù mù một dấu hỏi. Đa Tân Trào chỉ là một chứng vật lịch sử bởi dưới gốc cây đa này đã diễn ra nhiều hoạt động lịch sử của thời tiền khởi, gắn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với Chính phủ lâm thời của nước VNDCCH.

Vậy là cây đa chỉ là một vật chứng, một hình ảnh lịch sử. Công bằng mà xét cả rừng cây Tân Trào cũng là những vật chứng của cái thời kì ấy và còn nhiều vật chứng khắp nơi trong nước như trong thân cây đa khổng lồ làng Võng La Hà Nội đã là nơi ẩn trú của Đảng bộ xã trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, Nhà Quốc Hội xưa giữa Ba Đình….

Một cách ghi lại dấu vết của cây cổ thụ tại Pháp

Cổ thụ Võng La chắc gì đã kém thành tích hơn cổ thụ Tân Trào ? Chẳng những là chứng vật lịch sử mà còn có công che chở bảo vệ cho cán bộ để lãnh đạo nhân dân Thủ Đô kháng chiến bảo vệ xóm làng.

Xét công trạng cho người còn khó huống hồ xét công trạng cho ngựa voi, cây cối. Cây cối voi ngựa có biết nói đâu, ai cho gì nhận vậy.

Thưởng phạt ra sao là do con người ta cả.

Mấy năm nay, nghe tin dữ “Quốc thụ” Tân Trào lâm trọng bệnh , người ta vời bao nhà khoa học, giáo sư tiến sỹ đầu ngành đến cứu chữa. Ai nấy đều lo lắng xót xa.

Chế độ cao nhưng cây giả?

Tuần rồi, lại nghe tin vui “ Nhà nước đã đầu tư chăm sóc “Quốc thụ” Tân Trào tương đối thành công và nay có quyết định bỏ thêm hai tỷ rưỡi để “tân trang” và “phục dưỡng” cho Quốc thụ.

Nghe giật cả mình! Trời ơi! Sao mà lắm tiền thế?

Trót mạo muội gọi cổ thụ Tân Trào là “Quốc Thụ”, tôi sợ sẽ bị mọi người phê bình vì nói càn. Ai cho phép? Muốn chọn Quốc hoa, Quốc phục phải có hội đồng nhà nước xem xét, phải được Chính phủ và Quốc Hội thồng qua.

Ai cho phép tự phong là Quốc thụ? Tôi dám nói liều như vậy chỉ vì so với cây cối trong cả nước này thì từ cây non đến cây già chẳng có cây nào được người ta chăm bẵm, nâng đỡ đến như vậy.

Anh có tiền anh cứ tiêu. Nhưng thả sức tiêu tiền của nhân dân thì lại là một chuyện khác.

Vũ Thế Long

Riêng cái khoản được tiêu chuẩn chăm sóc cao cấp như thế thì cả nước chỉ có một.

Gọi là “Quốc thụ Tân Trào” cũng có cái lí của nó chứ. Thử tìm xem có cây nào được hưởng chế độ cao hơn hơn?

Nghe nói có những tay trọc phú chơi ngông dám bỏ ra cả tỷ bạc để mua về một gốc đa cỏn con mọc bên hòn giả sơn, được ca tụng có dáng có thế tuyệt trần. Bé tẻo tèo teo nhưng lại già hơn ông bành tổ! Ấy là chuyện của nhà giàu.

Ai có tiền thì cứ tiêu miễn là tiền chính đáng. Pháp luật có ai cấm người ta mua cây giá một tỷ, chục tỷ đâu? Anh có tiền anh cứ tiêu. Nhưng thả sức tiêu tiền của nhân dân thì lại là một chuyện khác.

Tôi đọc kĩ xem người ta đã làm gì với 2 tỷ rưỡi đồng để “Tân trang-phục dưỡng”cho Quốc Thụ Tân Trào? Nào là đúc lại thân cây đã chết bằng xi măng, nhựa tổng hợp, nào là chăm chút cho chiếc lá cuối cùng của ‘quốc thụ”, nào là trồng thêm cây non…Toàn những chuyện nghe kinh người.

Người Nhật trồng cây non trong lòng cây cổ thụ đã tàn

Không hiểu người ta đúc lại cái phần thân đã chết của cổ thụ để làm gì nhỉ?

Ừ, cứ cho rằng đúc để thiên hạ chiêm ngưỡng cái phần xác giả của của cổ thụ thì tôi đố ông nào bà nào dám cam đoan là cái xác giả ấy đúc như thật? Có ai đổ khuôn cái xác giả ấy đâu mà biết?

Vả lại, cây cối có sinh có tử, có phát triển, mỗi lúc một thay hình đổi dạng. Sao mà làm được cái cây giả bằng xi măng , bằng composit y xì như cây thật được?

Mà làm cái của giả ấy để làm gì cơ chứ? Chỉ cần đặt ở đấy cái hình nhỏ đắp nổi hay một hình ảnh thật nào đó của cây xưa là đủ lắm rồi. Thờ tổ tiên thì cũng chỉ đến thế là cùng.

Có dịp đi thăm cây cổ ở vài nơi trên thế giới, tôi thấy người ta có nhiều cách để nhắc nhở mọi người về một kỉ vật của một thời đã qua. Vừa đẹp, vừa văn minh, khoa học, lại là một bài giáo dục về môi trường rất có ý nghĩa.

Ở Paris, người ta đặt tấm biển nhỏ bên cạnh mô hình nhỏ ghi rõ nơi đây xưa đã từng tồn tại một cổ thụ hơn 400 năm.

Ở Nhật Bản, thay vì bứng đi cái gốc rễ của cây tùng cổ không lồ, người ta giữ lại cái gốc và trồng trong lòng nó một cây non. Thế là đủ, thế là hay mà chẳng mấy tốn kém.

Ngẫm lại cách hành xử của ngành văn hóa chúng ta với “Quốc Thụ” Tân Trào mà thấy buồn. Chi bạc tỷ làm cái thân đa giả bằng xi măng, bằng nhựa hóa học, chẳng có một giá trị gì ngoài sự phản cảm.

Không có giá trị thẩm mỹ lẫn ý nghĩa văn hóa.

Cực phản cảm vì dám tiêu tiền công một cách vô nghĩa, lãng phí vô tội vạ.

Thương thay cho các cổ thụ không được may mắn xếp hạng như “Quốc thụ Tân trào”, dầu rằng công trạng chắc gì đã thua kém?

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Thư của một Phật tử gửi Đại đức Thích Thanh Thắng

Ông cha ta có câu: thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Là một Phật tử nhỏ bé, nhưng tôi cũng hiểu được rằng: Phật tại tâm chứ không tại chùa.

LTS: Sau khi đăng bài Rước xá lợi của đức Phật: của trao và cách nhận của Đại đức Thích Thanh Thắng phản hồi về bài viết của họa sỹ Lê Thiết Cương: Phật xá lợi và những chiếc xe đời mới đắt tiền, Tuần Việt Nam nhận được khá nhiều phản hồi của độc giả.

Nhận thấy đây là một chủ đề gây nhiều tranh cãi cũng như để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam đăng tải thư của một độc giả dưới đây.

Mời độc giả cùng tranh luận.

Kính thưa Đại đức,

Tôi là một Phật tử như hàng triệu triệu Phật tử trên trái đất này. Tôi cũng là một trong những người theo dõi bằng lòng thành kính của mình với sự kiện rước Phật xá lợi vừa qua. Đấy quả thật là một sự kiện tâm linh lớn lao cho những Phật tử Việt Nam nói riêng và cho văn hoá của đất nước nói chung.

Rồi tôi đọc bài của ông Lê Thiết Cương. Tôi không hiểu gì nhiều về giáo lý nhà Phật. Trong bài, ông Lê Thiết Cương có đề cập đến một điều mà có thể gọi là sự phô trương. Tôi thấy sự phô trương dù ở hình thức nào cũng không đúng với tinh thần của những người tu hành.

Đến nay, tôi lại đọc bài của Đại đức trao đổi lại ông Lê Thiết Cương. Tôi không dám bàn luận những gì liên quan đến giáo lý nhà Phật. Tôi chỉ băn khoăn một vài điều trong bài viết của Đại đức.

Không biết thì phải hỏi, chưa rõ thì phải thưa. Với ý thức đó, tôi viết thư này tới Đại đức để bầy tỏ những ý nghĩ chân thành của mình. Nếu có gì chưa phải mong Đại đức chỉ giáo.

9 viên ngọc xá lợi Phật lưu giữ trong 3 tháp lưu ly.

Điều thứ nhất: Trong bài viết của mình, Đại đức có trích một đoạn trong một bài báo:"Thượng tọa Thích Huyền Diệu cho biết ông đã nói với mọi người rằng với những bảo vật quý này, chỉ có thể rước bằng một chuyến bay trang trọng, không ngờ nay đã thành hiện thực".

Tôi không hiểu ý của Đại đức trích đoạn viết này có ý gì sâu xa nữa không? Nhưng với văn bản đoạn trích đó, tôi hiểu theo hai nghĩa.

Một, đoạn trích nói vậy có nghĩa là Thượng toạ Thích Huyền Diệu đã TIÊN TRI đúng việc Phật xá lợi được đưa về Việt Nam bằng cách nào. Nếu như thế thì có gì mà chúng ta phải kêu lên “không ngờ nay đã thành hiện thực”.  Vì điều ấy ai mà chẳng biết. Việc chuyển bảo vật này bằng máy bay chỉ trở thành lời tiên tri của Thượng toạ khi Thượng toạ nói về điều ấy ở thời điểm nhân loại chưa có máy bay mà thôi.

Hai, với phương tiện di chuyển ngày nay và với khoảng cách từ Ấn Độ về Việt Nam thì ai cũng biết dùng máy bay là thuận tiện nhất. Nhưng người ta vẫn có thể rước Phật xá lợi về Việt Nam bằng những con đường khác chứ đâu “chỉ có thể rước bằng một chuyến máy bay trang trọng”. Mà cái trang trọng và linh thiêng nhất là hướng tâm trí trong sáng của mình tới những điều kỳ diệu chứ đâu bằng việc dùng một  phương tiện vật chất.

Phật xá lợi về đến sân bay Nội Bài Hà Nội

Việc rước Phật xá lợi về Việt Nam có thể bằng nhiều cách. Nhưng với điều kiện hiện nay thì chúng ta rước bằng máy bay là hợp lý. Còn nếu dùng một chuyên cơ riêng thì có cần thiết đến như thế không? Với số tiền còn lại, các nhà tu hành sẽ dùng vào những việc kỳ diệu không kém mà tôi sẽ xin thưa ở một phần sau.

Tôi xin nói thêm, trên báo có dẫn lời của Thượng tọa Thích Huyền Diệu luôn miệng nhắc hai từ “kỳ diệu”: "Đây quả là điều kỳ diệu. Xưa Đường Tăng mất sáu năm để đến được đất Phật, nay các vị thực hiện điều đó chỉ trong vài giờ đồng hồ bằng cả một chuyến bay riêng".

Xin thưa, điều kỳ diệu mà Thượng tọa Thích Huyền Diệu nói đến chỉ là điều kỳ diệu của khoa học kỹ thuật mà thôi chứ không thể ghép bất cứ điều kỳ diệu nào thuộc Tâm linh vào việc rút ngắn thời gian vận chuyển.

Tôi cũng vô cùng băn khoăn khi Thượng tọa so sánh chuyến đi của Đường Tăng sang Tây Trúc lấy kinh và chuyến chuyên cơ rước Phật xá lợi về Việt nam. Với ngu ý của một người dân bình thường, tôi thấy hai việc này không giống nhau.

Con đường của Đường Tăng là con đường đi tìm chân kinh. Đó là con đường đi tìm chân lý của nhân loại. Còn con đường đi rước Phật xá lợi là rước một báu vật như người ta rước một bức tượng từ ngôi chùa này đến ngôi chùa khác.

Tôi nghĩ như vậy, xin các nhà tu hành, các Phật tử và mọi người thấy có đúng không?

Điều thứ hai: Trong bài viết của Đại đức có câu: “Nhiều khi muôn bài thuyết pháp cũng không bằng việc tỏ bày một hình thức để cho người khác khởi niềm tin kính hướng thiện”.

Tôi đồng ý với câu nói này của Đại đức. Nhưng hình thức mà Đại đức đang bàn đến hay lấy làm ví dụ liệu có phải như vậy không? Sự cầu kỳ, diêm dúa, phung phí cũng là một loại của hình thức. Sự giản dị, sâu sắc mà tôn nghiêm cũng là một loại của hình thức. Hành động nào cũng có hình thức của nó nhưng bản chất chứa đựng sau hình thức đó nhiều lúc lại ngược nhau. Cầu kỳ, phung phí khác với tôn nghiêm, vĩ đại.

Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.

Ông cha ta có câu: thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Hồi còn trẻ, tôi nghĩ đó là một câu nói nôm na về việc tu dưỡng của con người. Nhưng lớn lên, tôi giật mình khi nhận ra đó là một triết lý cao sâu khôn cùng được trình bày vô cùng giản dị trong hình thức của ngôn ngữ. Là một Phật tử nhỏ bé, nhưng tôi cũng hiểu được rằng: Phật tại tâm chứ không tại chùa.

Cố nhà thơ Thế Mạc, người cùng quê tôi, thường xuyên ăn chay, đọc kinh Phật mà không ít các vị tu hành ở vùng đó đều biết đến có viết một câu thơ mà tôi không nhớ từng chữ. Tôi chỉ xin diễn lại ý của câu thơ này. Đó là ngôi chùa bị phá đi rồi nhưng sự linh thiêng của Đức Phật vẫn trùm phủ xuống đời sống con người.

Điều thứ ba : Đại đức viết: “Với chi phí 100.000 USD = 1,9 tỉ đồng (hoàn toàn do phật tử tự nguyện cúng dường), không bằng 30 phút bắn pháo hoa đêm giao thừa xuân Canh Dần ở Hà Nội (5 tỷ đồng)”.

Kính thưa Đại đức, so sánh này của Đại đức làm cho tôi ngạc nhiên. Phép so sánh này vẫn là phép so sánh về hình thức. Chỉ khác, hình thức ở đây được số hóa khoản tiền mà chúng ta dùng vào hai việc khác nhau. Nếu chúng ta so sánh như vậy, thì tôi xin thô thiển đưa ra một phép so sánh nhỏ.

Trước khi đưa ra phép so sánh của mình, chúng ta cùng nhau đọc một đoạn viết trên báo Dân Trí: “Bố mẹ nhốt con trong nhà để đi tìm cái ăn, mấy ngày sau mới đưa được củ mài về, con đã lả gần chết. Đói, không có củ thì vặt tạm lá rừng, lá nào sâu ăn được mình cũng ăn được… Chuyện về cái đói ở Pác Củng kể cả ngày không hết.

Đã nhiều tháng nay, người dân thôn Pác Củng, xã Thượng Nông, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang phải kéo nhau đổ dồn lên núi tìm củ mài, củ sắn, rau rừng để cầm cự với cái đói tấn công người dân suốt 10 tháng qua.

Thôn Pác Củng có trên dưới 30 em nhỏ. Ngay đầu thôn, một ngôi nhà sàn dựng tạm làm lớp học cho các em. Vào những ngày bình thường, các em sáng đến lớp, chiều đi đào củ trên rừng. Nhưng vào những ngày này các em bỏ cả học để đi kiếm cái ăn.

Cách đây chừng 5 năm, ngay đến đường vào Pác Củng cũng không có. Năm 2006, nhờ một tổ chức nhân đạo, con đường mòn vào Pác Củng mới được mở. Khi những cơn đói đang chập chờn mỗi ngày, người dân Pác Củng không còn thời gian để mơ về ánh điện, trẻ con Pác Củng không dám nghĩ tới tương lai.

Kính thưa Đại đức, năm 2009, ông Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình cho biết thu nhập hàng tháng trên một đầu người ở Thái Bình là 30.000 đồng. Chỉ khi được mùa mới lên khoảng 50.000 đồng. Nghĩa là, để một đứa trẻ có thể sống và đến trường được thì chỉ cần khoảng 40.000 đồng mỗi tháng cho các em. Số tiền cho một con người được sống, được học hành để có tương lai ít hơn biết bao nhiêu lần so với một đêm bắn pháo hoa và so với một lễ rước???

Tất nhiên, số tiền gần 2 tỷ đồng kia là của một Phật tử thực tâm chứ không phải tiền thuế của nhân dân. Và số tiền đó đã thuộc quyền sở hữu của những người tu hành như Đại đức – những đệ tử của Đức Phật. Mà con đường của Đức Phật là con đường cứu khổ, cứu nạn. Giá như một nhà sư, một thượng tọa vv…nào đó nói với Phật tử thành tâm kia: “Chúng ta cám ơn lòng thành tâm kính Phật của con. Nhưng chúng ta muốn chỉ xử dụng một phần số tiền đó để rước Phật xá lợi về. Phần còn lại chúng ta giúp đỡ những đứa trẻ bất hạnh trên thế gian như sự dạy bảo và lòng mong ước của Đức Phật”.

Kính thưa Đại đức, tôi tin rằng: người Phật tử kia sẽ rất hạnh phúc khi được làm vậy. Bởi người đó, tôi tin, đến với Phật bằng lòng chân thành. Khi những đứa trẻ sống trong đói khát và không có tương lai bỗng đi qua cơn đói khát đó và được đến trường thì đó hoàn toàn là một phép thiêng có thật mà Đức Phật ban cho chúng thông qua những đệ tử của mình.

Với tôi, đến tận bây giờ, cho dù ai nói gì thì hình ảnh Đức Phật trong tâm khảm tôi chỉ duy nhất là hình ảnh về một người áo vải phong phanh, chân trần đi qua thế gian để ban lòng từ bi vô tận cho những sinh linh bất hạnh.

Bởi thế, với mệnh giá của một đồng ai cũng mua được một giá trị vật chất có thể coi như nhau. Nhưng một đồng của nhà tu hành đặt vào bàn tay của kẻ ngèo đói và bất hạnh mang theo cả một biển từ bi. Đấy là một hạt giống của tình thương yêu vô bờ và của sự khai mở vô biên gieo xuống lòng người. Đấy không gì khác ngoài con đường của Đức Phật và các đệ tử của Ngài.

Kính thưa Đại đức,

Năm nay tôi đã 75 tuổi và về hưu 15 năm nay rồi. Tôi thường ăn chay vào ngày mồng Một và ngày Rằm hàng tháng. Tôi không mấy khi đi chùa. Nhưng tôi luôn tâm niệm không làm điều ác và luôn tìm cách giúp đỡ người hoạn nạn, khó khăn. Tôi đã giành dụm một phần tiền lương ít ỏi của mình và giấu tên gửi tiền nuôi một đứa trẻ mồ côi cha mẹ. Đấy là sự thể hiện vụng về nhưng chân thành của tôi đối với Đức Phật.

Thực lòng tôi không dám luận bàn về việc tổ chức rước Phật xá lợi về đất nước mình phải làm như thế nào. Nếu các nhà tu hành thấy không còn cách nào khác là phải dùng cả chuyên cơ và nhiều phí tổn như thế mới thể hiện được lòng tôn kính đối với những báu vật ấy và không xúc phạm đến lòng từ bi vô bờ của Đức Phật thì tôi hoàn toàn đồng ý.

Thư tôi viết chỉ là nói lên những băn khoăn nhỏ bé của mình. Có thể, lá thư thô lược này không đáng để Đại đức phải mất thời gian đọc nó. Nếu có gì làm Đại đức phật lòng, xin mong Ngài lượng thứ.

Nam mô A di đà phật

Phật tử Lê Minh Hiếu

http://www.tuanvietnam.net/2010-03-28-thu-cua-mot-phat-tu-gui-dai-duc-thich-thanh-thang-

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

“Tủ sách Tuổi Hoa” trở lại

Hình lấy từ trang web fahasasg.com.vn Nhà sách Xuân Thu ở TPHCM có rất nhiều loại sách cho mọi lứa tuổi, kể cả sách ngoại văn

Khánh An, phóng viên RFA
2010-03-25

Đối với các thế hệ người Việt thập niên 60, 70, rất nhiều người đã từng say mê và yêu mến những tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa”, với ba loại Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím.

Thế nhưng sau năm 1975, độc giả Việt Nam đã không còn cơ hội tiếp xúc với các tác phẩm vốn có rất nhiều đóng góp cho công tác giáo dục thanh thiếu niên trước đây. Chính vì vậy, việc tái xuất bản các tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa” đã thu hút sự quan tâm của không chỉ độc giả ở trong nước.

Một giá trị văn học

Linh mục Phạm Trung Thành, Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, người chịu trách nhiệm xin giấy phép xuất bản để những tác phẩm của “Tủ sách Tuổi Hoa” một lần nữa được đến tay bạn đọc, cho biết: “Chúng tôi đang bắt đầu tái bản trở lại, đã xin phép nhà nước cho tái bản nên chúng tôi cho phát hành. Hiện nay, chúng tôi đã ra được 99 đầu sách và chúng tôi sẽ lần lượt ra hết.”

Khánh An: Dạ vâng. Tất cả sách trước đây đều được phép phát hành hết hay sao, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Không biết ạ, tại chúng tôi xin từng đợt. Hiện nay về vấn đề phát hành sách ở Việt Nam thì tương đối cởi mở thêm một chút. Vì vậy, chúng tôi đang cố gắng để phục hồi văn hóa đọc cho giới trẻ và nhất là chúng tôi nhận thấy cái giá trị của “Tủ sách Tuổi Hoa”, có thể giới trẻ ngày nay không mặn mà lắm nhưng dù sao, mình vẫn phát hành.

Khánh An: Dạ vâng. Văn phong của “Tủ sách Tuổi Hoa” là văn phong của trước năm 1975, so với sách dành cho thanh thiếu niên bây giờ là ngôn ngữ mới sau này. Vậy liệu “Tủ sách Tuổi Hoa” có còn phù hợp với các bạn trẻ hiện nay không, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Quan điểm của tôi thế này, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay thiếu những nhà giáo dục và những nhà văn tâm huyết cho tuổi trẻ để có thể có những tác phẩm xuyên qua những câu chuyện thường ngày mà mang tính giáo dục.

Cái đó thì thực sự là thiếu, dẫu rằng ngày nay giới trẻ ở Việt Nam nói chung, giới trẻ ở thành phố Sài Gòn này nói riêng, họ không mặn mà gì với lối hành văn cũ như thế nhưng chúng tôi thấy rằng cần phải gìn giữ một giá trị văn học đã có một thời đóng góp vào trong nền văn học của Việt Nam. Thí dụ, ngày nay người ta không viết văn theo kiểu của Tự Lực Văn Đoàn nữa nhưng mà không thể phủ nhận được giá trị của Tự Lực Văn Đoàn.

Có thể ngày nay ít người đọc Tự Lực Văn Đoàn nhưng không phải vì vậy mà chúng ta không gìn giữ. Chỉ có một cách duy nhất để gìn giữ “Tủ sách Tuổi Hoa”, đó là tái bản. Chúng tôi tái bản, ví dụ, một đầu sách 1000 cuốn. Bán được một nửa thôi, dù lỗ, chúng tôi vẫn tái bản để trong thư viện một số nơi, của một số nhà giáo dục, một số trường, vẫn có để khi cần cho một đôi ba tâm hồn nào đó.

Nhưng mà trong một, hai tháng phát hành vừa rồi, tôi thấy là đúng, giới trẻ không mặn mà nhưng lứa tuổi của chúng tôi trở lên, tuổi của trước năm 1975, lứa tuổi mà có một thời đã say mê Tuổi Hoa thì họ đi tìm lại.

Lệch pha giữa hai thế hệ

DongSuaMe-200.jpg
Một tựa sách loại HOA XANH: tình cảm nhẹ nhàng (gia đình, bạn bè). Hình chụp từ trang web tuoihoa.hatnang.com

Khánh An: Và như vậy cha có nghĩ rằng mình sẽ có một hướng nào khác, giống như một Tủ sách Tuổi Hoa thời đại mới cho các bạn trẻ không?

LM Phạm Trung Thành: Trong quá khứ, hai ba năm vừa rồi, tôi đã làm, đang làm và sẽ tiếp tục làm, đó là chúng tôi mở ra các cuộc thi viết truyện ngắn dành cho các bạn trẻ để phát hiện những cây bút trẻ. Nhưng mà chúng tôi xin nói thật là ba lần chúng tôi phát động, chúng tôi cũng có trao giải thưởng rồi cũng tập hợp những bài trúng giải để in, nhưng mà chất lượng thì đúng là không cao.

Hay là bây giờ tôi và ban giám khảo là những lớp người đã cổ, không tìm được những điều hay ở trong áng văn mới hay sao, tôi cũng không rõ. Ví dụ, ban giám khảo của chúng tôi, tôi mời nhà thơ Đình Bảng, là một trong những nhà văn, nhà nghiên cứu xuất thân từ Đại học Văn khoa cũ, phần đông ban giám khảo đều xuất thân từ Đại học Văn khoa cũ, khoa Văn, và phần đông đều lắc đầu và chấm để nâng đỡ các em, rồi mở giải, vỗ tay với nhau.

Chúng tôi cũng đang dự định là thử mở một trại sáng tác để cho những anh, những bậc trưởng thượng, những bậc đại thụ trong văn học Việt Nam còn sống sót, nâng đỡ các em bằng cách truyền đạt nghề. Chúng tôi đang suy nghĩ với nhau chuyện này. Hoàn cảnh hiện nay cũng đang có những cơn lốc, cơn lốc sống kinh khủng lắm và những hình thức nghệ thuật khác ở Việt Nam cũng đang lấn lướt nhiều.

Tôi có một kinh nghiệm là những giá trị của Tự Lực Văn Đoàn đã xây dựng nên con người, thế hệ của chúng tôi. Cho nên tôi cũng muốn, thôi thì, mình cố gắng làm một cái gì đó.

Khánh An: Dạ. Cha nhận xét như thế nào về văn hóa đọc của các bạn trẻ hiện nay, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: Tôi không dám vơ đũa cả nắm nhưng những cái đang ồn ào ở trên mạng, ở trước mắt thì nó cũng giống như là ca nhạc vậy. Tức là, hay là tại vì mình lớn tuổi rồi và mình chịu ảnh hưởng quá lớn bởi lối hành văn của ngày xưa (nên) mình không cảm nhận được giới trẻ hay sao. Thí dụ như là tôi có thể nghe nhạc tiền chiến, tôi có thể nghe những ca khúc sonate, họăc là những bài giao hưởng, tôi rất là thích thú.

Nhưng tôi không thể chịu đựng được nhạc, cách nhảy múa và lối ăn mặc của ca sĩ ngày nay trên sân khấu. Đang khi đó, tôi nhìn trên màn ảnh hoặc đến các tụ điểm, tôi thấy là các bạn trẻ kéo đến rất đông và họ nhảy múa theo như thế. Tôi vẫn nghĩ, hay là chúng tôi đã đi lùi thời đại và chấp nhận một cái mới như là chấp nhận nó đáng có và không thể nào chống đối lại các em.

Mặc dù vậy, thỉnh thỏang trên báo chí ở Việt Nam, ở Sài Gòn, vẫn có những nhà phê bình họ nói những lời báo động và kêu cứu rất nặng nề. Bây giờ thì quan điểm của tôi là không nên phê bình giới trẻ mà làm sao phải đồng hành, hội nhập để cùng với các em đi tìm, khám phá lại những gì đẹp, hay. Còn thú thật, cũng giống như ca nhạc vậy, một số sách mà tôi đọc, tôi rất là nản.

hoado-200.jpg
Một đầu sách loại HOA ĐỎ: truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám. Hình chụp từ trang web tuoihoa.hatnang.com

Tôi lấy thí dụ, hầu như không tìm được một đoạn văn nào miêu tả một khung cảnh mà làm cho tâm hồn mình nhẹ nhàng lên. Mình không tưởng tượng đựơc khung cảnh mà nhân vật đang ở như thế nào. Trong khi đó đối với Tự Lực Văn Đoàn hay là đối với những tác phẩm Tuổi Hoa nhẹ nhàng hơn, thì bao giờ cũng có những đoạn văn tả cảnh trước, mây trời thế nào, sắc trời ra sao, rồi bên đường đi có những gì, đại khái như vậy, thì gần như những tác phẩm bây giờ không có những miêu tả đó, mà vô là đối thoại, hành động ngay.

Cảm thông với giới trẻ

Khánh An: Và như cha nhận xét, đó là một cơn lốc hiện nay. Là người làm sách có tâm huyết thì mình sẽ đi theo hướng nào, “cuốn theo chiều gió” hay đi ngược lại chiều gió, thưa cha?

LM Phạm Trung Thành: “Cuốn theo chiều gió” thì chắc chắn không vì mình không thể làm cái gì đó khác mình. Đi ngược thì không nên, bởi vì tôi có một kinh nghiệm khi mình còn trẻ, mình bị các cụ la rầy, chê bai tuổi trẻ bây giờ không bằng tụi tao ngày xưa thế này thế nọ, thì mình cảm thấy là các cụ không cảm thông.

Còn bây giờ, như tôi thưa chuyện hồi nãy, có lẽ chúng ta phải tìm một cuộc gặp gỡ, một sự cảm thông. Tôi luôn luôn đứng về phía họ để nhìn ra họ là nạn nhân của thời cuộc, đặc biệt là thời cuộc của đất nước chúng ta ở trong nước. Phải nói là các bạn trẻ là nạn nhân, nạn nhân của rất nhiều vấn đề xã hội.

Từ đó, nó tác động đến tâm hồn và con người. Tôi nghĩ rằng tôi không thể chiều theo cơn lốc vì tôi không thể làm khác tôi. Đồng thời, tôi cũng không được phép đi ngược lại cơn lốc bởi vì tôi không thể chống chính người học trò, con cái, anh em mình.

Có lẽ phải có gì đó cảm thông, hội nhập để tìm cách gìn giữ và cũng phải cân nhắc lại mình, coi chừng mình hoài cổ. Tôi nghĩ, làm sao phải giữ được cái hồn Việt cho các em, thật sự khó. Hiện nay, cơn lốc về kinh tế đã tạo ra một sự phá sản về đạo đức trong xã hội.

Nhân đây tôi cũng nói luôn, khi tôi thực hiện cuốn này, tôi cũng đã tham khảo luật pháp Việt Nam và luật tác quyền, tôi cũng muốn nói với các tác giả, một số tôi đã được gặp, còn một số không biết lưu lạc ở phương trời nào rồi, thì chúng tôi sẵn sàng và muốn được gặp một số tác giả mà có tác phẩm chúng tôi tái bản, để chúng ta có thể nói chuyện với nhau về tác quyền.

Khánh An: Dạ vâng. Cảm ơn cha rất nhiều.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tuoi%20hoa-fiction-books-before-1975-were-published-KAn-03252010153753.html

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

Thông báo tạm dừng hoạt động 15 ngày của diễn đàn X-Cafe

Tháng Ba 7, 2010

Diễn đàn X-Cafe

Kính gửi toàn thể các thành viên và bạn đọc diễn đàn X-Cafevn,

Giai đoạn từ ngày 19/1/2010 cho đến hiện tại một trong những giai đoạn khó khăn nhất mà diễn đàn X-Cafe đã trải qua kể từ ngày thành lập đến nay. Diễn đàn đã bị tin tặc tấn công bằng DDoS nặng từ ngày 19/1/2010, trùng vào thời điểm chính quyền trong nước xét xử và tuyên án các nhà dân chủ ở Việt Nam. Điều này cho thấy đây là một hành động có hệ thống và có chỉ đạo hẳn hoi vì nó được kết hợp với sự việc các ISP ở Việt Nam đồng loạt dở bỏ firewall để tin tặc có thể dùng nhiều máy trong nước tấn công vào máy chủ của diễn đàn. Đây là một tấn công kéo dài liên tục trong nhiều ngày với một hệ thống botnet hỗ trợ với gần 40 nghìn máy tham gia. Vào thời điểm bị tấn công mạnh nhất, toàn bộ đường truyền của máy chủ hoàn toàn bị bão hoà.

Các thành viên kỹ thuật của diễn đàn đã phải làm việc cật lực và liên tục trong nhiều ngày để chống trả các đợt tấn công này và họ đã giữ vững được hoạt động của diễn đàn trong suốt giai đoạn vừa qua.

Sau khi các hành động DDoS thất bại, tin tặc lại tiến hành thêm một bước tấn công khác. Ngày Chủ nhật 28/2/2010, tin tặc giả dạng làm thành viên diễn đàn và đăng link có virus gài bẫy một thành viên của Ban Quản trị và đã lấy được thông tin đăng nhập vào phần quản trị của diễn đàn (Admin Control Panel). Sau nhiều giờ thâm nhập, tin tặc đã tải được hồ sơ của hơn 19 nghìn thành viên trong đó có hơn 7 nghìn thành viên đang sinh sống tại Việt Nam. Sau đấy tin tặc lại dùng những dữ liệu ăn cắp được để gửi email thông báo diễn đàn sẽ đóng cửa hoặc doạ dẫm các thành viên trong nước. Và tồi tệ hơn, tin tặc đã đăng toàn bộ thông tin của thành viên của diễn đàn tại một website khác nhằm gây hoang mang, sợ hãi cho các thành viên ở trong nước.

Qua phân tích của ban kỹ thuật X-Cafe, vụ đột nhập ngày 28/2 là một hành động có tổ chức vì có nhiều người tham gia từ các máy tính xuất phát từ Việt Nam và trong số máy tính được sử dụng, có cả máy tính có địa chỉ xuất phát từ Trung Quốc. Thông qua những phương pháp mà tin tặc sử dụng để viết thông báo giả mạo, nội dung cùng lối trình bày thông báo, chúng tôi tin rằng đây chính là nhóm tin tặc đã thực hiện các hành động thâm nhập tương tự đến các diễn đàn talawas, Bauxitvn và các blog cá nhân trong nước trong thời gian qua. Chúng tôi đã thu thập toàn bộ những chứng cứ liên quan đến vụ việc này và đã điền hồ sơ truy tố những hành động phạm pháp này mang tính quốc tế này với cơ quan IC3 trực thuộc FBI của Hoa Kỳ.

Ban quản trị diễn đàn X-Cafe rất hối tiếc về sự sơ xuất vô tình mang lại hậu quả trầm trọng của mình vừa qua. Chúng tôi xin gửi lời xin lỗi chân thành đến với tất cả những thành viên bị ảnh hưởng bởi sự việc này, đặc biệt là những thành viên trong nước. Chúng tôi đã đánh mất sự tin tưởng của các bạn. Dù giải thích như thế nào chăng nữa, việc này sẽ ít hoặc nhiều ảnh hưởng đến các bạn, nhất là khi các bạn đang phải sống trong một thể chế mà sự khủng bố tinh thần được dùng như một dụng cụ pháp trị.

Điều đáng buồn là chúng ta đang sống trong thế kỷ 21 nhưng con người lại có thể bị đe doạ, bịt miệng, thậm chí bị trừng phạt bởi vì họ muốn nói lên sự thật hay bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hoà. Những điều mà ngay cả khi đất nước còn bị thực dân, phong kiến đô hộ hay một nửa phần đất nước còn bị “xâm lược” cũng không hề xảy ra. Sự việc đáng tiếc này sẽ không bao giờ xảy ra ở một đất nước có tự do ngôn luận và có một nền dân chủ thật sự và nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có tự do ngôn luận và hoàn toàn không có quyền dân chủ như giới lãnh đạo và chính quyền Việt Nam từng tuyên bố.

Sự việc này đã tác động mạnh đến các thành viên ban quản trị diễn đàn X-cafe và đã làm chúng tôi mệt mỏi và thậm chí muốn rút lui ra khỏi cuộc chiến không cân sức này. Tuy nhiên khi cân nhắc lại những gì xảy ra trong xã hội Việt Nam hiện nay, chúng tôi thật sự thấy mình cần phải tiếp tục vượt qua các khó khăn này, tạo ra và đảm bảo một môi trường tự do ngôn luận không bị quản chế bởi bất kỳ một thế lực chính trị nào để mỗi thành viên của diễn đàn được bày tỏ quan điểm của mình nhằm đòi hỏi những quyền chính đáng của một công dân bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do bày tỏ ý kiến của mình. Từ những động lực này, BQT quyết tâm tiếp tục duy trì hoạt động của diễn đàn và cố gắng sẽ tiếp tục phát triển để đem lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội Việt Nam khi sự suy thoái về đạo đức, lương tâm ngày càng trầm trọng hơn.

Để có thể thực hiện được quyết tâm này, ban quản trị diễn đàn X-Cafe quyết định sẽ tạm đóng cửa diễn dàn vào sáng ngày thứ Hai 8/3/2010 (giờ VN) cho đến ngày 22/3/2010 để bảo trì, nâng cấp và tạo những thay đổi cần thiết. Trong giai đoạn tạm ngưng hoạt động này, tất cả những cập nhật, thông tin và trao đổi của thành viên có thể tiếp tục thực hiện tại trang Facebook: http://www.facebook.com/pages/X-Cafevn/329192838497 và WordPress Blog: http://xcafevietnam.wordpress.com/

Chúng tôi hy vọng sau thời gian đóng cửa và nâng cấp, diễn đàn sẽ được gặp lại toàn bộ các bạn. Chúng tôi sẽ cố gắng tạo một môi trường sinh hoạt an toàn hơn cho mọi thành viên để chúng ta có thể tiếp tục tham gia sinh hoạt, thảo luận hay trao đổi ý kiến và kinh nghiệm theo tinh thần “tôn trọng sự khác biệt” của diễn đàn.

Đại diện ban quản trị diễn đàn X-Cafe,

Tinman

Nguồn: http://x-cafevn.org

" Trăng Nghẹn" Bài thơ trúng giải nhất bị …rút lại

 

CẦN THƠ 6-3 (TH) - Ban tổ chức cuộc thi thơ ở khu vực Ðồng Bằng Sông Cửu Long, có thể bị áp lực đâu đó “ở trên” đã rút lại quyết định công bố giải nhất dành cho nhà thơ Hoài Tường Phong với tác phẩm “Trăng Nghẹn”.

Trang báo điện tử Sông Cửu Long Online đăng tải bài thơ “Trăng Nghẹn” của tác giả Hoài Tường Phong 



Chuyện lình xình này được phổ biến trên nhiều trang thông tin điện tử giúp cho tác giả và bài thơ thêm nổi tiếng. Chỉ cần vào Google tìm kiếm, đánh chữ “Trăng Nghẹn”, hoặc tên tác giả “Hoài Tường Phong” là ra trọn bài thơ và những trang thông tin điện tử theo nhau đưa tin.

Vụ việc được nhà văn, nhà báo Võ Ðắc Danh nêu lên blog của ông trọn vẹn bài thơ trúng giải của Hoài Tường Phong với những thông tin đính kèm rất đáng chú ý về nền văn học “định hướng XHCN”.

“Trăng Nghẹn là bài thơ của Hoài Tường Phong vừa đoạt giải Nhất cuộc thi thơ Ðồng Bằng Sông Cửu Long do các Hội Văn Học - Nghệ Thuật trong khu vực này liên kết tổ chức, tỉnh Cần Thơ đăng cai.” Ông Võ Ðắc Danh viết. “Nhưng một sự cố lạ lùng chưa từng có đã xảy ra: Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng ban giám khảo cho hay, một số cơ quan ‘có thẩm quyền’ ở thành phố Cần Thơ (thực chất là không có thẩm quyền) đã yêu cầu ban giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất, vì bài nầy u ám quá. ‘Trăng thì phải sáng, thậm chí rất trong sáng chớ không thể nào nghẹn được’. Ban giám khảo đã quyết định không chấm lại, cuối cùng họ quay sang tác giả. Nhà thơ Hoài Tường Phong cho biết, mấy ngày nay chủ tịch Hội Văn Nghệ Cần Thơ yêu cầu ông làm đơn từ chối giải thưởng với lý do ‘tôi không có gởi dự thi’. Ông khẳng định rằng ‘tôi đã gởi dự thi’, sau đó vị chủ tịch Hội Văn Nghệ lại yêu cầu ông làm đơn xin từ chối giải thưởng với lý do ‘Thơ tôi có nhiều câu chữ không phù hợp với tiêu chí cuộc thi’. Ông Phong nói ‘Ðó là việc thẩm định của ban giám khảo.’”

Ông Võ Ðắc Danh đưa tin như trên vào nói: “Miễn bình luận về sự kiện nầy”.

Dưới đây là bài thơ Trăng Nghẹn:

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,

Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.

Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,

Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,

Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.

Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,

Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,

Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.

Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,

Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,

Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.

Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,

Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,

Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.

Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,

Ðôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,

Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.

Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,

Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Ðồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:

Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,

Ðầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,

Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,

Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.

Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,

Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.

Theo một thân hữu thông báo cho ông Danh biết và được ông phổ biến cả lời bình luận bên dưới bài thơ thì “Chiều ngày 3 tháng 3 năm 2010, ban thường vụ Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật thành phố Cần Thơ đã họp và chính thức quyết định loại bỏ giải Nhất của bài thơ Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong. Rõ ràng đây là một sự lạm quyền hay lộng quyền thô bạo chưa từng có của một hội văn nghệ địa phương vì đây là một giải thơ của khu vực ÐBSCL. Thật không còn gì để nói. Vì không có máy tính và không biết gởi mail nên anh Hoài Tường Phong nhờ tôi mail cho anh để biết. Mến chào anh. Phương Ðông.”

Một điều đáng nói khác, trước khi có quyết định gạt bài thơ trúng giải Nhất của Hoài Tường Phong, kết quả đã được thông báo đến Hội Nhà Văn Việt Nam và trên trang báo điện tử của hội này ngày 20 tháng 2 năm 2010 đã thấy đăng tải trọn vẹn “Kết quả cuộc thi thơ Ðồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IV -2009” từ giải nhất đến giải khuyến khích trong đó nêu rõ trúng giải nhất là bài thơ Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong:

“Kết quả cuộc thi thơ Ðồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IV-2009:

15h 00' ngày 20 tháng 2 năm 2010 tại Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ thuật TP. Cần Thơ.

Ban tổ chức và ban chung khảo cuộc thi thơ ÐBSCL đã họp xét kết quả cuộc thi.

Ban chung khảo:

- Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu - tTưởng ban.

- Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài - Chủ tịch LHHVHNT An Giang: Thành viên.

- Nhà thơ Ðinh Thị Thu Vân - Phó chủ tịch Hội VHNT Long An: Thành viên.

Ban tổ chức:

- Nhà thơ Phan Huy - Chủ tịch LHCHVHNT TP. Cần Thơ: Trưởng ban.

- Nhà văn Nguyễn Khai Phong - Chủ tịch Hội Nhà Văn Cần Thơ: Phó trưởng ban.

- Nhà văn Lê Xuân - Thư ký.

- Cùng tham dự có nhà văn Lê Văn Thảo - Phó chủ tịch Hội Nhà Văn VN, Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Sau khi các thành viên ban chung khảo và ban tổ chức thảo luận, đánh giá điểm chấm 60 bài dự thi của ba giám khảo vòng chung khảo, đã nhất trí:

Giải Nhất: Trăng nghẹn (Hoài Tường Phong - Cần Thơ)

Giải Nhì:

1. Sương hồ (Lê Thanh My - An Giang)

2. Ðôi bờ (Ngô Thị Thu Vân - Bến Tre)

Giải Ba:

1. Hình như (Phạm Nguyên Thạch - An Giang)

2. Về nhà xưa uống rượu (Nguyễn Trung Nguyên - Cần Thơ)

3. Thương nhớ đồng bằng (Thạch Thị Liễu - Hậu Giang)”

...

Cho tới nay, người ta không rõ cái giải thơ kỳ IV nói trên có đôn người trúng giải nhì lên thành giải nhất hay cái giải này năm nay bị cưa cụt đầu.

Trên trang điện tử Sông Cửu Long Online (www.vannghesongcuulong.org.vn) ông Lê Chí, tổng biên tập viết ngậm ngùi rằng “...Nhưng dù sao Trăng Nghẹn cũng đem đến cho chúng ta những điều không dễ gì quên và thật đáng suy ngẫm. Ngoái nhìn hành trình những năm tháng đã qua nào chỉ giản đơn là nhìn lại một dĩ vãng vu vơ phù phiếm. Bản chất của niềm vui là biết chắt ra từ nỗi buồn (làm gì có loại người quanh năm chỉ biết có cười mà không bao giờ rơi nước mắt). Với Trăng Nghẹn, một lần nữa nhà thơ Hoài Tường Phong muốn nhắc chúng ta đừng bao giờ lại để ‘lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.’”

Cũng trên trang báo điện tử này, nhà thơ Trần Hoàng Vy bầy tỏ sự bực tức khi đem “cái dũng những những người tổ chức và cầm... bút đỏ” ra mổ xẻ.

“Cái Dũng của BTC, BGK là phải vượt qua những điều ‘phạm qui’ như bị mua chuộc, đi đêm. Bị áp lực bởi ‘chủ nhà’, bởi đơn vị tài trợ. Và phải chịu trách nhiệm và bảo vệ đến cùng những tác giả, tác phẩm xứng đáng đạt giải. Không làm được điều này, uy tín của BTC, BGK coi như bị phá sản, sẽ không còn ai dám đến với những cuộc thi như thế.” Trần Hoàng Vy viết trên vannghecuulong.org.vn ngày 6 tháng 3 năm 2010.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Lục bình trên dòng kinh đen

Mỗi sáng vào khoảng 9 giờ, khi chiếc xe hốt rác trỗi bản nhạc Für Elise chạy quanh xóm, khi cụ già ở khoảng sân um tùm cỏ bên kia con kinh đầy rác vừa xong thế Taiji cuối cùng, và bà Hui Xin tưới xong những chậu kiểng xếp dọc theo lề đi, thì cô gái bước ra khỏi nhà. Nhìn lên ban công gác trọ chỗ tôi ngồi, cô gái vẫy tay cười.

Tôi gặp Trang hôm Chủ nhật, một ngày sau khi tôi đến Chung Li. Mặt trời buổi sáng chưa qua khỏi đỉnh cây sung mà trời đã oi bức. Lúc ấy tôi ngồi ở ghế đá cạnh đình làng, loay hoay chụp hình những người đàn bà Đài đang thắp nhang vái lạy Quan Công. Một bóng dáng chắc chắn không phải là người bản xứ lọt vào khung nhìn máy ảnh tôi. Bỏ máy xuống, nhìn lên tôi hỏi: em Việt Nam hở?

Trang 26 tuổi. Lần cuối nắm tay mẹ trước khi làm cô dâu theo ông Cheng về Đài là ngày sinh nhật thứ 18 của Trang. “Sinh nhật em dễ nhớ lắm, ngày hai tháng mười hai.” Trang cười nói với tôi vào sáng Chủ nhật tuần sau. “Em nhớ hồi mới qua, trời cuối năm ở đây lạnh hết biết luôn. Em dân Cà Mau cả đời đâu biết lạnh kiểu này. Em trùm mền, nhớ má khóc cả tuần.” Có thể nói Trang là một trong những cô dâu Đài Loan thời “tiền trạm” và tương đối nhiều may mắn so với những cô dâu khác. Đó là theo lời của Trang. Sáng Trang dậy lúc 6 giờ, làm điểm tâm cho ông chồng, bà mẹ chồng, hai đứa con riêng của ông Cheng, giặt quần áo và phơi trên những sào tre gắn từ cửa sổ chĩa ra đường. “Ngày nào cũng phải giặt chớ nếu không hổng có chỗ phơi“. 9 giờ sáng Trang rời nhà ra chợ phụ bà em gái ông Cheng bán cá đến chiều. Nấu ăn tối, chuẩn bị sẵn cơm trưa ngày hôm sau, dọn cơm, rửa chén, quét nhà, tắm cho bà mẹ chồng, chùi rửa nhà cầu, Trang lên giường là ngày đã qua ngày. “Lúc đó ông chồng em ngủ mất tiêu rồi, hổng biết ổng lấy em qua đây làm gì.” Trang cười nói. “Cứ vậy đó anh, từ thứ Hai cho tới thứ Bảy. Chủ nhật bà Li nghỉ bán hàng nên em được nghỉ theo. Anh muốn gặp mấy đứa cô dâu với ô sin để tìm hiểu sự tình hở? Hi hi, anh hên gặp em là thổ địa ở đây. Để tuần tới em dắt anh đi. Chủ nhật nghe. Anh tới mà chưa thấy em thì cứ ngồi đó chụp hình mấy bà Tàu và chờ em“.

Lệ và Thi là dân Long Xuyên. “Con này nó mới qua được hai năm, tình cảnh nó cũng bi đát lắm. Lệ, mày kể cho ảnh nghe đi“. Lệ ngồi bó gối một hồi lâu. Tôi nhìn quanh căn phòng nhỏ mà Lệ được một cô dâu khác đã bỏ chồng ra riêng cho ở tạm. Im lặng chờ. “Khác với chị Trang, thằng chồng của em nó còn trẻ, lái tắc xi. Lúc mới qua nó nghỉ một ngày lái xe chở em đi chơi núi, chơi biển. Được đâu hai tuần thì nó dắt một con nhỏ Đài khác về phòng. Sau đó em mới biết trước đây con này là bồ của nó. Tụi nó gây lộn nhau sao đó, thằng chồng em nó nổi sùng qua Việt Nam cưới em. Bây giờ tụi nó làm lành với nhau và thằng chồng em kéo con bồ nó về sống chung luôn. Tối nào thằng chồng em cũng bắt em làm chuyện đó với hai đứa nó. Rồi còn quay phim nữa. Em không chịu thì cả hai đứa nó xúm vào đánh đập em tàn nhẫn. Lúc đó, em ở bên Đài Trung, không có điện thoại di động, không biết tiếng Hoa, không quen ai, em không biết làm sao. Hai tháng sau thì em có bầu“.

Những ngày khởi đầu của dịch vụ cô dâu, mỗi chú rể Đài thường phải trả cho công ty môi giới Đài và Việt từ sáu ngàn tới mười ngàn đô. Sau khi khấu trừ các chi phí trả cho môi giới, chi phí đám cưới, gia đình của cô dâu còn được hai tới ba ngàn đô. Khi con số cô dâu gia tăng hơn tới gần 100 ngàn người thì giá cả cũng theo đà đi xuống. Gia đình của cô dâu nhiều khi không được đồng nào và chỉ mong con gái của mình có cơ hội ra nước ngoài làm ăn có tiền gởi về. Nhiều chú rể Đài sau này không cần phải trả trước chi phí mà chỉ cần trả góp sau khi cưới vợ về.

Lúc biết em có bầu thì nó không còn bắt em làm chuyện đó nữa. Nhưng em phải chứng kiến cảnh tụi nó với nhau mỗi đêm. Nhà nhỏ xíu chỉ có một phòng ngủ anh à. Có lần em ra bếp nằm ngủ thì nó lôi em vào và sau đó mua ổ khóa khóa cửa luôn. Lúc em sanh con xong thì chuyện cũ lại tiếp tục. Em chịu không nổi nên đành bỏ con trốn đi“. Còn em thì sao, em qua đây mấy năm rồi? Tôi quay sang hỏi chuyện cô gái ngồi cạnh Lệ. “Nó mới qua có mấy tháng hà anh“. Lệ trả lời giùm cho Thi. “Nó là em gái út của em, mới 17 tuổi hà. Nó chỉ tới thăm em bữa nay. Chồng nó già khụ rồi anh. Không có tiền nên ký giấy trả góp cho tụi môi giới. Bây giờ ông già bắt nó đi chạy bàn ở karaoke để trả nợ cho ổng. Ổng nói trả nợ xong hết thì ổng mới cho gởi tiền về nhà“.

Tôi nhìn hai chị em vừa xót thương vừa không hiểu nổi. Hỏi Lệ là biết qua đây khổ sở, bị đối xử như nô lệ mà lại còn kéo em gái mình qua. Lệ trả lời bằng những câu chuyện về đời sống hoàn toàn không có gì ở quê mình. Những người đàn ông đã rời khỏi mảnh đất không còn gì để mà sống. Những đứa con gái tới tuổi mười bảy, mười tám là bỏ cái làng không còn gì mơ ước để mà đi. Lấy chồng Đài đã trở thành con đường thoát. Chỉ còn đâu vài đứa trai làng buồn bã nhìn người bạn gái từ thời thơ ấu leo lên chiếc xe hơi với gã đàn ông Trung Hoa già nua, để lại đằng sau một đám bụi mù. Vài đứa may mắn, được nhà chồng cho ra ngoài đi làm, dành dụm một khoản tiền riêng gởi về, cha mẹ thay nhà mái tranh thành nhà ngói đỏ. Những bà mẹ nhà mái tranh khác, thúc giục đứa con gái vừa đủ tuổi đi ra khách sạn đứng xếp hàng.

Lúc tôi tới nơi thì đã có hơn 50 cô gái Việt Nam đang đứng xếp hàng và hơn 10 người đàn ông Đài Loan tới từng cô ngắm nghía, sờ soạng“. Anh bạn người Đài tên Ken ngồi trầm ngâm kể. Anh là người về Việt Nam dự trù cưới vợ theo lời mời gọi quảng cáo của công ty môi giới. Là một tín đồ Công giáo, anh đồng ý gặp tôi qua sự giới thiệu của một linh mục để thuật lại những gì anh đã chứng kiến. “Những cô gái này đều rất trẻ và son phấn không che giấu được nét nhà quê, chất phác và dáng vẻ ngượng ngập của họ. Nhưng có lẽ tôi mới là người ngượng ngùng và xấu hổ nhất lúc đó. Nhìn những người Đài bản xứ của tôi ngắm nghía, sờ mó các cô gái ấy và cười với nhau hô hố mà tôi hổ thẹn“. Ken nói sau lần đó, anh về lại khách sạn và không đi nữa.

Nhưng những người Đài khác ở cùng chỗ trọ đã kể cho anh nghe những chuyến “cô dâu ra mắt” ấy như thế nào. Có những nơi, đám môi giới bắt cả 100 cô gái Việt Nam xếp hàng, không một mảnh vải trên thân để những gã đàn ông lựa chọn. Có nơi, nhiều cô gái xếp hàng đứng ngoài hành lang chờ đến phiên mình. Có những cô gái được chọn là chú rể tiến hành ngay đám cưới. Có cô sau đó phải đi với chú rể tương lai, gọi là để tìm hiểu nhau thêm, ở nhà hàng lẫn khách sạn. Không hài lòng thì trở lại chọn cô khác. Có chú rể cố tình trải qua nhiều vòng chọn lựa chỉ vì thích thú những màn miễn phí này. “Những cô gái Đài ngày hôm nay trông được một chút thì không bao giờ đoái hoài tới những người đàn ông trung bình như tôi“. Ken tiếp tục kể. “Thấy những bảng trên xa lộ quảng cáo dịch vụ kết hôn, nhìn hình ảnh những cô gái Việt Nam dễ thương, tôi muốn kiếm một người vợ trước khi quá muộn. Tôi cũng đã quá 30 rồi. Nhưng tôi không ngờ con người lại bị đối xử như con vật như thế. Tôi về lại Đài Loan không vợ mà còn mất hết tiền vì công ty môi giới không chịu trả. Họ nói hoặc là tôi lấy đại một cô hoặc là không được gì hết. Tôi không đi kiện tụng ai được vì tôi nộp tiền và ký giấy cho họ, tôi chẳng có gì hết. Tôi cũng không dám nói với ai vì không dám đụng đến đám xã hội đen“.

Có nhiều loại chú rể Đài lấy vợ Việt khác nhau. Ken là một đóa sen trong ao bùn. Đa số những người đàn ông Đài qua Việt Nam lấy vợ là những người không lấy được vợ Đài. Nói khác hơn là phụ nữ Đài họ chê. Đài Loan bên trong là một xã hội kỳ thị giữa những tầng lớp khác nhau. Lái tắc xi ăn trầu thì khó mà lấy được những cô gái trẻ sinh viên mới ra trường. Bên cạnh, người Đài cũng kỳ thị với những người gốc Việt cô dâu, gốc Phi ô sin, ngay cả người từ Lục địa đến. Vì thế một người đàn ông Đài Loan thành công cũng không muốn lấy phụ nữ Việt Nam dù đó là phụ nữ đẹp. Phụ nữ Đài Loan không đẹp như các tài tử đóng phim. Những người đàn ông bị gái Đài chê mà lại thích vợ đẹp và qua Việt Nam lấy vợ, vì thế, là những tài xế tắc xi miệng ăn trầu ngồm ngoàm, là những ông già lụm khụm, là bảy tên chồng du đãng gom tiền lại cưới một cô dâu đem về chia nhau làm tình, là đám xã hội đen buôn người cho ổ chứa. Và là những người tàn tật.

Lúc về tới nhà em mới biết người em cưới không phải là chồng em. Cái tên đàn ông trẻ trung làm đám cưới bên Việt Nam bây giờ nó gọi em là má. Ba nó mới thiệt là chồng em“. Sao vậy? Chứ hồi ở bển em không biết sao? “Sao biết được! Tụi công ty môi giới nó đưa giấy tờ tên họ chữ Hoa em có biết đứa nào là đứa nào. Và em ký thôi. Được người cưới là mừng hết lớn rồi anh. Còn được đám cưới linh đình. Nó còn cho má em ba ngàn đô. Ai mà ngờ được anh. Qua đây mới biết là tên trong giấy tờ là tên của ba nó. Ổng già hơn 60 và bị tàn tật, không cử động đi đứng gì được. Đi ăn, đi tắm, đi tiêu, đi tiểu gì cũng phải có người chăm sóc. Trước đây, mỗi tháng nó trả 20000 Đài tệ để mướn người tới nhà làm mấy chuyện đó. Bây giờ thì là em. Nó bỏ ra tổng cộng 7000 đô Mỹ để lừa cưới em cho ba nó, tính ra chưa tới một năm là nó huề vốn. Còn lại là em phải làm kiếp ô sin không lương cho ông chồng già tới khi ổng chết“.

Buổi chiều về tôi và Trang đi bộ dọc theo bờ con kinh nước đen. Hai anh em không nói gì nhiều với nhau. Trang như đoán được tâm trạng của tôi nên ráng an ủi: “Anh đừng buồn, tụi nó có khổ lắm thì cũng 5 năm là có thể vào quốc tịch. Lúc đó đứa nào cũng bỏ mấy thằng chồng cà chớn. Tuần tới em dắt anh tới chỗ mấy đứa loại đó. Chuyện con Lệ kéo thêm con Thi anh cũng đừng trách nó. Đứa nào qua đây khấm khá thì nổ như lựu đạn về bên nhà, đứa bị đánh đập, giày vò thì giấu. Anh biết tại sao tụi nó phải giấu không? Có đứa sợ ba má nó buồn. Có đứa sợ ba má nó chưởi là không biết chìu chồng, thua con Tư hàng xóm mỗi tháng gởi tiền về mấy trăm. Có đứa thì sợ bị quê vì trước khi đi tuyên bố huênh hoang. Nên ở nhà cứ tưởng tụi em qua đây yên bề yên bến và thúc hối những đứa còn lại ra đi. Anh nói tụi em khổ còn hơn nô lệ. Em thì thấy ở nhà còn khổ hơn. Nói chung tụi em biết sống chai lì và quen. Như cái mùi nước kinh này, riết rồi em cũng quen không còn khó chịu như những ngày đầu mới tới“.

Tôi nghe Trang nói mà đầu óc cứ lan man với những mảnh đời tôi mới gặp. Tôi nhớ lại hình ảnh của cô bé Vi mà Trang dẫn tôi vào thăm ở bệnh viện lúc trưa. Vi vừa sống đời của một món đồ chơi tình dục trong vai trò cô dâu, vừa sống đời của một ô sin ở đợ. Gia đình chồng của Vi tổng cộng 14 người, sống nhung nhúc trong một căn nhà chật hẹp. Từ sáng tới chiều Vi hùng hục làm hết mọi chuyện của một người đi ở. Đến chiều, khi cả nhà ăn uống xong thì Vi phải tới xưởng làm đồ nhựa của chồng để làm ca đêm. Khuya về, Vi phải phục vụ người chồng và nửa đêm đều đặn thức giấc để dìu ông già chồng đi vệ sinh. Mỗi ngày được nhắm mắt bốn tiếng, Vi đã ngủ gật trên giàn máy cắt nhựa và bị cắt mất đi bàn tay phải. Tôi về lại gác trọ và ra sau ban công ngồi. Vẫn chưa quen được mùi kinh hôi thối cuốn theo con gió làm xào xạc tàu lá chuối rách cạnh nhà.

Chủ nhật sau gặp Trang tôi kể Trang nghe chuyện một cô gái ô sin mà cha linh mục dẫn tôi đến gặp để giúp đỡ. Trước khi kể, tôi cũng nói trước với Trang là chuyện anh kể lại có nhiều điều khó nghe nhưng Trang lớn rồi, chắc không sao. Trang cười nói em đã nghe nhiều chuyện lắm, chuyện anh chưa chắc “mặn” bằng chuyện em nghe đâu.

Kim đi làm ô sin, bị người chủ hiếp. Kim trốn được chạy tới chỗ cha nhờ giúp đỡ và cha khuyên là phải kiện người chủ ra tòa. Luật sư cần nó viết bảng tường trình sự việc nhưng Kim không muốn cha làm chuyện đó. Kim cũng đang khủng hoảng tinh thần mạnh lắm, may ra con giúp được nó“. Vị linh mục dặn dò tôi vào buổi sáng trên đường đến gặp Kim.

Khác với những cô dâu mà tôi đã gặp, Kim đã hơn 30 tuổi. Ngồi trò chuyện với Kim tới trưa, tôi chỉ hỏi toàn chuyện thời Kim đi học. Kim kể tôi nghe những ngày đi buôn từ Tây Ninh, tới Mộc Bài sang tận Phnôm Pênh và đã học tiếng Miên lẫn tiếng Hoa như thế nào. Kim tiều tụy, mắt sưng đỏ nhưng vẫn còn đâu đó hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp. Cho đến sau khi ăn trưa xong, Kim mới cảm thấy gần gũi để kể chuyện của Kim cho tôi nghe và qua đó nhờ tôi viết giùm bài tường trình cho luật sư đệ trình trước tòa.

Chủ em là giám đốc một công ty nhỏ. Nhà chỉ có hai cha con. Ông chủ và ba của ổng. Cả ngày em ở nhà dọn dẹp và hầu hạ ông già. Ổng tuổi cũng cỡ ngoại em. Nhiều khi đi ra đi vào, ổng cứ tìm cách cọ quẹt người em“. Rồi em có về nói lại với ông chủ không? Tôi hỏi. Kim lắc đầu. “Em chưa kịp nói thì tối ông chủ về đã xông vào giường em. Phòng em trước đó là một cái gian chứa đồ nhỏ trên sân thượng. Không có chốt cài cũng không có khóa. Em chống cự thì ông chủ không nói gì chỉ bỏ đi. Cứ thế hết đêm này tới đêm khác. Em phải chờ tới hai, ba giờ sáng, lúc chắc chắn ông chủ đã ngủ thì em mới yên tâm đi nằm. Tháng trước, không biết sao em buồn ngủ quá, đồng thời em đang có tháng nên nghĩ chắc không sao. Cho nên lúc ông chủ vào phòng đè chặt lên người em, em thức giấc, chống trả một hồi lâu thì đuối sức. Em khóc lóc van xin, nói em đang có tháng ổng cũng không nghe“. Kim vừa kể vừa khóc. Có lúc tôi thấy Kim rùng mình. Kim dừng lại và nói thôi anh, em không kể được nữa. Tôi nói Kim nghỉ một chút để tôi đánh máy lại những ghi chép ngắn thành bài viết. Một lát Kim trở lại ngồi đối diện với tôi, cúi đầu ngập ngừng: “Thật ra có một lần trước đó ổng sắp hiếp được em. Nhưng ổng không làm được vì ổng… tới trước khi ổng cởi được quần lót của ổng.” Tôi ngừng đánh máy, tránh nhìn Kim và hỏi Kim nhớ lại cho kỹ, những điều này khó nói nhưng khi ra tòa luật sư của phía bên kia sẽ vặn hỏi Kim. Làm sao Kim biết là ổng như vậy khi ổng còn mặt quần lót. Tôi viết lại một cách gãy gọn như vậy nhưng lúc đó tôi đã lúng túng nói không thành câu. Cả hai anh em đều ngượng ngùng. Kim khóc sướt mướt. Tới cuối ngày tôi mới viết xong bản tường trình cho Kim. Lần gặp lại sau đó Kim tâm sự, “khi em kể lại cho anh, em có cảm giác đau đớn và ghê tởm không khác gì lúc chuyện xảy ra“.

Chủ nhật một tuần trước khi rời Đài Loan, tôi cùng với Trang lên Đài Bắc ghé thăm nhà thờ của cha linh mục và khu chợ nơi đông đúc các cô dâu Việt Nam đang ở như Trang đã hứa. Đi xuyên qua đường chợ đông người, lạc lõng đứng một mình bán rau là một cô gái Việt Nam làm dâu xứ người với nụ cười và đôi mắt mà suốt đời tôi không bao giờ quên. Quán Bình Minh là một tiệm nhỏ. Chủ Việt, khách cũng Việt. Toàn là phụ nữ. Theo Trang, đa số các cô ở đây đã đến Đài nhiều năm. Có cô còn ở với chồng. Nhiều cô đã bỏ chồng. Vừa ngồi xuống tôi đã chứng kiến thêm một cảnh đời mới. “Đ.m mày biết không, tối hôm qua tao gọi về bà già, đ.m. nói chưa hết câu bả đã đòi gởi tiền…” Một cô dâu khác tiếp lời “thì đ.m. mày cả mấy tháng rồi mày không gởi bả chửi là phải. Đ.m. mày đi đánh bài, cào một cái trăm đô, đ.m…” Cha linh mục nhìn tôi cười, quay sang hai cô gái nói, thôi nghe, có cha đây làm ơn bớt nói mặn một chút. Trang cũng cười với tôi, “chưởi thề là phong trào mới đó anh, đứa nào ở cái chợ này cũng chửi thề, càng chửi càng thấy sướng“. Cô chủ cũng là đầu bếp cũng là tiếp viên đem nước tới tiếp lời “đời này không chửi thì làm gì cha“. Cô nhìn linh mục cười. Lân la ngồi quán hơn một giờ tôi lại nghe thêm về những mảnh đời khác. Chuyện cô gái vừa tới phi trường là bị đám xã hội đen chở thẳng về nhà gái, có cô sau đó bị đưa qua Quảng Châu. Chuyện cô gái sau vài tháng thì chồng bán lại cho người khác, có cô bị bán hơn một lần. Chuyện cô gái bị em chồng, cha chồng thay phiên nhau làm nhục mỗi tối. Mỗi câu chuyện được kể lại bằng những tiếng chửi thề giòn tan đ.m đời tụi em nó chó đẻ vậy đó anh.

Trang, tôi, và vài cô dâu kéo nhau về nhà xứ của cha. Các linh mục Việt Nam ở Đài có thú tiêu khiển nuôi chim. Vị linh mục tôi ghé thăm cũng vậy. Ùa vào chỗ ở của cha, các cô dâu đã ào ào nắc nẻ: “cha cho tụi con vào thăm chim cha; trời ơi chim cha bây giờ sao lớn dữ dzậy; hi hi, cha cho con tắm chim cha nghe…” Linh mục nhìn tôi cười hiền: “Tụi nó vậy đó con, miễn sao tụi nó còn cười là cha vui rồi. Có người trách cha sao quá dễ dãi với tụi nó. Cha thì biết tụi nó không còn tha thiết gì với lễ nghĩa nữa. Đời đã làm cho tụi nó chai lì. Thôi, miễn sao tụi nó cảm thấy gần gũi cha để có gì cha giúp tụi nó là được rồi“.

Buổi chiều tôi ghé văn phòng Bộ Xã hội Đài Loan. Tiếp tôi là một nhân viên phụ nữ người Đài dáng vẻ hách dịch hỏi tôi cần gì. Tôi kể về tình cảnh của những phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài. Chưa đầy câu chuyện bà ta đã ngắt lời: anh cần tôi giúp gì? Cố gắng dằn cơn giận, tôi nói với bà ấy tôi nghĩ bà mới là người cần giúp; theo thống kê của chính cơ quan bà đang làm việc, thì hiện nay ở Đài có hơn một trăm ngàn cô dâu Việt Nam. Chồng của họ là những người già nua, hoặc ít học, say sưa và đánh đập vợ con. Những người vợ Đài mới này không nói tiếng Hoa, cô lập trong xã hội đang sống; mỗi cuộc hôn nhân dẫn đến trung bình là hai đứa con; những đứa con trong một gia đình tan nát, bố mẹ như vậy thì chúng sẽ là hai trăm ngàn công dân Đài Loan hư đốn trong tương lai mà xã hội của bà phải giải quyết. Và con số sẽ không dừng lại ở một trăm, hai trăm ngàn. Mỗi cô dâu đem lại lợi nhuận cho môi giới Đài lẫn Việt trung bình ba ngàn đô. Nhân lên là ba trăm triệu đô. Một dịch vụ không cần nhiều nhân viên, phòng ốc, chỉ cần những con người làm vật buôn bán, đem lại lợi nhuận khổng lồ như thế thì nó sẽ tiếp diễn… Tôi nói nhiều, nói không kịp dừng để thở. Bà nhân viên xã hội nhìn tôi. Tôi biết, qua ánh mắt nhìn, bà ta chưa bao giờ nghĩ tới những chuyện đó.

Tôi rời Đài Loan mang theo mùi nước kinh nồng thối, mang theo những buổi tối ngồi trên căn gác nhìn theo bóng đứa em hợp tác lao động vừa mới kết nghĩa ngả dài trên lòng đường đi về lại công ty, mang theo những buổi sáng ngồi chờ đứa em gái đi ngang vẫy tay cười. Tôi rời Đài Loan mang theo hình ảnh những đứa bé Đài gốc Việt nheo nhóc. Và những cánh lục bình nổi trôi trên dòng kinh đen. Chuyện cô dâu cũng như những chuyện tang thương của đất nước, có lúc bùng lên rồi cũng lắng xuống và mất hút trong những lo toan đời sống của từng người. Nhưng mỗi ngày trôi qua, vẫn còn đó những đêm có cô gái nằm trên nhà kho sân thượng trằn trọc ngó chừng ra cửa, những bàn tay ngủ gục bị cắt đứt, những cuốn phim nô lệ tình dục tiếp tục quay, và những vết tím bầm trên mắt trên môi.

Tôi rời Đài Loan mang theo lời của Trang: Anh nói tụi em khổ còn hơn nô lệ. Em thì thấy ở nhà còn khổ hơn. Lời nói ấy đã dẫn đến một bước ngoặt của đời tôi.

http://vudongha.wordpress.com/

© 2010 Vũ Đông Hà

© 2010 talawas

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Thư của H.Y Phạm Minh Mẫn gửi LM Nguyễn Thái Hợp

Cha Hợp thân mến,

Đọc bài "Xin chỉ cho" của Luật sư Bích, tôi thấy thoáng qua có một kinh nghiệm cần phải học hỏi. Nhờ Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình (CLB NVB) nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn.

1. Năm 1954, trước Vatican II, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với Nhà Nước Cộng sản, gia đình công giáo không gửi con em đến trường Nhà Nước. 

2. Năm 1975, sau Vatican II, GH.CG phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, dưỡng lão viện và bệnh viện công giáo cho Nhà Nước đó, gia đình công giáo gửi con em đến trường Nhà Nước, mọi người đến bệnh viện Nhà Nước chữa bệnh... 

3. Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?

4. Trong tinh thần hợp tác, 16 dòng tu theo lời tôi kêu gọi gửi gần 100 thành viên tình nguyện đi phục vụ bệnh nhân SIDA tại Trung Tâm Trọng điểm mấy năm nay. Các vị lãnh đạo TP cho tôi biết lúc đầu chỉ có lối 20% trong số hơn 30.000 bạn trẻ cai nghiện trong lối 20 Trung Tâm là nhiễm HIV, sau những năm cai nghiện thì tỷ lệ nhiễm HIV là trên 60%, có vị nói là trên 80%. 

5. Báo chí cũng thông tin những ngành liên hệ với y tế thì toa rập nhau trấn lột bệnh nhân…Hình như các ngành, thay vì biến giai cấp vô sản thành người đầy tớ phục vụ nhân dân theo như lời Bác dạy, thì thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. 

Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ. 

6. Hợp tác với cách quản lý giáo dục và y tế xem là bệnh hoạn như thế thì được gì, mất gì? Sự hợp tác đó có góp phần lành mạnh hoá nền giáo dục và y tế? Hay tạo điều kiện cho cơn bệnh thêm trầm trọng?

7. CLB.NVB nghiên cứu xem coi thái độ bất hợp tác và thái độ hợp tác của Giáo Hội trong lịch sử 50 năm qua, mỗi thái độ có những lợi và hại nào, đối chiếu cái lợi và cái hại của hai thái độ, và đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc. Có được thế thì sự phát triển đất nước và con người mới vững bền.

Chân thành cám ơn cha Hợp và các thành viên Câu Lạc Bộ NVB.

Thành phố Hồ Chí Minh, 22.7.2007

Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng Y Tổng Giám mục

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2009

Văn hóa Việt thời quá độ




* Cu lợn nướng... (rất hồn nhiên, không hoa hòe cải lương). * Người nhện đếm tơ
* Quảng cáo rất liều. * Vận dụng sức máy. * Chuẩn bị đằng vân. * "Đi chơi chỗ khác ngay". * Chênh vênh giữa phố. * Theo đèn nào bây giờ? * Sáng tạo. * Kèm. * Đèo. * Để quan sát phía sau. * Xài tiếng Anh cho nó máu. * "Sinh" đẹp thế. * Giựt tít rất ấn tượng: nóng "nòng" chờ hỗ trợ. * Thái mát sa ghe. * Cấm ám sát thường dân. * Rẽ trái, quẹo phải khi đỏ đèn đều được đừng sợ tai nạn giao thông thường xuyên

Nhặt nhạnh từ tuoitrecuoi