Hiển thị các bài đăng có nhãn cônggiáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cônggiáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Không đóng bỉm

Mai Xuân Dũng - Họ đã đến và họ đã thấy. Hóa ra người công giáo không  ba hoa về giáo lý suông. Họ sống có niềm tin và có tình người. Họ đang xả thân vì nghĩa cử. Họ không trốn trong tôn giáo như một con sâu trốn trong kẽ nứt một cây gỗ mục. Họ không đóng bỉm.

*

Anh ta bị lôi đi bởi hai người ăn vận lịch sự nhưng vẻ mặt lạnh lẽo, sắt đá. Đến gần hơn thì thấy anh ta bị còng. Hai tay thu ra trước bụng. Chiếc còng sáng loáng. Anh chúi về bên trái khi người mặc áo trắng kéo mạnh và lại xiêu sang phải khi người mặc áo kẻ lôi sang phải. Khi hỏi người áo kẻ tại sao anh ta bị bắt thì người hỏi nhận được một ánh nhìn vừa khinh mạn vừa đe dọa. Cái ánh mắt ấy rõ ràng lắm, cái thông điệp ấy cực kì rõ ràng như ánh mắt của con sói tự biết mình làm chủ thảo nguyên chỉ rặt có bầy cừu và lũ sơn dương cao đạo nhưng nhút nhát. Người hỏi điềm tĩnh, ôn hòa đến độ gần như là sức mạnh làm người áo trắng phải lên tiếng “hắn gây rối trật tự công cộng”. Người vận áo kẻ thêm “hắn vờ câm để chống người thi hành công vụ”.

-Tôi biết người này, anh ta bị câm sau lần phẫu thuật cắt thanh quản.

Hai nhân viên công lực dừng lại ngạc nhiên. Người bị bắt vùng vẫy và ú ớ trong cổ. Người khách vạch cổ áo của người bị bắt để lộ một cái lỗ đen ngòm chính giữa ức.

Hình như chỉ chờ có một người lên tiếng thì đám đông ở đâu đó trong các khe cửa, hàng quán…mới túa ra, mắt mở to theo dõi, vẻ mặt mất biến nét thờ ơ thường nhật…

Tỉnh thức sau một đêm mệt mỏi mộng mị, hắn bị một giọt nắng rơi vào mắt. Giọt nắng hiếm hoi của những ngày u ám tháng tư. Hắn lật dở những dòng Tân ước nghiền ngẫm những ý tứ xa xôi như tiếng thở dài của quá khứ.

“26Vậy đừng sợ chúng! Vì không gì che giấu mà lại sẽ không bại lộ, và không gì kín ẩn mà lại sẽ không bị thấu biết. 27Điều Ta nói với các ngươi trong bóng tối, các ngươi hãy nói ra nơi ánh sáng; điều các ngươi rỉ tai nghe được hãy rao trên sân gác.


     28Đừng sợ những kẻ giết được xác, nhưng không thể giết được hồn; hãy sợ Đấng có thể diệt được cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục. 29Hai con chim sẻ há không bán một đồng tiền sao? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý Cha các ngươi! 30Cả những sợi tóc trên đầu các ngươi cũng đã cộng sổ rồi! 31Vậy đừng sợ! Các ngươi quí giá hơn nhiều con chim sẻ (Mt 10,17-11,30).

Khi biết anh Lê Quốc Quân là người công giáo thì nhiều người không phải công giáo muốn đến nhà thờ để xem biết, để giải phóng tò mò. Tối 13/4/11 gia đình 2 anh Lê Quốc Quân và Phạm Hồng Sơn đi đón thân nhân của mình. Họ không khỏi ngạc nhiên, đặc biệt gia đình anh Phạm Hồng Sơn không là người công giáo khi chứng kiến cộng đoàn giáo dân cũng đi đón hai anh bằng nhiều hoa tươi và rất nhiều nụ cười ánh mắt yêu mến ngưỡng mộ.

Còn các nhân viên công lực cũng ngạc nhiên không kém “chúng được gì khi bạo dạn tỏ mặt ra là những người yêu mến hai tay bất đồng chính kiến này cơ chứ ? Họ bị các thế lực thù địch xúi dục làm mê muội rồi sao ?”

Não trạng của nhiều người, nhất là nhân viên công lực kiểu "dân phòng" trước bất kì việc gì cũng nghĩ “hắn làm thế thì ĐƯỢC cái gì ?”

Phải có mối lợi gì đó thì mới làm. Mấy chục năm ở đời này cái “tôn giáo độc tôn” dạy người ta kiếm lợi lộc bằng mọi giá, thu lấy mối lợi bằng bất kể thủ đoạn nào và che đậy hành vi ghê tởm bằng cách nói dối ra rả. Người ta không tin ư? vậy thì càng phải nói dối trơ trẽn hơn nữa. Nói dối để tồn tại.

Những người tò mò đã đến nhà thờ.

Họ đã đến và họ đã thấy. Hóa ra người công giáo không  ba hoa về giáo lý suông. Họ sống có niềm tin và có tình người. Họ đang xả thân vì nghĩa cử. Họ không trốn trong tôn giáo như một con sâu trốn trong kẽ nứt một cây gỗ mục. Họ không đóng bỉm.

MXD

http://vn.360plus.yahoo.com/dungmb64/article?mid=2130


Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Bài học Ba Lan cho Giáo hội Công giáo VN

Nguyễn Văn Lục

Hóa ra các sự việc, biến cố xảy ra gần đây đều là do lỗi của giáo dân, một số tín hữu để thói đời lôi cuốn? Và trách nhiệm của các mục tử là giáo dục, huấn luyện tín hữu?

Tôi không thể chia sẻ được cách nhìn sự việc về các biến động xảy ra trong các giáo xứ và các địa phận chống đối lại nhà cầm quyền bằng lối nhìn đơn giản và quy chụp như thế được.

Khi giáo dân đòi hỏi tranh đấu, khi giáo dân bị nhà cầm quyền đánh đập, bị bắt, bị truy tố ra tòa án thì các vị mục tử ở đâu? Phải chăng đó là tình trạng để cho thói đời lôi cuốn?

Thế cho nên, nỗi lo lắng cho giáo hội không phải là sợ giáo dân phai mờ lòng đạo mà sợ các mục tử mất bản chất, biến thái.

Vâng thực sự đó là nỗi lo của chúng tôi đấỵ.


Hoạt động của cộng sản
Nguồn: hitchcock.itc.virginia.edu

Nếu cứ áp dụng lề luật giáo hội một cách nghiêm khắc thì có thể một số giám mục và mốt số linh mục phải bị «treo chén», hoặc bị rút phép thông công mới phải.((Anathème).

Họ không xứng đáng trong vai trò của họ.

Họ mất bản chất trong cái hèn của họ được đồng hóa với sự khôn ngoan. Bằng chứng là ngay giữa lòng tổng giáo phận Sài gòn, người ta vẫn thấy linh mục có thẻ đảng đứng làm trùm trong phẩm trật giáo hội một cách công khai từ mấy chục năm nay?

Không một ai dám lên tiếng phản bác công khai về sự hiện diện « lù lù, trơ trẽn » của. tên cán bộ cộng sản này. Ngoại trừ giám mục quá cố Lê Đắc Trọng.

Ai có thể nói là Huỳnh Công Minh không theo lệnh đảng tổ chức cài đặt mạng lưới cán bộ đảng viên trong hàng ngũ tu sinh? Ai có thể biết chắc có bao nhiêu tu sinh có thẻ đảng đã được Huỳnh Công Minh chuẩn phê?

Nuôi cộng sản trong nhà là nuôi một kẻ nội thù và một ngày nào đó trả giá. Kẻ lãnh đạo giáo phận có lòng không thể mãi tiếp tục làm ngơ chuyện này được mãi.

Chúng ta cần những giám mục, linh mục có một chữ "DÁM". Dám nói, dám dấn thân, dám đứng về phía tín hữu. Có bao nhiếu linh mục dám đứng về phía giáo dân trong các cuộc tranh đấu đòi quyền lợi về cho giáo hội.

Có linh mục biện hộ cho sự có mặt của Huỳnh Công Minh là có ích cho giáo hội, vì mỗi lần cần xin điều gì thì Huỳnh Công Minh có thể nói một tiếng là xong. Chúng ta có cần một thứ trung gian giữa giáo hội và chính quyền bằng một Huỳnh Công Minh không?

Đó là một thứ tương quan bệ rạc của cơ chế xin cho.

Ông ta có thể làm lợi 9 điều và hại một điều. Nhưng mục đích chính của y là kiểm soát, bá cáo và điều động theo chiều hướng thuận lợi cho đảng cầm quyền.

Giáo hội phải đủ can đảm loại trừ những thành phần trung gian kiểu Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ để cho mối liên lạc giữa giáo hội và chính quyền trở thành lành mạnh hơn.

Ai có thể tin được là ngay những chức sắc trong địa phận cũng răm rắp tuân theo những lời khuyến cáo của viên tổng quản tòa giám mục? Những điều họ phát biểu là đều xuất phát tự cái tâm của họ hay do có tên cò mồi xúi dục? Nào ai biết được điều gì đã xảy ra?

Và các mục tử càng bào chữa càng cho thấy sự bất trung (infidèle) của họ với lý tưởng, biến những lời kinh thánh thành một thứ diễn giải tùy tiện, sai lạc như thẻ dị giáo (hérétique).

Những điều họ phát ngôn cho ta có cảm tưởng họ phát ngôn làm sao để không phải nói sự thực mà không phải là nói dối.(not to tell the truth without really lying).

Đó không phải là thứ ngôn ngữ của người tu đạo. Tại sao Giáo hoàng John Paul II nói điều gì thì điều ấy thấm vào lòng người còn những mục tử kia nói không nghe lọt tai, có nghe cũng không hiểu.
Hay là họ đang “nói tiếng lạ” đây?

Xin ghi nhân một số đông trí thức hải ngoại phát biểu trong cái tinh thần lo lắng cho hình ảnh giáo hội đang bị phai nhòa ấy.

Và nếu vì một lẽ nào đó, có một số tu sĩ biến giáo hội thành giáo hội quốc doanh thì cái lỗi đó đổ hết trách nhiệm lên Hội Đồng giám mục và các giám mục.

Đi vào thông điệp thứ hai

Khi giáo hội Ba Lan phát giác ra môt số giám mục và linh mục làm tay sai cho chính quyền cộng sản thì điều đó đã gây một cú sốc trong dân chúng. Sau đó linh mục Isakowiez Zaleski đã hoàn thành một tập sách nhan đề Các linh mục Ba Lan và cơ quan mật vụ cộng sản Ba Lan dựa trên những tài liệu văn khố mật còn được lưu trữ, trong đó tại chương bảy đã liệt kê 39 giáo sĩ đã cộng tác với mật vụ Ba Lan với 4 giám mục.

Riêng Hồng y Glemp tiết lộ cho biết một số linh mục người Ba Lan làm việc tại Vatican đã làm việc cho công an mật vụ của Ba Lan dưới thời cộng sản để theo sát và bá cáo về những việc làm của giáo hoàng John Paul II. Ông nói thêm, “Tại Vatican có gián điệp và Moscow rất để ý tới những gì đang xảy ra tại Roma dưới quyền John Paul II.” Và ông cho rằng có đến 15% giáo sĩ nước này đã cộng tác với mật vụ Ba Lan.

Vấn đề phát giác của Hồng y Glemp là quá trễ, tại sao Hồng y Glemp biết mà giữ kín không tiết lộ ra. Sự im lặng này mang ý nghĩa gì?

Nhưng còn bao nhiêu trường hợp cộng tác bí mật, giao thiệp chỉ bằng lệnh miệng, thực giả thật không dễ.
Chuyện giáo hội Ba Lan không phải chỉ là chuyện của người hàng xóm, không liên can gì đến Việt Nam. Không, điều gì đã xảy ra ở Ba Lan thì cũng có nhiều cơ hội xảy ra ở Việt Nam và có thể đạt một mức độ báo động.

Vậy có bao nhiêu tu sĩ, linh mục Việt Nam làm tay sai cho công an, cảnh sát mật vụ? Không có con số nào cho phép người ta đưa đến một kết luận về những con số này. Phần vì cả hai phía đều giữ bí mật, phần thì cách làm việc của công an chỉ dùng lệnh miệng không để lại dấu tích gì.

Nhưng dầu vậy, có rất nhiều tín hiệu để biết ai là người tốt, kẻ xấu.

Tiện đây, xin trích dẫn một tín hiệu, đoạn báo đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 20 tháng 10 năm 1992 như sau:

“Thủ tướng Võ Văn Kiệt tiếp Hội đồng giám mục Việt Nam” đăng trên trang nhất:

Ngày 19 tháng 10 năm 1992, thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tiếp Hội đồng giám mục Việt Nam đến Chào và Bá cáo kết quả đại hội lần thứ 5 của Hội đồng giám mục Việt Nam... Giám mục Nguyễn Văn Sang, phó chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam, đã bá cáo kết quả Đại hội đồng giám mục lần thứ 5 và trinh kiến nghị của Hội đồng giám mục gửi thủ tướng. Thay mặt Hội đồng giám Giám mục, giám mục chủ tịch Nguyễn Minh Nhật đã bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà nước, chính phủ và thủ tướng và hứa cùng đồng bào, linh mục, tu sĩ, giáo dân chu toàn nhiệm vụ của mình trong tinh thần kính chúa yêu nước.”
Những ngôn ngữ như thế, tôi đọc thấy xấu hổ và nhục, làm sao tôi có thể tin tưởng vào hội đồng giám mục Việt Nam được?

Tinh thần thụ hưởng và chủ nghĩa cá nhân rất là rõ rệt. Lm Nguyễn Huy Mai, giám mục Ban Mê Thuột bị nhà nước trù dập, quản thúc cấm đi họp HĐGMVN, cấm đi viếng ad limina, v.v... không được phép dự HĐGMVN và họ đã nại ra đủ thứ lý do cấm đoán ông. Các giám mục thay vì bày tỏ thái độ liên đới bằng cách hoãn phiên họp hay hủy bỏ phiên họp.

Nhưng ai dám làm điều ấy?

Khi tổng giám mục Kiệt bị tống xuất ra nước ngoài, ai là người dám lên tiếng? Thỏa hiệp, im lặng để được dễ dãi cho mình, thây kệ sự bất công đối với kẻ khác, nhưng vẫn tin rằng mình hành xử vì Chúa, vì giáo hội.

Đó là sự ngụy tín tôn giáo trong niềm tin mà thật ra chỉ là một hình thức phản bội và bất trung.

Phần giáo dân cần ghi nhận điều này: các vị giám mục được chọn không phải là thần thánh gì ..không phải là những con người toàn hảo.

Mới đây nhất, Hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn lại tất bật sang Vatican nhằm “giải độc” dư luận nhân vụ tổng giám mục Kiệt với lá thư nhan đề: Tôi nghe thấy và học được gì từ những cuộc gặp với Bộ ngoại giao và bộ truyền giáo Vatican trong hai ngày 1 và 2 tháng 6-2010

Tôi đã đọc đi đọc lại ba bốn lần lá thư, nhưng thú nhận là tôi bất lực, vì không nắm bắt được một cái gì cụ thể, minh bạch trong những lời giải thích của Hồng Y Ivan Dias, của Tổng giám mục Mamberti, của đức ông Ballestrero.

Tốt hơn hết, xin trích dẫn một đoạn để độc giả cùng chia xẻ:

“Sau khi nghe tôi giải bày tình hình do dư luận tạo ra. Đức tổng giám mục Mamberti, bộ trưởng bộ ngoại giao Vatican, nói về phần vụ của bộ ngoại giao và đường hướng phục vụ lợi ích của giáo hội địa phương và toàn cầu trong sự tôn trọng ý kiến của người liên hệ. Đức ông Ballestrero, thứ trưởng cho biết trong thực hành đường hướng đó, bộ luôn luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của đương sự, luôn lưu tâm đến chức vụ cùng đời sống của đương sự trong tương quan với xã hội.”

Ai có thể giải thích rành mạch rõ ràng đoạn văn này, xin chỉ dùm.

Hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn thiếu sự minh bạch (transparency) trong nội dung lá thư bởi vì một lẽ đơn giản vì cái tâm ông không trong sáng. Ông dấu diếm che đậy.

Tuy nhiên, cái ngây ngô là Hồng y Mẫn đã trích dẫn Hồng y Glemp, giáo chủ Ba Lan như một mẫu mực với lời khuyên khôn ngoan như sau, “Hồng y giáo chủ Ba Lan, người đã sống qua 3 chế độ xã hội cũng đã có lời khuyên tương tự khi đến Việt Nam thăm hỏi tôi trong năm vừa qua.”

Nhưng Hồng y Glemp là ai?


Hồng y Glemp
Nguồn: Flickr.com
Khi biết Lm Jerzy có thể bị nguy hiểm đến tính mạng, Giáo hoàng John Paul II đã gửi thư báo động cho Hồng Y Glemp như sau, “Hãy bảo vệ cha Jergy Popieluszko, nếu không có ngày họ sẽ tìm thấy vũ khí ngay tại bàn giấy mỗi đức giám mục …”

Hồng y Glemp có nhận thức được lời cảnh cáo từ Vatican và đã có những biện pháp gì nhằm bảo đảm tính mệnh cho linh mục Jergy Popieluszko? Chắc là không. Ngược lại ông chỉ muốn tống xuất linh mục này ra khỏi Ba Lan cho đỡ bị quấy rầy.

Thái độ ấy thật đáng trách.

Xin hãy dở lại trang sử cuộc tranh đấu của công đoàn Đoàn kết và thái độ ứng xử của Hồng y Glemp như thế nào:

“Tại Krakov, theo đề nghị của vị tổng giám mục, một vị linh mục được lệnh rời nơi thờ Chúa được giành cho Công Đoàn Đoàn kết vào phía trong nhà thờ và dùng các cuộc họp đào tạo công nhân được tổ chức tại nhà thờ.

Tuy nhiên, nhiều cha xứ khắp cả nước chỉ trích một cách thẳng thắn vị tổng giám mục, Họ ủng hộ phong trào chống đối và chương trình rộng lớn khôi phục xã hội mà Công đoàn Đoàn kết đại diện».
Trích “Đức giáo hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy”, Carl Bersnstein và Marco Politi, trang 515, nxb Công an nhân dân.

Hồng Y Glemp được coi như một người bảo thủ và trở thành lực cản cho phong trào tranh đấu của Walesa.

Phải chăng đây là điều mà Hồng y Mẫn muốn theo gương Hồng y Glemp? Phải chăng vì thế mà bài “giải độc” này đã được trân trọng đăng trên Công giáo và dân tộc?

Nếu quả thực như vậy thì là điều bất hạnh cho giáo hội Việt Nam .


Đôi dòng thay lời kết


Khi đang viết bài này thì người viết gặp một chị bạn cùng đi chợ Việt Nam. Chị là người đạo dòng và luôn luôn mang cái tâm tình mến Chúa, kính trọng các vị bề trên trong giáo hội cho dù các vị ấy có sai sót. Chị tỏ ra buồn phiền về một số bài bào viết đả kích nặng nề các “đấng bề trên” trong giáo hội, trong đó có một số bài viết của chính tác giả.

Cái tâm tình ấy vốn là truyền thống đáng kính cũng cần được tôn trọng và giữ gìn.

Sự phiền muộn ấy thật chính đáng và không thể không làm người viết cẩn trọng hơn trong khi cầm bút. Trách nhiệm người cầm bút chẳng những đối với độc giả mà con với những tín hữu như chị bạn nói trên.
Khi viết những dòng này, người viết cũng không thể không nghĩ đến một vài giám mục vốn là bậc đàn anh mà người viết có quen biết từ thuở thiếu thời. Cũng càng không thể quên được những vị đã từng là bạn học trên ghế nhà trường và ngay cả một số vị thuộc thế hệ lớp sau.

Có thể quý vị ấy đọc bài này không khỏi không đau lòng và buồn phiền.

Nhưng nếu suy nghĩ cho cùng, sự thật là giải pháp duy nhất giải thoát chúng ta.

Người viết mong muốn là mọi người hãy vượt lên chính mình để biết đâu là con đường phải theo.
Mọi người hãy từ bỏ thái độ yên tâm mà người viết cảm thấy không yên tâm chút nào.

Không nói, giữ im lặng có thể trở thành điều tồi tệ hơn thế nữa khi mọi chuyện được phát giác va phơi bầy ra như trường hợp vị tổng giám mục Ba Lan ở trên.

Bởi vì người cộng sản luôn luôn tìm cách phá rối, gài đặt, ly gián, phao vu như trong các trại cải tạo, trong cộng đồng tín hiữu, gây chia rẽ và nghi ngờ.

Thật không dễ khi phải sống chung với người cộng sản và cũng thật klhông dễ giữ được lòng dạ ngay thẳng và cương trực.

Trách nhiệm các tôn giáo trước cảnh một xã hôi suy vong thật lớn lao. Không có tôn giáo, xã hội Việt Nam không còn là một xã hội của con người nữa.

Mỗi lần đọc báo, nhìn thấy những cảnh đời bên Việt Nam hiện nay với những nhan đề tin tức trong những ngày gần đây làm người viết sửng sốt và tuyệt vọng. Đại loại như những mẩu tin Anh trai tưới xăng thiêu cháy em ruột…. Chồng ghen, chồng tạt chảo dầu sôi vào người vợ…. Sắp xử kẻ cuồng ghen đâm kim vào đầu bé sơ sinh…. Hà Nội mâu thuẫn gia đình, con gái đâm chết cha. Kẻ cắt đầu người yêu cũ đối với mặt với án tử hình… Chuyện không muốn chứng kiến ở nơi “tước bỏ quyền làm mẹ”…

Đọc những tin trên, thưa bạn đọc, thưa các vị lành đạo tôn giáo, tôi chỉ có thể nói rằng chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ nghĩa khước từ con người.

© DCVOnline

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Bài học Ba Lan (I)

Nguyễn Văn Lục

Bài học Ba Lan cho Giáo hội Công giáo Việt Nam

Kính tặng TM Ngô Quang Kiệt

Ba Lan (Poland) là một nước đa số dân theo Thiên Chúa giáo. Giáo hoàng John Paul II khi trở về Ba Lan đã nhận định, “Chẳng lẽ chúng ta không có quyền nghĩ rằng trong thời đại chúng ta, Ba Lan đã trở thành một mảnh đất có một trách nhiệm đặc biệt để làm một nhân chứng?” (Trích “Giáo hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta”, Carl Bernstein và Marco Politi, trang 17. Nxb Công an nhân dân.)

Những biến cố chính trị làm thay đổi diện mạo thế giới và tôn giáo xảy ra tại Ba Lan gửi đến cho mọi người hai thông điệp chính yếu:

• Thông điệp thứ nhất chỉ ra rằng có một ưu thế vượt trội của những giá trị tôn giáo và tinh thần nhân bản (human spirit) trên ý thức hệ cộng sản. Ý thức hệ cộng sản xem ra đã lỗi thời, đã mục nát. Vì thế khi được hỏi ngài đã làm gì để chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ, Giáo Hoàng John Paul II đã nhận xét rất đơn giản và cụ thể, “Tôi không tạo nên điều này. Một cái cây đã mục, tôi lay mạnh là nó đổ.” (Trích “Một quan điểm về Giáo hội và chính trị”, Người tín hữu. Nguoitinhuu.com/chiase/linhtinh/churchPolitichtm

Và chế độ cộng sản đã sụp đổ mà không cần tốn một viên đạn tại Ba Lan, Liên Xô (Soviet Union), Hungary, Tiệp Khắc (Czechoslovakia cũ), Đông Đức (German Democratic Republic). Đó là một sự sụp đổ dây chuyền ngoài dự đoán của mọi người.

Người Việt Nam phải tin chắc rằng điều gì đã xảy ra cho chế độ ấy ở khắp nơi thì số phận dành cho nó ở Việt Nam dứt khoát sẽ không khác.

Sự chọn lựa dứt khoát của dân chúng Ba Lan khi đón tiếp vị giáo hoàng nói lên điều này, “We want God.” Chúng tôi muốn có Chúa. Có nghĩa là họ không chấp nhận chế độ cộng sản nữa.

Chỉ mấy chữ đó thôi đủ nói trọn vẹn tất cả.

Sở dĩ người dân Ba Lan có thể khẳng định như thế vì họ có được những nhân vật tiêu biểu cho tình thần nhân bản, tinh thần đạo giáo. Đó là những Hồng y Wyszynsky, Giáo hoàng John Paul II và linh mục Jerzy Popieluszko.

Thiên Chúa giáo Việt Nam cố gắng vươn lên theo với những con người như Trịnh Như Khuê, Nguyễn Kim Điền và mới đây Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi.

Đó là tin mừng của một giáo hội lên đường theo tinh thần của các tông đồ xưa: Hãy ra khơi. (Duc in altum). Hãy ra khơi là chấp nhận tất cả những sóng gió, bão táp và hiểm nguy.

Sự trù dập, đe dọa và khủng bố, bắt tù đầy của chính quyền cộng sản hiện nay sẽ không còn là nỗi sợ của mỗi người dân nếu biết chấp nhận tinh thần: Hãy ra khơi.

Và tiêu biểu cho tinh thần Hãy ra khơi, giáo hội Ba Lan đã sinh ra 3 người con thân yêu của họ và nay cả ba nhân vật Ba Lan ấy đều được coi như là những bậc thánh nhân.

Phần chúng ta bằng lòng với những gì mà chúng ta có được.

Triển vọng ra khơi nhìn bằng những con số thì hiện nay Ba Lan chiếm 26% đại chủng sinh của toàn Âu Châu với 7131 chủng sinh. Ba Lan trở thành nước “xuất cảng” linh mục tới các nước Âu Châu và Bắc Mỹ.

Niềm hy vọng và triển vọng của BaLan phải chăng cũng là niềm hy vọng của giáo hội Việt Nam mà hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn? Tôi cũng không thể ngờ được giáo hội sau bức màn tre miền Bắc nay trở thành niềm hy vọng “kích cầu” trong nhiều phạm vi như dân số giáo hữu gia tăng ngoài sự mong đợi của mọi người, hoạt động tích cực trong các phong trào phản kháng,đặc biệt là giới sinh viên tại một số địa phận.

Chúng ta đặt rất nhiều hy vọng vào họ.

Chẳng hạn, tín hữu giáo phận Vinh trước 1954 là 219.000 người nay con số lên đến 500.000 người. (Theo thống kê của World Bank, World Development Indicators – cặp nhật lần chót June 15, 2010, dân số Việt Nam năm 1960 khoảng 35 triệu và đến năm 2008 đã trên 86 triệu người - DCVOnline). Tổ chức sinh viên ở địa phận Vinh là một trong những tổ chức hoạt động hăng say và hữu hiệu đáng kể.

Phần giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam nói chung muốn ra khơi không thể không học bài học Ba Lan.


Hai công dân Ba Lan và Giáo hoàng John Paul II
Nguồn: OntheNet

• Thông điệp thứ hai không kém quan trọng là giáo hội Ba Lan để lộ cho thấy một giáo hội dù có căn tính và gốc rễ, có cả một lịch sử truyền thống, có tinh thần đoàn kết đấu tranh vẻ vang vẫn không tránh khỏi vết nhơ để cho cộng sản xâm nhập và lũng đoạn.

Bài học đó đắt giá và tủi hổ cho giáo hội Ba Lan.

Bằng chứng là tân giám mục Warszawa bị tố cáo từng cộng tác với chế độ cộng sản hàng chục năm liền. Cuối cùng thì ông đã thú nhận, “Sự thật tôi đã có dính líu. Tôi đã gây ra thiệt hại lớn cho giáo hội và tôi đã lại gây họa lần nữa trong những ngày gần đây trước một cơn sốt truyền thông khi tôi phủ nhận sự kiện cộng tác này.”

Đến lượt linh mục Michał Czajkowski, một linh mục nổi tiếng ở Ba Lan đã thú nhận làm nhân viên tình báo, săn tin tức của những người bất đồng chính kiến và hàng giáo sĩ để báo cho cơ quan mật vụ. Trớ trêu hơn nữa, ông còn là phụ tá của Giáo hoàng John Paul II khi ông còn ở BaLan.

Sự cài người bằng đủ mánh khóe của cộng sản là một lời cảnh giác cho bất cứ ai và cho bất cứ giáo hội nào. Và ngay tại Vatican, linh mục Konrad Hejmo, người cầm đâu trung tâm hành hương ở Roma, hướng dẫn nhiều phái đoàn đến triều yết giáo hoàng cũng hoạt động cho cộng sản.

Những gì đã xảy ra ở Ba Lan, người viết bài này cảm thấy lo ngại như một cảnh báo giáo hội Việt Nam đang trượt chân vào vết xe đổ của giáo hội bạn.

Đi vào thông điệp thứ nhất

Nhìn vào giáo hội Ba Lan và những gì đang xảy ra ở đó từ 1980, không khỏi mong muốn và so sánh với giáo hội Việt Nam và tự hỏi bao giờ Việt Nam có được những con người kiệt xuất như vậy?

Ngày 6-6-2010 vừa qua, hằng trăm ngàn người từ khắp nơi trên đất Ba Lan đổ về Warsaw để tham dự lễ phong chân phước cho linh mục Jerzy Popieluszko.

Việc phong chân phước tử đạo này là bằng chứng gián tiếp Vatican thừa nhận tính cách chính nghĩa và sự dấn thân nhập cuộc của giáo hội Thiên Chúa giáo trong việc chống lại chính quyền cộng sản qua linh mục Jerzy Popieluszko.

Thông điệp ấy mong là được hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo Việt Nam ghi nhận và là dấu chỉ của hy vọng rằng chính nghĩa sẽ thắng.

Ở vào thời điểm tranh đấu sống còn với chính quyền cộng sản, Jerzy Popieluszuko trở thành nạn nhân số 1 của chế độ cộng sản Ba Lan. Nhưng ông lại là linh hồn của cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại chế độ độc tài cộng sản. Ông đã bị cảnh sát mật vụ Ba Lan (SB) tra tấn đến chết và bị vứt xuống sông Vistula vào năm 1984.

Lãnh tụ công đoàn Đoàn Kết Lech Walesa khi được tin về vụ thảm sát đã nói, “Điều tệ hại nhất đã đến.”

Nay ông trở thành người anh hùng của dân tộc Ba Lan, người được yêu mến và kính trọng. Quả là cái chết của ông không phải là điều vô ích.

Ý nghĩa lớn lao qua cái chết của ông là vực dậy cả một nước Ba Lan và điều gì đang diễn ra trong tim những người Ba Lan, nếu không phải là sự phấn khích, sự choáng ngợp của giới trẻ trước cái chết bi phẫn đó.

Qua bài học cái chết đó, hàng vạn người đã cải đạo. Cũng qua cái chết đó, hàng ngàn thanh niên Ba Lan gia nhập các chủng viện.

Một tu sinh khi được hỏi là tại sao lại đi tu? Người tu sinh ấy trả lời không do dự bởi vì chúng tôi có những tấm gương như John Paul II.

Đồng thời người dân Ba Lan nói không với chế độ đương quyền và làm tan biến những nỗi sợ hãi trước đây. Họ tìm lại được lòng tự trọng của chính mình và dám đứng thẳng, thách thức lại chính quyền cộng sản.

Nhìn lại dân tộc mình, người viết thấy rõ ràng là người cộng sản Việt Nam đã thành công không nhỏ trong việc đánh mất lòng tự trọng của người dân trong nước.

Đánh mất lòng tự trọng là đồng nghĩa trở nên hèn, trở nên nhát sợ. Chúng ta đã từng được nghe những lời tự thú “hèn” của một số nhà văn, nhà báo, trí thức Việt Nam. Chúng tôi cũng mong muốn một ngày không xa, có những lãnh đạo Thiên Chúa giáo chứng tỏ mình đã hèn.

Nhắc lại cái thời điểm linh mục Jerzy Popieluszko bị bắt cóc ngày 19 tháng 10, 1984. Cả nước Ba Lan cầu nguyện cho ông và chờ đợi tin dữ. Agnieszka Holland sau này đã dựng thành phim nhan đề “To Kill a Priest” ghi lại những giờ phút cuối cùng của vị linh mục- tử đạo này.

Prêtre-Martyr. Linh mục- tử đạo. Đó là biểu tượng chính xác nhất về Jerzy Popieluszko Sau khi tin dữ cho biết ông bị tra tấn và chết trôi sông, Piotr Moszynski viết cho đài Rfi mô tả cái cảnh tượng hằng 400.000 ngàn người Thiên Chúa giáo Ba Lan (chiếm 90% dân số) đã lũ lượt về giáo đường Stanisław tiễn đưa ông.

Chỉ có tiếng khóc và tâm tình nhớ thương.

Người viết cũng mong muốn một cách ích kỷ có một linh mục Việt Nam như thế.

Chúng ta thử dám so sánh xem, linh mục nào ở Việt Nam đi theo được bước chân của con người thánh thiện và anh hùng này? Các linh mục, tu sĩ Việt Nam cảm nghĩ gì về vai trò linh mục của mình khi so sánh với vị linh mục Ba Lan? Điều gì có thể so sánh và điều gì có thể học hỏi được nơi con người thánh thiện đó? Tại sao cũng trong những hoàn cảnh tương tự lại không thể sản sinh ra được những con người bất khuất và tiêu biểu cho Việt Nam?

Ba Lan với 90% dân số theo Thiên Chúa giáo đã trở thành tiêu biểu cho sự thống nhất ý chí trong đấu tranh và hành động. Và người giáo hữu Ba Lan chỉ có một con đường chọn lựa duy nhất là lưỡi gươm (chế độ cộng sản) hay thập giá.

Với 7% dân số Việt Nam theo đạo, chúng ta đã chọn con đường nào? Hàng giáo phẩm đã chọn con đường nào?

Hãy chọn con đường mà nhiều người Ba Lan đã hô to khẩu hiệu xác định tư cách tôn giáo của mình, Chúng tôi muốn có Chúa.

Một khẩu hiệu vắn tắt, nhưng đầy đủ ý nghĩa. Sự chọn lựa đã công khai và rõ ràng.

Kể từ ngày ấy, cùng với vai trò của Giáo hoàng Johhn Paul II, hai người Ba Lan theo Thiên Chúa giáo đã lên tiếng nhân danh những người không có tiếng nói hay không có quyền lên tiếng. Và rồi dân chúng Ba Lan đã chiến thắng và Chúa của người Ba Lan đã hồi phục lại được bộ mặt của Ba Lan.

Đó là bộ mặt con người.

Từ đó, đất nước Ba Lan không còn là quê hương của người cộng sản nữa.


Trích sơ lược cuốn sách của Carl Bernstein và Marco Politi nhan đề His Holiness John Paul II and the Hidden history of our time. (“Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta”, nhà xuất bản Công An nhân dân, dịch giả Nguyễn Bá Long- Trần Quý Thắng.)

Cuốn sách này chính thức được dịch ra tiếng Việt vào năm 2002. Tôi gọi đây là một món quá mà nhà nước cộng sản tặng cho Thiên Chúa giáo. Xin mọi người trong nước tìm đọc. Giá có 80.000 đồng, bằng hai tô phở đặc biệt.

Và mỗi tu sinh Việt Nam nên đọc sách này và cần đưa tài liệu này nằm trong chương trình Tu Đức học.

Phải đọc, phải thảo luận, chia sẻ, chiêm nghiệm (méditaitons) để noi gương may ra mai sau trở thành những mục tử tốt, một linh mục tốt. Đã có bao nhiêu linh mục Việt Nam học được tinh thần phục vụ và hy sinh của một Carolus Josephus Wojtyla khi còn là linh mục?

Tình cảnh người Ba Lan trên nhiều mặt như đời sống vật chất, tinh thần, chính trị, xã hội nhất là mặt tôn giáo gợi nhớ một phần xã hội Việt Nam.

Vì thế, không lạ gì khi Lm Tarnowsky Wiktor Skworc, chủ tịch Ủy ban Truyền giáo của Hội đồng giám mục Ba Lan đã đưa ra nhận xét, “Tình hình của giáo hội tại Việt Nam rất giống với tình hình giáo hội Ba Lan chúng ta trong hai thập niên 1960 và 70 – Đáng tiếc là giờ đây chúng ta thấy những gì đã diễn ra ở Ba Lan lại được tái diễn tại Việt Nam.”

Bài học cho giáo hội Ba Lan cũng là bài học cho giáo hội Việt Nam.

Người ta tự hỏi hàng giáo phẩm Việt Nam đã phản ứng ra sao về vụ tòa Khâm sứ, vụ Thái Hà, vụ Đồng Chiêm, vụ Tam tòa, vụ tổng giám mục Kiệt?

Chỉ có sự im lặng và bất động trả lời.

Người dân có mắt thấy sự im lặng đó là biểu hiện của bệnh liệt kháng phản ứng thần kinh hệ, bệnh tê liệt trí năng bằng những bào chữa khó nghe và chướng tai. Những bào chữa trong khung cảnh một giáo hội giả hình, chật hẹp, thiển cận và tham ô.

Đó là ba cái yếu đuối (faiblesse) nói chung của hàng giáo phẩm từ linh mục đến giám mục. Yếu đuối mà không ý thức được.

Cái hình ảnh về một giáo hội tốt đẹp, đạo hạnh không còn nữa. Cái image là quan trọng lắm. Hiện nay Hội đồng giám mục, các chức sắc trong giáo hội đã làm mất cái image ấy?

Hãy lấy một vài sự kiện xảy ra gần đây để dẫn chứng.
Như mới đây, người ta so sánh ba cái scandal là Tiger Woods, Toyota và giáo hoàng. Mặc dầu ở những lãnh vực khác nhau, những vấn đề khác nhau, nhưng có chung một mẫu số, một câu trả lời: sự chậm trễ trong những lời thú nhận lỗi và xin tha thứ. Tiger Woods đã làm thiệt hại 12 tỉ đô la cho các hãng Nike, Gatorade, Gillette và nhiều hãng khác, Toyota thiệt hại 5 tỉ đô la để bồi thường. Giáo hội tốn 3 tỉ đô la trang trải cho các nạn nhân và các chi phí tòa án. Nhưng Tiger Woods và Toyota khôi phục lại được hình ảnh cũ.

Phần vị giáo hoàng hiện nay, hình ảnh một John Paul II ngày nào không còn nữa .

Hình ảnh giáo hội Việt Nam bây giờ cũng ở mức độ thấp nhất mà không ai lường được hết hậu quả. Những ai còn chút quan tâm và lo lắng cho hình ảnh giáo hội không khỏi đau lòng khi thấy sự bất trung của một số phẩm trật giáo hội.

Nó sẽ trở thành một hồ sơ đen của giáo hội Việt Nam mà một ngày nào đó không che dấu mãi được.

Những con chiên lạc ấy không phải là những giáo dân mà là những mục tử có nhiệm vụ hướng dẫn bầy chiên.

Nó trái ngược với những điều mà hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn gián tiếp kết tội tín hữu trong câu nói úp mở sau:

“Về định luật nhân cách làm người được cấu thành bởi ba yếu tố: một là di truyền, hai là môi trường (gia đình, học đường, cộng đồng xã hội, giáo hội), ba là ý thức và ý chí tự do của mỗi người. Thể theo định luật này, khi cộng đoàn tín hữu lâm tình trạng thiếu ít nhiều sự nhất trí và sự hợp nhất, khi một số tín hữu để thói đời lôi cuốn, để lòng đạo phai mờ dần, các mục tử đều có phần trách nhiệm. Và trách nhiệm ở đây là giáo dục, huấn luyện, trợ lực cho mọi tín hữu luôn chung sức lấy lời Chúa làm nền, làm trụ cột để xây đắp gia cố những ngôi nhà gia đình và cộng đoàn, giáo hội và xã hội ngày càng thêm vững bền.”

(Trích thư Ngày 9-6-2010. Gioan B. Phạm Minh Mẫn.)

(Còn tiếp)

© DCVOnline

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

ĐHY PHẠM MINH MẪN TRẢ LỜI PHÓNG VIÊN JEROME BORUSZEWSKI (BÁO LA CROIX)




1. Ngài có thể nói gì về mối quan hệ giữa Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam và Chính quyền Việt Nam?

Về mối quan hệ với Nhà Nước, nhờ bài học lịch sử thế giới dạy cho biết lối mòn cũ là thái độ và hành vi đối đầu với dây chuyền những hậu quả đau thương tạo nên nền văn hoá sự chết cho mọi dân tộc, tôi cố gắng đi theo con đường mới Công đồng Vatican II đã mở ra, là đối thoại và hợp tác với mọi tổ chức văn hoá và tôn giáo, kinh tế và chính trị trong cộng đồng xã hội, trên cơ sở sự thật và công ích. Cả hai vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđitô XVI đều nhắc lại con đường này cho các Giám mục Việt Nam trong những lần đi Ad Limina trong thập niên đầu của thiên niên kỷ thứ ba.

2. Ngài thấy tương lai của cộng đồng Công Giáo ở Việt Nam sẽ như thế nào? Điều gì làm ngài vững tin? Điều gì làm ngài lo âu?

Điều làm cho tôi vững tin vào tương lai của cộng đồng công giáo tại Việt Nam, là niềm tin Kitô giáo, niềm tin vào Lời Cứu Độ, là Đường dẫn đến Chân Lý tròn đầy, Tình Thương vô biên và Sự Sống dồi dào. Lời được ghi lại trong Sách Thánh, Lời đâm rễ vào trong đời sống Giáo Hội, Lời như hạt giống được gieo vào nền văn hoá của các dân tộc. Lịch sử loài người xác minh chỉ có Lời của Chúa Tạo Thành và Cứu Độ tồn tại qua những đổi thay và thăng trầm trong lịch sử, còn mọi sự khác trong trời đất qua đi, cả các nền văn minh, các chế độ xã hội, những gì do trí khôn hữu hạn của con người nghĩ ra, tạo ra.

Điều làm cho tôi lo âu là: niềm tin đó, đặc biệt ở nơi người trẻ, nếu không có điều kiện thắp sáng bằng cách mở rộng và nâng cao kiến thức đức tin, không được nuôi dưỡng bằng Lời ban sức sống mới, dần dần sẽ phai mờ và suy yếu, méo mó và lệch lạc.

3. Có nhiều vụ tranh chấp đất đai giữa Giáo Hội và Nhà Nước. Tại sao những vụ này mỗi ngày một tăng thêm?

Cơ chế pháp luật Việt Nam sau năm 1975 đã xoá quyền tư hữu của người dân. Tôi không rõ những người làm điều đó có ý gì, xây dựng một xã hội gọi là tiến bộ và công bằng hơn?... Nhưng thực tế cho thấy điều đó mở đường cho nhiều lạm dụng, bất công và bất ổn ngày càng lan rộng trong xã hội. Nguyên nhân? Có lẽ có nhiều. Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hoá cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hoá cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào đồng loại. Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển một xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước.

4. Ngài có đối thoại với chính quyền về những vấn đế nóng bỏng đó không? Nếu có, ngài nghĩ gì về cuộc đối thoại này?

Về vấn đề đất đai, trước tình hình bất công và bất ổn kéo dài rộng khắp, từ trong hệ thống Nhà Nước, cũng như từ phía các Giám mục Việt Nam, đều có đề nghị sửa đổi luật lệ. Cá nhân tôi cũng có gợi ý xem lại luật lệ và đối chiếu với truyền thống văn hoá dân tộc, với hệ thống thế giới toàn cầu hoá hôm nay. Hiện nay, chưa thấy kết quả cụ thể. Lý do chính có lẽ là chưa có sự thống nhất trong hệ thống Nhà Nước. Đức Hồng Y Glemp, giáo chủ Ba Lan, dựa vào lời khuyên của Thánh Phaolô và kinh nghiệm bản thân, có lời nhắc nhở là hãy kiên nhẫn và cầu nguyện. Có lẽ dựa vào lịch sử cứu độ, ông tin rằng việc đổi mới tâm trí con người và liên kết mọi người nên một là công trình của Chúa Thánh Thần, và con người cần cộng tác với tác nhân chính.

5. Ngài có thể nói gì về sự hỗ trợ mà ngài nhận được từ Vatican trong những tranh chấp này?

Vatican nhắc nhở chúng tôi trung thành với đường lối của Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, tránh chạy theo lối mòn cũ, đừng để phe hữu phái tả lôi cuốn đi sai lệch con đường cứu độ của Chúa.

6. Các thành viên Dòng Chúa Cứu Thế của giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở TP.HCM đã nói về vụ việc Bauxite trên Internet. Chánh văn phòng của Toà Tổng Giám Mục Giáo phận Hà Nội đã nói về vụ việc Đồng Chiêm rằng “chúng ta hãy cầu nguyện cho đất nước được thực sự công bằng, dân chủ và văn minh.” Chả lẽ ngài không nghĩ rằng người Công Giáo đã trở thành thành phần đối lập chính trị khi họ bình luận công khai như thế về những vấn đề nhạy cảm và khi họ nói công khai về dân chủ trong một đất nước cộng sản?

Tôi nghĩ rằng mọi người trong trường hợp như câu hỏi đã nêu, đều bị chính quyền coi là chống đối Nhà Nước, còn chính họ thì coi mình là công dân có tự do và trách nhiệm vừa đấu tranh cho quyền làm người, vừa góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hơn...Có một thời, người công giáo đã được dạy làm công dân như vậy. Tấm gương đấu tranh dưới hình thức cường lực và bạo lực của chính quyền hiện nay cũng là bài học cho gia đình và các tổ chức xã hội noi theo.

Ngày nay, giáo huấn của Giáo Hội, đặc biệt qua Đức Bênêđitô XVI, dạy người công giáo trước tiên hãy trở nên người công giáo tốt. Khi là công giáo tốt thì tất nhiên là công dân tốt trong thế giới hôm nay. Như thế, người công giáo cần quên đi bài học cũ, và học cùng hành bài học mới này.

Giới hữu trách đạo và đời, với thiện chí hợp tác xây dựng và phát triển đất nước, đều có trách nhiệm liên đới tạo điều kiện cho mọi công dân học và hành bài học mới này. Một điều kiện tối cần là liên kết gia đình, nhà trường cùng các tổ chức trong xã hội chung sức giáo dục con người trong xã hội hôm nay sống tốt đạo làm người, con người sẽ là công dân tốt trong xã hội ngày mai. Một điều kiện tối cần khác là hệ thống giáo dục trong đất nước không phải chỉ lo truyền đạt kiến thức khoa học kỹ thuật, song trước tiên là truyền đạt vừa kiến thức vừa kỹ năng sống đạo làm người cho thế hệ hôm nay và ngày mai. Và điều kiện tiên quyết là giới hữu trách cần xác định rõ nội dung cùng định hướng của môn học sống đạo làm người, và cần được mọi người thống nhất. Chu toàn nhiệm vụ giáo dục này, đất nước này sẽ xây thêm nhiều nhà trường đồng thời giảm đi con số nhà tù hay trại cải tạo.

Tôi cầu mong người tin theo Chúa, trong mọi hoàn cảnh, kiên vững bước theo Chúa là Đường dẫn đến sự sống dồi dào, theo giáo huấn của Giáo Hội là ánh sáng của chân lý và tình thương. Chân lý và tình thương cứu độ của Chúa, khi được con người đón nhận, sẽ trở thành định hướng và động lực cho sự phát triển toàn diện con người và đất nước. Toàn diện có nghĩa là về mọi phương diện, văn hoá và xã hội, kinh tế và chính trị, thể xác và tinh thần, tâm trí và lòng đạo...

Tôi cầu mong cho mọi người công giáo, trong cầu nguyện cũng như trong hành động, luôn tìm và thi hành ý Chúa. Giáo huấn của Giáo Hội diễn tả ý Chúa mong muốn là mọi người, cả những nạn nhân của bạo lực, thành viên của phe hữu phái tả, bước đi trong ánh sáng chân lý và tình thương, không phải để trở nên tiến bộ hay hợp thời, nhưng để được phát triển toàn diện, để nhân phẩm được toả sáng và được nhìn nhận cùng tôn trọng, để trở nên chứng nhân Tin Mừng cứu độ của Chúa trong thế giới hôm nay.

7. Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương đã nói rằng “những người làm việc với ĐTC cố gắng theo dõi báo chí và lấy tin tức từ Internet để biết được tình hình ở Việt Nam. Nhưng về thông tin, sự vắng bóng đại diện Vatican ở Việt Nam quả là một ‘lỗ hổng’.” Ngài có đồng ý như thế không? Cụ thể là, sự tái lập bang giao giữa Vatican và Việt Nam có thể mang lại những gì cho cộng đồng Công giáo Việt Nam?

Chức năng truyền thông xã hội là giúp mọi người tiếp cận với sự thật tròn đầy, sự thật phản ảnh thực tại cách trung thực. Thực tế cho thấy phương tiện truyền thông thường truyền cho xã hội một nửa sự thật, sự thật một chiều, hoặc sự thật bị cắt xén, bị bóp méo, sao cho có lợi cho người thông tin, cho việc tuyên truyền. Do đó việc đối thoại cùng hợp tác trên cơ sở sự thật và công ích, đòi hỏi các đối tác phải thường xuyên có mặt tại chỗ để lắng nghe từ nhiều phía, để theo dõi diễn biến ở nhiều mặt, để hiểu được lối nói và cách làm tại chỗ có ý nghĩa gì đối với sự thật và công ích. Như thế, sự hiện diện của đại diện Vatican tại Việt Nam sẽ giúp cho Vatican thi hành cách có hiệu quả hơn nhiệm vụ đồng hành với cộng đồng công giáo tại Việt Nam trên con đường đối thoại và hợp tác phát triển toàn diện con người cùng đất nước Việt Nam.

8. Ngài có muốn ĐTC Bênêđictô XVI viếng thăm Việt Nam không? Một cuộc viếng thăm như thế có thể mang lại những đổi thay nào cho Giáo Hội Công Giáo và cho người Công Giáo Việt Nam?

Sau khi Đức Giáo Hoàng viếng thăm Trung Đông, nhiều người mong Ngài đến viếng thăm Việt Nam, để đem lại hoà khí cho vùng đất này, để thắp sáng lên niềm hy vọng cho nhiều người.

Ngày 24.1.2010

Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng Y Tổng Giám mục

Nguồn: WGPSG

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Toà TGM Hà Nội lên án vụ hành hung giáo dân tại Đồng Chiêm


22/01/2010

Canh sat tai Dong Chiem
Lực lượng cảnh sát tại Đồng Chiêm
Bản tin của Thông tấn xã Công giáo CNA số ra hôm 22/1 trích dẫn văn thư của Văn phòng Tổng Giám mục Hà Nội lên án vụ đánh đập ông Nguyễn Hữu Vinh ngày 11/1 tại trạm gác công an ở làng Đồng Chiêm và vụ hành hung tu sĩ Nguyễn Văn Tặng hôm 20/1 tại khu vực. Vẫn theo nguồn tin này, tu sĩ Tặng đã bị công an đánh đập đến mức ông bị bất tỉnh.

Tường trình của linh mục Nguyễn Văn Khải đăng trên website Dongchuacuuthe.net và bản tin của The Straits Times cho biết thầy Antôn Nguyễn Văn Tặng bị một nhóm người chặn đường, cướp túi xách, rồi xông vào đánh, khi ông đang trên đường dẫn một đoàn linh mục Hà Nội vào thăm Đồng Chiêm lúc 10 giờ sáng ngày 20/1. Dân địa phương cho hay họ nhận dạng những người tấn công là công an ở Hà Nội. Hình ảnh nạn nhân đầm đìa máu được đăng tải trên nhiều trang mạng.

Phát biểu với Ban Việt Ngữ đài VOA, linh mục Nguyễn Văn Hữu thuộc giáo xứ Đồng Chiêm, cho biết:

Thay Anton Nguyen Van Tang
Hình thầy Antôn Nguyễn Văn Tặng bị đánh trọng thương được đăng tải trên nhiều trang mạng
"Người ta yêu cầu tôi ra bảo lãnh. Tôi có ra nói chuyện với các ông ấy. Tôi bảo rằng 'Đây là ngừơi quen của tôi, xin các ông cho họ vào.' Thế nhưng họ nói rằng đây là vùng cấm, không ai được vào. Về mức độ thương tích, tôi thấy bảo là đánh bất tỉnh. Người đi đừơng nói rằng có một toán thanh niên mặc thừơng phục trên xe ô tô nhảy xuống đánh thầy Tặng bị trọng thương, phải đưa về cấp cứu ở trên nhà xứ Nghĩa Ải. Sơ cứu xong họ chở thầy đi bệnh viện Việt Đức luôn."


Văn thư của Toà Tổng Giám mục Hà Nội cũng cho hay Đồng Chiêm bị công an bao vây, bất cứ ai bên ngoài vào đều bị công an ngăn chặn. Toà Tổng Giám mục Hà Nội cũng yêu cầu giáo dân các nơi cầu nguyện cho giáo xứ Đồng Chiêm trong giai đoạn khó khăn này.

Nguồn: CNA, Dongchuacuuthe.net, The Straits Times

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Của cõi Trời và Người từ đêm Giáng Sinh

“Vương quốc của cõi Trời cũng giống như chất men mà người phụ nữ kia lấy trộn vào đấu bột làm cho tất cả phải bừng dậy lên.” (Luke 13:20-21)

Glenn Tinder, trong một luận đề mang tên, "Can We Be Good Without God?" (Chúng ta có thể tốt lành nếu không có Thượng đế?) đăng trong tạp chí Atlantic ở Hoa Kỳ cách đây hơn mười ba năm, đã đặt một câu hỏi lớn về giá trị của xã hội thế giới Tây Phương.  Tinder lý luận rằng con người Tây Phương càng ngày càng quá hãnh diện về chính mình để rồi tách rời khỏi ý thức Thượng đế trong tiến trình hiện hữu cá nhân. Ông nói rằng cái vinh quang mà nhân loại đang có được là từ Thượng đế.  Sự vinh hiển được làm người, như là một mầu nhiệm quý báu - như trong kinh Phật (Pháp Hoa) nói đến - phải được tự mỗi cá nhân xác nhận và khơi sáng trong sự chiêm nghiệm về Thượng đế và sứ mệnh của cuộc đời.  Giá trị tối thượng của con người nằm trong tương lai khi con người tìm ra và trở về với Thượng đế. Ý thức được giá trị của chính mình nằm trong tương lai là định mệnh của nhân loại.  Thượng đế, do đó, là nơi Trở về - một thể tính Chân thức vĩnh hằng - nơi có sự sống đời đời, không bi vọng.


Theo Tinder, chúng ta phải biết phân biệt giữa định mệnh (destiny) và số phận (fate). Số phận chỉ nói lên được bản chất đầy thảm họa và đau khổ của hiện hữu và nhấn mạnh đến tính chất tạm thời và vô thường của cuộc sống. Trong khi đó, định mệnh là một tiến trình có chủ đích mà sự sống là chuyến tàu của tâm thức nhằm mở tung cánh cửa mang ánh sáng đến cho con người giác ngộ được bản lai diện mục của chính mình. Ðịnh mệnh là gốc rễ của số phận. Ðịnh mệnh là chủ nhân, vừa là ân huệ, và cũng là tác giả của vở bi kịch của đời sống tâm linh.  Con người có một ngu xuẩn lớn: phí phạm số vốn của định mệnh khi hoang phí cuộc đời vào sự trốn tránh chính mình trong sự say sưa với số phận.  Ta tự đánh mất sự sống bằng cách đóng vai kẻ cắp vô ý thức đối với giá trị sinh hữu mà định mệnh giao phó để rồi chấp nhận một số phận vô lý, tầm thường, và nhỏ bé.

Những gì mà Tinder nói thể hiện được tinh hoa của nội dung giáo lý Phật giáo và Thiên Chúa giáo cả hàng ngàn năm nay.  Trong truyền thống của tam giáo Abraham (Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo) thì Adam, sau khi được ân tặng món quà tự do ý chí (free-will), đã trở nên hãnh diện quá đáng về chính mình.  Adam là ảnh tượng và là khuynh hướng thú vật tự nhiên của con người.  Khi thiếu sự khiêm nhường và hiểu biết cần thiết, mỗi Adam trong từng cá nhân tự cho mình là có khả năng làm chủ cuộc đời và giá trị liên hệ.  Từ đó, vì thái độ hãnh tiến, hắn đánh mất những kinh nghiệm tốt lành và tâm thức hướng thượng mà con người vốn có.  Hắn, vì thế, không còn bất tử.  Vì khi cái chết đã trở thành tối hậu - nhưng vô nghĩa - chúng ta không còn suy tưởng về lý do và giá trị huyền nhiệm của cuộc đời.  Và rốt cuộc, đời sống trần gian trở nên là cái chỉ tiêu độc tôn mà hắn theo đuổi.  Với cuộc đời này làm cứu cánh duy nhất và cao nhất, cá nhân trở nên nô lệ cho xúc động và tình cảm tiêu cực. Con người với tất cả những bất an và vọng tâm, chỉ còn có biết ái dục ngã mạn, tham vọng vật chất, và khoái lạc thân xác - mà tất cả cọng lại là một chiếc còng lớn, vô hình giam hãm hắn vào trong một nhà tù khốn khổ.

Khi chỉ còn biết đến trần gian và cuộc đời thân xác, con người hôm nay có cảm tưởng rằng mình đã thoát khỏi võng lưới thần quyền của tôn giáo quá khứ - và được tự do.  Tuy nhiên, tự do ở đây chỉ có đồng nghĩa với những chọn lựa giới hạn trong hiện tại với đời sống vật thể, không còn gì hơn và khác.  Trong điều kiện chọn lựa giới hạn này, hắn bị ngự trị bởi ham muốn vật chất và ái dục vô thường. Và rồi tất cả khả năng và ý lực tâm linh chỉ để phục vụ cho một chu vi hạn hẹp của cái ta nhỏ bé và chỉ để gia tăng cái gia vị tầm thường của cơ sự làm người bằng khoái lạc của cái ta.  Nhân loại có thể được thoát ra khỏi quá khứ, nhưng lại bị đi vào một nô lệ tính bi thảm và tiêu cực hơn: sự độc tài chuyên chế của dục vọng và ngã mạn. 

Khi ý thức hướng thượng và siêu nhiên không còn, con người mang một tham vọng khác: chủ nghĩa "nhân chủ".  Nhân chủ chỉ có biết đến con người khi mà chân lý đầu tiên và cuối cùng của nó là nhân loại.  Từ Protagoras, "Con người là thước đo cho tất cả" đến Marx, "Gốc rễ của con người là con người chính nó", hành trình của tham vọng nhân chủ hoàn tất bằng một thất bại hiển nhiên trong bản tính văn minh vật chất Tây phương, và ngày nay, cả thế giới.  Nhân chủ phải thất bại vì nó là một con bạc gian lận và trá hình cho sự hãnh diện quá đáng về khả năng tri kiến thực nghiệm, chấp nhận khuyết điểm lịch sử để xem sai lầm và thoái hóa như là biện minh cho tự do làm người.  Nhân chủ phủ nhận năng thức tâm tưởng nguyên thuỷ của cá nhân là hướng thượng và giải thoát - một ý chí vật lộn và tranh đấu với chính mình để hiện thực hóa Thượng đế tính, hay tâm Phật, vùi sâu trong mỗi cá nhân.  Con người có thể phủ nhận một hình ảnh Thượng đế ngoại thân, như là một huyền thoại văn hóa, nhưng đã trở nên vô ý thức khi cho rằng không có một thực tính huyền nhiệm nào ngoài cái ta trống rỗng, trơ trọi và bất an này.  Thượng Ðế, hay là Chân thức, cho dù không thể chứng minh bằng thực nghiệm, cũng là một chủ thể tối cần cho tâm thức, như Kant đã quan niệm, khi mà mệnh lệnh đạo lý của hiện hữu đòi hỏi trí năng phải giả định (postulate) đến một Siêu thể.  Khi từ chối khả thể huyền nhiệm của con người, chủ nghĩa nhân chủ là một chiếc chổi thô lậu nhằm cố quét bỏ những dằn vặt sinh hiện vốn tiềm tàng trong mỗi cá nhân.  Nhân chủ từ chối lối thoát ra khỏi số phận bần kiệt của kiếp người bằng cách gia tăng cường độ bi đát để cho con người thưởng thức cái ảo giác tự do của ngã kiến và tham vọng độc tôn.  Nhưng cho dù vui chơi với chính ta trong tất cả những náo nhiệt tạm thời và vô vọng, bất định hướng, con người có lúc cũng phải mệt mỏi, để rồi mỗi cá nhân lại cũng phải trở về với chính mình, đối diện với khoảng trống tâm linh, và nhìn lại cái ta này thêm lần nữa.

***


Cách đây 2010 năm, một hài nhi mang tên Jesus ra đời.  Trong đêm đông lạnh giá, trong hang đá quạnh hiu, chỉ có làn hơi ấm của thú vật và ngôi sao sáng trên trời. Ðây là sự ra đời của tính Chúa, hay là Phật tính, trong mỗi chúng ta - giữa cái hoang dã lạnh lùng của cuộc sống thân xác và thế gian. Ðêm đó là đêm im lặng. Ðêm ấy là lúc mà con người phải trở lại chính mình. Ðêm ấy là lúc cái Thánh tính của Chân thức tiềm tàng phải được đánh thức. Ðó là lúc con người đang làm đúng việc cho cơ sự làm người: khai sáng cái tinh hoa nhân tính bị vùi quên bởi cuộc đời và thân xác.  Chúa Jesus giáng sinh, cũng như Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh, là hai tia ánh sáng biểu tượng nhằm nhắc nhở chúng sinh về một con đường khác.  Cả hai đều là tín hiệu của một cõi, của hai tiếng chuông đánh thức nhắm về một nhân loại đang ngủ quên trong vô minh và phiền não.

Thế nhưng, ở Tây phương ngày nay, chúng sinh đánh mất bàn thờ bên ngoài, và từ chối cái tinh hoa của tín hiệu Giáng sinh bên trong nội tâm.  Càng đến ngày lễ Giáng sinh, con người càng say sưa vật lộn với nhu cầu mua sắm, tiệc tùng để phục vụ thế gian và cái ta, càng đắm chìm sâu vào chiếc áo thế gian sặc sỡ, để rồi sáng hôm sau Giáng Sinh, khoảng trống tâm linh của mỗi chính họ lại trở về.  Cõi trời đã không còn hiện diện trên thế gian khi những tín hiệu ánh sáng siêu việt không còn là chất men để đánh thức đấu bột tinh thần.  Tất cả chúng sinh vẫn còn đang ngủ say trong giấc mơ làm người giới hạn và chật hẹp.  Đâu còn là những hồi chuông thanh cao trong cõi thế gian náo nhiệt?

Khi Thượng đế kêu người, như tiếng chuông vang lên trong tâm thức, thì hãy đừng trả lời như Adam đã, "Thưa, tôi nghe, nhưng tôi sợ lắm, vì tôi đang trần truồng.  Và tôi phải trốn".  Vì khi không có đời sống tâm linh thì dù có mặc bao nhiêu chiếc áo thế gian bạn vẫn trần truồng trong mắt của Thượng đế.  Hãy ý thức được ý nghĩa của Giáng sinh trong chiếc áo tình thương, trong chiếc áo tri thức sâu thẳm, trong tấm lòng nhân ái. Ðể biết chính mình. Ðể được lớn lên. OM, AMEN.

Nguyễn Hữu Liêm

© Đàn Chim Việt Online

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Cuộc biểu tình hôm Chúa Nhật của giáo phận Vinh gây tiếng vang rộng rãi trên thế giới

Tin tức về cuộc biểu tình hôm Chúa Nhật của giáo phận Vinh đã nhanh chóng thu hút sự chú ý rộng rãi của giới truyền thông trên toàn thế giới.

Tại Anh, Ekklesia trích đăng bản tin của Independent Catholic News với tựa thật lớn: "Half a million Catholics denounce the brutal regime of Communists in Vietnam" - Nửa triệu người Công Giáo tố cáo chế độ bạo tàn của cộng sản.

Tại Hoa Kỳ hệ thống truyền thông Catholic Network chạy hàng tít: "They Beat our Priests in Vietnam" - Họ Đánh các linh mục chúng ta tại Việt Nam. Chữ Beat (Đánh) được viết Hoa mô tả sự kinh ngạc và phẫn uất tột độ của người Công Giáo Hoa Kỳ.

Người Mỹ đặc biệt nhạy cảm với vụ giáo xứ Tam Tòa vì nhà thờ này bị trúng bom Mỹ. Các cơ quan Hoa Kỳ liên tục tiếp cận với các nguồn tin từ Việt Nam để xem có thể giúp đỡ gì không. Trong khi đó, Catholic Network bày tỏ sự phẫn nộ với việc một nhà thờ Công Giáo lại bị tịch thu để làm thành “đài tưởng niệm Tội Ác Đế Quốc Mỹ” 

Trong khi đó, nhật báo tài chính hàng đầu của Mỹ là tờ The Wall Stret Journal chạy hàng tít lớn - Breaking news: Hundreds of thousands Catholics to protest over brutal police beatings and arrests - Hàng trăm ngàn người Công Giáo biểu tình chống lại sự đánh đập và những vụ bắt bớ tàn bạo của cảnh sát.

Nguyên văn bài báo trên tờ The Wall Stret Journal như sau:

Hôm 26/7/2009, trong một biến cố chưa từng có tại Việt Nam, giáo phận Vinh đã tổ chức những cuộc tuần hành chống lại việc công an Việt Nam đánh đập dã man và bắt đi các giáo dân giáo xứ Tam Tòa. Giáo xứ Tam Tòa đã bị bom làm sập trong chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh, nhà cầm quyền lại tịch thu nhà thờ để làm đài tưởng niệm Tội Ác Đế Quốc Mỹ. 

Gần đây, các tín hữu đã làm một bàn thờ tạm để cử hành thánh lễ. Trong cuộc tấn công bạo lực của công an, nhiều người đã bị đánh đập dã man bằng gậy gộc và roi điện. Nhiều người đã bị bắt đi trong đó có 7 người vẫn còn bị giam cầm và sắp sửa bị kết án về các tội danh "phản cách mạng".

Con số giáo dân tham gia biểu tình lên đến hàng trăm ngàn người dưới sự hướng dẫn của 170 linh mục và 420 nữ tu. Đụng độ giữa giáo dân và công an Việt Nam đã được ghi nhận trong đó có 2 linh mục bị thương nghiêm trọng.

Các cuộc biểu tình và cầu nguyện đang lan rộng tại Việt Nam nơi các thành phố lớn để ủng hộ cho giáo xứ Tam Tòa.

Nguồn: Vietcatholic

BÀI GIẢNG TẠI ĐỀN ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP SÀI GÒN TRONG LỄ CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH TẠI TAM TOÀ NGÀY 27/7/2009


Kính thưa cộng đoàn,

Chúng ta hiệp thông với Hội Thánh của Chúa Kitô tại Giáo phận Vinh và nhất là tại Giáo xứ Tam Toà – Quảng Bình, mà sống nỗi ưu tư của dân tộc mình. Và như anh chị em đã thấy trong phần trước thánh lễ, Cha Uy đã cho chúng ta một cái nhìn chung chung về những gì đã diễn ra, đang diễn ra, và nhất là về tâm tình hiệp thông của Hội Thánh Chúa, cách riêng là của Hội Thánh Chúa tại Vinh, với anh chị em giáo xứ Tam Toà, để tha thiết dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện không chỉ là xin Chúa xoa dịu những nỗi đau, những cảnh bất công đang xảy ra, mà còn xa hơn nữa, là lời cầu nguyện để xin cho tình yêu, xin cho hoà bình, xin cho sự thật, xin cho công lý, được nở hoa trên quê hương đất nước chúng ta.

Có thể có rất nhiều điều để nói về những tâm tình của chúng ta trong những ngày cầu nguyện đặc biệt này. Có thể có rất nhiều điều để nói về những tâm tình cách riêng là của những anh chị em tín hữu của Chúa Kitô tại Vinh trong những ngày này. Nhưng trong bài chia sẻ này, tôi chỉ xin mời cộng đoàn suy nghĩ hai điểm.

Chúng ta hiệp thông với Gíao phận Vinh trong tâm tình nào, trong xác tín nào? Chúng ta chia sẻ nỗi ưu tư gì của Hội Thánh của Chúa Kitô với dân tộc mình tại Vinh, tại Tam Toà, tại Quảng Bình bây giờ, kính thưa anh chị em?

Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã kết thúc lâu lắm rồi. Rất nhiều người trong số các bạn trẻ đang ngồi đây sinh ra sau khi chiến tranh đã kết thúc. Nhưng mà ngay cả những bạn trẻ ấy chắc cũng đã không ít lần kinh nghiệm về sự tàn ác và sự không thể chấp nhận được của chiến tranh. Quả thực, chiến tranh là tàn ác và không thể chấp nhận.

Nhưng sau mấy chục năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, ngày nay, chúng ta lại thấm thía một kinh nghiệm khác, kinh nghiệm rằng: khi một quốc gia phải tái thiết sau chiến tranh, thì lúc đó, những cuồng vọng và khí lực của chiến tranh trở nên bất lực. Phải có một sức mạnh mới. Và đó chính là sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của sự hiểu biết và của lòng trắc ẩn đối với con người. Đó là sức mạnh của sự vị tha và sự hợp tác. Đó là động lực sáng tạo của một ý chí muốn sống và muốn kiến thiết, của một ý chí muốn tha thứ và muốn hoà giải. Sử dụng những cuồng vọng của chiến tranh để xây dựng đất nước? Thất bại. Sử dụng những khí lực chiến tranh để xây dựng đất nước? Thất bại. Chỉ có một con đường thôi: con đường của tình yêu mến, của sự tha thứ, của sự nâng niu sự sống.

Nhà thờ vốn là nơi phục vụ tình yêu thương, hoà giải và sự hồi sinh. Biến nhà thờ thành một tượng đài của lòng thù hận, là một tội ác, là một sự xúc phạm lớn lao đối với niềm tin tôn giáo của chúng ta. Có thể lưu giữ nơi nhà thờ Tam Toà những di tích nhắc nhở chúng ta về tính chất tàn ác không thể chấp nhận được của chiến tranh. Nhưng nếu chỉ như thế thôi, thì không thể chấp nhận. Sứ điệp quan trọng hơn, và cũng là sứ điệp chính yếu, mà nhà thờ Tam Toà đem lại cho chúng ta và cho thế hệ tương lai, phải là sứ điệp của tình yêu, của sự hoà giải và của sự phục sinh, chứ không phải sứ điệp của lòng hận thù.

Những sự kiện bi đát đang diễn ra tại Tam Toà, cho thấy: khi người ta chỉ nhấn mạnh lòng thù hận, thì không thể có hoà bình đích thực. Nhấn mạnh lòng thù hận kẻ khác, thường khi, là đang tra tay xây dựng nền văn minh sự chết. Chúng ta đã sống quá lâu trong một bầu khí xã hội đề cao lòng căm thù. Và một di chứng nặng nề của đường lối xây dựng xã hội dựa trên lòng căm thù ấy, chính là sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức trong xã hội. Con người Việt Nam vốn hiền hoà thuận thảo, nay phải đối diện, rất thường khi, với một tình trạng bạo lực kinh khủng từ ngay trong gia đình, huống nữa là trong tương quan xã hội. Tại sao vậy? Sự quá nhấn mạnh lòng căm thù, thậm chí đến độ trong một thời gian dài, lòng căm thù giai cấp đã trở thành một thước đo để người ta đánh giá nhau, đã đẩy chúng ta đến những bi kịch bạo lực như chúng ta đang phải thường xuyên chứng kiến trong xã hội chúng ta. Cần phải chấm dứt việc lấy lòng căm thù làm tiêu chuẩn và nền tảng xây dựng xã hội. Đã quá dài rồi khoảng thời gian mà trong đó, chúng ta đề cao bạo lực.

Vì thế, hơn lúc nào hết, ngày nay, việc đề cao Tin Mừng về lòng yêu thương, sự hoà giải và sự hồi sinh, là một trong những đòi hỏi khẩn thiết của xã hội chúng ta và của sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh. Thế mà, ngay trong hoàn cảnh cấp thiết này, người ta vẫn muốn biến nhà thờ, là nơi phục vụ tình yêu thương, hoà giải và hồi sinh, thành tượng đài của lòng căm thù.

Anh chị em tín hữu Giáo phận Vinh, trong ý thức về tính cách khẩn thiết của sứ mạng loan báo Tin Mừng tình thương, của sứ mạng xây dựng nền văn minh tình thương, của sứ mạng làm chứng cho sức mạnh của tình yêu cứu độ, đã muốn có một ngôi nhà thờ mới được xây trên nền của ngôi nhà thờ cũ, mà không xoá bỏ di tích nhắc nhở tính cách tàn ác của chiến tranh. Đó là ước muốn công bố một sứ điệp toàn diện về hoà bình, nhấn mạnh tính cách tích cực của tình yêu thương mà vẫn không quên tính cách tàn ác của chiến tranh và bạo lực. Nếu không ý thức về điều này, chúng ta có thể bị lừa. Báo chí mấy ngày nay nói đến chuyện như thể người ta muốn xoá đi cái di tích của chiến tranh. Thậm chí có kẻ nói rằng mấy giáo dân ở Giáo phận Vinh muốn mọi người quên đi tội ác của đế quốc Mỹ. Nói như thế là bất công đối với anh chị em. Đối với anh chị em ở Giáo phận Vinh, cái quan trọng là một sứ điệp về tình yêu mến, một sứ điệp về sự hoà giải, một sứ điệp về sự phục sinh cần phải được công bố trên nền của ngôi nhà thờ ấy.

Như thế là đang có hai ước muốn và chọn lựa trái ngược nhau tại Tam Toà: ước muốn đề cao lòng hận thù và ước muốn truyền tải cho hậu thế một sứ điệp của tình yêu thương và khát vọng hồi sinh. Và có lẽ sự đối nghịch của hai ước muốn đó đã là một trong những nguyên nhân chính gây nên những thảm cảnh đau thương cho anh chị em tín hữu tại Tam Toà.

Chúa Giêsu đã chịu chết để thực hiện Tin Mừng của tình thương yêu, tha thứ và phục sinh. Anh chị em tín hữu tại Tam Toà đang được tham dự đặc biệt vào công trình đó của Chúa. Và những lời Chúa Giêsu nói trong bài tin mừng mà chúng ta vừa nghe, cũng là những lời nói với và nói cho anh chị em tín hữu Giáo phận Vinh hôm nay: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em.Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”

Hiệp thông với nhiều nơi và với nhau cầu nguyện cho giáo xứ Tam Toà hôm nay, là chúng ta cầu nguyện cho ước vọng cao cả và tốt đẹp về tình yêu mến được trở thành hiện thực. Đó là một trong những điểm nhấn chính yếu của các cuộc cầu nguyện được tổ chức trong những ngày này. Xin cho chính quyền Tỉnh Quảng Bình nói riêng và của cả Nước nói chung, biết tôn trọng ước nguyện tốt lành đó của tất cả chúng ta.

Cầu nguyện cho giáo xứ Tam Toà hôm nay, cũng chính là chúng ta đang khẳng định lập trường về một đường hướng xây dựng xã hội. Trong tư thế là Hội Thánh của Chúa Kitô đi giữa lòng dân tộc mình, mang lấy khát vọng của dân tộc mình, chúng ta muốn bày tỏ một lập trường, muốn chọn lựa một lập trường về đường hướng xây dựng xã hội, dựa trên tình yêu, đề cao sự sống và sự hoà giải. Sẽ không thể có hoà bình và sự thịnh vượng đích thực, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh lòng căm thù. Cho nên, cầu nguyện cho Tam Toà hôm nay cũng là một cách thức để chúng ta bày tỏ chọn lựa đó của chúng ta. Chúng ta chọn lựa một đường hướng xây dựng xã hội nhấn mạnh trên tình yêu, trên sự tha thứ, trên sự hội sinh, trên sự sống, chứ không phải là trên lòng hận thù.

Đó là điểm thứ nhất mà tôi muốn mời cộng đoàn suy niệm trong thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho Tam Toà hôm nay.

Điểm thứ hai có liên quan trực tiếp hơn với những gì đang diễn ra tại Tam Toà. Bằng việc tập trung trong những buổi cầu nguyện như thế này, chúng ta muốn truyền đi một sứ điệp: chúng ta không thể chấp nhận việc tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn bất nhân để đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến trong xã hội.

Có một kiểu chuyên chế tuy đã phần nào lui về quá khứ xét theo danh nghĩa, nhưng vẫn còn rơi rớt trong thực tế, và nhất là vẫn còn để lại những di chứng nặng nề trong đời sống xã hội chúng ta. Trong số những di chứng ấy, có nạn độc đoán, nạn ém nhẹm hoặc bóp méo sự thật, nạn đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến bằng những thủ đoạn bất nhân và tàn độc. Những di chứng ấy, cộng thêm tệ nạn tham nhũng và thói tự tư tự lợi, đã khiến cho xã hội chúng ta xuống cấp trầm trọng. Trong những gì liên quan đến tôn giáo, nhất là liên quan đến Kitô giáo, những di chứng ấy lại càng thêm nặng nề do thái độ nghi kỵ đầy thành kiến đối với Hội Thánh và các Kitô hữu.

Trong một thời gian khá dài, và có trường hợp còn đang trong hiện tại, có những người đã miệt mài trong việc làm cho thái độ nghi kỵ đầy thành kiến ấy càng ngày càng trầm trọng. Mới chưa đầy một năm trước đây, cả một hệ thống truyền thông đã toa rập với vài người có quyền lực trong chính quyền thành phố Hà Nội để đánh hội đồng Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, khi họ gian xảo cắt xén lời phát biểu của ngài để gây nên một cơn lên đồng tập thể của nhiều thành phần dân chúng, hòng tạo ra sự hận thù giữa các thành phần xã hội. Biết bao bài báo và chương trình phát thanh, truyền hình, đã không ngần ngại mạ lỵ và vu khống các linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà suốt một thời gian dài. Không ai có thể chắc chắn rằng những cách làm bất minh đó không tái diễn trong sự kiện Tam Toà hiện nay.

Trái lại, như những gì vừa diễn ra tại Đồng Hới sáng nay (với 2 linh mục bị những người được trang bị dùi cui đả thương giữa thanh thiên bạch nhật, phải đưa vào trạm y tế chữa trị), chúng ta biết rằng người ta chẳng ngại áp dụng các biện pháp đầy chất bạo lực và gây thù hận, để cư xử với những tín hữu Công Giáo.

Thực ra, hành xử như thế cũng chẳng khác gì việc tấn công người khác bằng một thanh sắt nóng bỏng: một khi cầm miếng kim loại nóng bỏng kia lên, bàn tay của anh chắc chắn sẽ bị thiêu huỷ ngay trong chính lúc anh thiêu huỷ người khác. Thù ghét chính là hạt giống sự chết trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự chết cho người khác. Tình yêu là hạt giống sự sống trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự thiện cho người khác.

Chúng ta hiệp thông với anh chị em tại Giáo phận Vinh để nói rằng chúng ta không thể chấp nhận việc người ta tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn bất nhân để đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến về việc xây dựng xã hội.

Một đàng, chúng ta biết rằng có lẽ những lời thánh Phaolô viết cho anh em tín hữu tại Côrintô mà chúng ta vừa nghe trong bài thánh thư, cũng là lời được anh chị em tại Vinh nói với chúng ta và cho chúng ta: “Nhưng kho tàng Tin Mừng, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi”.

Đàng khác, theo giáo huấn của Hội Thánh, chúng ta xác tín rằng: “Bạo lực là giải pháp không thích đáng. Với xác tín về niềm tin vào Đức Kitô và với ý thức về sứ mạng của mình, Giáo Hội tuyên bố: bạo lực là tội ác, không thể chấp nhận bạo lực làm giải pháp cho các vấn đề; bạo lực là điều không xứng đáng với con người. Bạo lực là sự dối trá, vì nó đi ngược lại sự thật của đức tin và sự thật của nhân loại. Bạo lực phá huỷ tất cả những gì nó hô hào bảo vệ, từ phẩm giá đến sự sống và tự do của con người”.

Đó là lập trường của Giáo Hội. Đó là lập trường của chúng ta.

Bằng việc tham dự những giờ cầu nguyện như thế này, chúng ta công bố với thế giới cái lập trường căn bản đó: chúng ta không chấp nhận việc tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn tàn ác để dập tắt những ý kiến khác biệt, nhất là những ý kiến liên quan đến việc xây dựng xã hội. Ví dụ những ý kiến mà anh chị em giáo dân ở Vinh đang bày tỏ qua khát vọng được xây dựng trên nền nhà thờ Tam Toà cũ một ngôi thánh đường mới: ý kiến về việc chọn lựa rằng chúng ta xây dựng xã hội của chúng ta không phải trên lòng căm thù, không phải trên bạo lực, cho dù là bạo lực cách mạng, không phải là trên lòng căm thù, cho dù là lòng căm thù giai cấp. Đã quá đủ rồi cái chọn lựa đó. Chọn lựa đó đã tỏ ra thất bại rồi, thưa anh chị em. Và chúng ta bày tỏ một khát vọng được xây dựng xã hội của chúng ta trên một chọn lựa mới, trên một đường hướng mới dựa trên tình yêu, dựa trên sự tha thứ, dựa trên sự tôn trọng sự sống. Và với việc cầu nguyện này, chúng ta hiệp thông cùng với toàn thể Giáo phận Vinh không phải chỉ trong đau thương hiện tại, mà còn là trong xác tín, trong chọn lựa: chọn lựa một cách thức hiện diện và công bố Tin Mừng, chọn lựa việc sẵn sàng chịu mọi bách hại để công bố sứ điệp của Tin Mừng tình thương, hoà giải và sự sống.

Nguyện xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thương đoàn con cái của Mẹ, là tất cả chúng ta và nhất là những anh chị em tín hữu chúng ta tại Quảng Bình. Nguyện xin Chúa Cứu Thế gìn giữ chúng ta trong sự bình an và ơn cứu độ của Người. Xin cho chúng ta đừng bao giờ thoả hiệp với một đường lối xây dựng cuộc sống bằng cách khơi sâu lòng hận thù và sử dụng bạo lực, nhưng luôn luôn biết hiến mình phục vụ tình yêu thương, hoà giải và hồi sinh.

Chớ gì cái tham vọng quái gở muốn biến một ngôi nhà thờ thành chứng tích khơi dậy lòng căm thù, bị gạt sang một bên, để cho khát vọng về tình yêu, khát vọng về hoà giải, khát vọng về sự sống được nở hoa. Đó chính là lời cầu nguyện tha thiết của chúng ta, và đó cũng là lời tuyên xưng đức tin đầy xác tín của tất cả cộng đồng chúng ta. Amen.

Lm Nguyễn Thể Hiện dcct

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Thư của H.Y Phạm Minh Mẫn gửi LM Nguyễn Thái Hợp

Cha Hợp thân mến,

Đọc bài "Xin chỉ cho" của Luật sư Bích, tôi thấy thoáng qua có một kinh nghiệm cần phải học hỏi. Nhờ Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình (CLB NVB) nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn.

1. Năm 1954, trước Vatican II, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với Nhà Nước Cộng sản, gia đình công giáo không gửi con em đến trường Nhà Nước. 

2. Năm 1975, sau Vatican II, GH.CG phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, dưỡng lão viện và bệnh viện công giáo cho Nhà Nước đó, gia đình công giáo gửi con em đến trường Nhà Nước, mọi người đến bệnh viện Nhà Nước chữa bệnh... 

3. Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?

4. Trong tinh thần hợp tác, 16 dòng tu theo lời tôi kêu gọi gửi gần 100 thành viên tình nguyện đi phục vụ bệnh nhân SIDA tại Trung Tâm Trọng điểm mấy năm nay. Các vị lãnh đạo TP cho tôi biết lúc đầu chỉ có lối 20% trong số hơn 30.000 bạn trẻ cai nghiện trong lối 20 Trung Tâm là nhiễm HIV, sau những năm cai nghiện thì tỷ lệ nhiễm HIV là trên 60%, có vị nói là trên 80%. 

5. Báo chí cũng thông tin những ngành liên hệ với y tế thì toa rập nhau trấn lột bệnh nhân…Hình như các ngành, thay vì biến giai cấp vô sản thành người đầy tớ phục vụ nhân dân theo như lời Bác dạy, thì thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. 

Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ. 

6. Hợp tác với cách quản lý giáo dục và y tế xem là bệnh hoạn như thế thì được gì, mất gì? Sự hợp tác đó có góp phần lành mạnh hoá nền giáo dục và y tế? Hay tạo điều kiện cho cơn bệnh thêm trầm trọng?

7. CLB.NVB nghiên cứu xem coi thái độ bất hợp tác và thái độ hợp tác của Giáo Hội trong lịch sử 50 năm qua, mỗi thái độ có những lợi và hại nào, đối chiếu cái lợi và cái hại của hai thái độ, và đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc. Có được thế thì sự phát triển đất nước và con người mới vững bền.

Chân thành cám ơn cha Hợp và các thành viên Câu Lạc Bộ NVB.

Thành phố Hồ Chí Minh, 22.7.2007

Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng Y Tổng Giám mục