Thứ Năm, 24 tháng 6, 2010

mộng bình thường 1. ngủ đi mộng vẫn thất thường thất-tha-thất-thểu-thất-luôn-mùa-màng ngủ đi mộng đã tan hoang hoang-vu-hoang-địa-hoang-đàng-hoang-liêu... 2. ngủ đi mộng đã tiêu điều điều-tra-điều-án-thêm-điều-tra-viên 3. ngủ đi mộng vã mùi tiền trăm con chim mộng nổi điên đầu giường... 4. ngủ đi mộng đã cởi truồng... đỗ trung quân

Phạm Thiên Thơ – Đâu là sách lược tạo nên dân cường nước mạnh

Đức Trần Hưng Ðạo trước khi qua đời đã đáp lời vấn hỏi kế sách chống quân Nguyên và xây dựng đất nước có đoạn kết ngắn ngủi với vua Trần Anh Tông như sau:

“Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được. Phải khoan sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hay hơn.[1]

Lời chung kết trối trăn súc tích là một bài học giữ nước cực kỳ quý báu, cho dù các binh gia lừng danh thời xưa như Tôn Vũ Tử, Ngô Khởi… cũng không có lời nào hay hơn. Hưng Đạo Vương cô đọng toàn bộ sách lược giữ nước thần kỳ siêu xuất, vẫn còn tiếng vọng giá trị đến hôm nay. Thế hệ chúng ta cần tiếp tục khai triển lời nói của một danh tướng từng đánh bại đoàn quân viễn chinh xâm lược Mông Cổ mà vó ngựa  đã từng làm bá chủ thống trị gần hết lục địa Á, Âu để làm bài học.

Chính trị góp phần viết nên trang sử mới, hay ngược lại học lịch sử để đi làm chính trị, là liên hệ tất yếu giữa quá khứ và tương lai. Khi lịch sử trở thành bài học quí giá cho những hoạt động chính trị thì đó chính là sự tiếp nối khai triển những tinh hoa, khơi dòng lịch sử chính trị vào thời đại mới. Trí tuệ kết tinh của nhân loại nhiều ngàn năm đã viết nên bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Đó là ánh sáng soi rọi vào đời sống con người trên nhiều phần đất ngày hôm nay còn tối tăm tù hãm, xuyên suốt mọi thành trì hủ lậu của các chế độ độc tài từ phát xít đến cộng sản mang dáng dấp tư tưởng lệch lạc, lỗi thời nơi Hitler, Lenin, Stalin, đến Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và mọi lãnh tụ độc tài khác trên thế giới đã và đang được một số ít người u mê suy tôn ca tụng. Thần thánh hóa lãnh tụ là một tư tưởng sai lầm, bệnh hoạn, vì khi tôn thờ lãnh tụ, hành động và tư tưởng chúng ta luôn bị rập theo những khuôn đúc sáo mòn, ta đã bị người khác bóc lột, lợi dụng bằng những mỹ từ rất hay, nhưng thực chất đó có thể là những cạm bẫy dẫn ta lạc bước vào những mục tiêu đầy mơ hồ không tưởng và hẳn nhiên ta đã đánh mất quyền làm chủ nơi chính ta, ta đã tự dựng nên những rào cản chống lại sự Tự do, Bình đẳng và làm thui chột mọi giá trị về Dân chủ và Nhân quyền.

Học bài học lịch sử không phải là tôn thờ lãnh tụ, vì tôn thờ lãnh tụ đã thuộc về quá khứ thời phong kiến, không còn phù hợp trong thời đại dân chủ hôm nay. Nhắc đến câu nói của người xưa để tìm lý giải những ý nghĩa tinh hoa không phải là mù quáng cả tin; đó là sự khách quan của tinh thần khoa học và dân chủ.

Cũng với ý nghĩa tinh thần vừa nêu trên, người viết xin khai triển một phần nguyên văn đoạn cuối câu nói của Đức Trần Hưng Ðạo.

1. Về mặt quân sự: Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được.

2. Về mặt văn hóa, kinh tế và chính trị: Phải khoan sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hay hơn.

Ngày nay, đối sách với Bắc Kinh tất yếu là điều đầu tiên trong sách lược trường kỳ bảo vệ chủ quyền Việt Nam.

Ai cũng biết Thế vận hội 2008 Bắc Kinh đã tận lực khuếch đại, tổ chức đầy tốn kém, những tưởng sẽ làm cho thế giới khâm phục ngưỡng mộ bộ mặt Trung Quốc, nhưng thực tế đã làm cho thế giới thêm khinh miệt một chế độ dã man, thẳng tay đàn áp, giết hại người dân Tây Tạng! Việc nhiều nguyên thủ quốc gia từ chối tham dự lời mời của Bắc Kinh, song song với những cuộc biểu tình ngăn chặn, dập tắt ngọn đuốc thế vận đã cho Bắc Kinh một bài học ê chề. Truyền thống của Trung Hoa từ trước đến giờ là chỉ muốn bành trướng, thống trị theo kiểu thiên tử cai trị chư hầu thôi! Nhìn lá cờ Trung quốc ngày nay thì rõ. Ngôi sao lớn trên nền cờ Trung Hoa ví như sao Bắc đẩu, được coi như là Thiên triều Đại Hán, còn các ngôi sao nhỏ ví như chư hầu chịu sự điều hợp cai quản của sao Bắc đẩu. Trong lục địa Trung Hoa, các sắc dân lớn như Mông, Mãn, Hồi, Tạng v.v… phải chịu sự cai trị của Đại Hán, tất cả đều phải bị sự đồng hóa theo Hán tộc; từ đó mở rộng ra các quốc gia mà Bắc Kinh đang muốn tiến chiếm khác như Mông Cổ, Miến Điện, Việt Nam v.v… thì hẳn nhiên Bắc Kinh trước tiên luôn muốn kiềm tỏa trong vòng ảnh hưởng như là những chư hầu trong quỹ đạo điều hành của mình.

Xã hội Trung Hoa ngày nay vẫn đầy dẫy những bất công, bất bình đẳng, nhân quyền luôn bị trù dập. Xây dựng một xã hội dân chủ không thể bằng lời nói suông, nếu cứ lặp đi lặp lại hoài sẽ trở thành sáo ngữ, ngụy biện. Biết bao nhiêu “tầm chương trích cú”, những lời của Khổng tử, Mạnh tử trước sau vẫn là những lý thuyết mộng mơ, còn bàng bạc ở mức độ triết lý bằng lời nói suông. Hãy quên đi những danh từ hoa mỹ như “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nhiều người cứ lẩn quẩn bàn tới bàn lui mà vẫn không tìm ra lối thoát. Trong thực tế, muốn xây dựng một nền tảng xã hội dân sự, trả quyền làm chủ cho người dân, thì nhà nước trước tiên phải xây dựng một cơ chế chính trị dân chủ có tam quyền phân lập giữa Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp, có Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao đại diện hợp hiến chính thức cho dân, những nền tảng này mới là tiền đề đảm bảo việc xây dựng, phát huy sự tự do, dân chủ và nhân quyền. Các giá trị trên thực sự đã trở thành phổ cập chung trong thế giới văn minh ngày hôm nay.

Xem xét mọi mặt của Trung Hoa từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, người viết không thấy xã hội dân sự tại đất nước gần 1,5 tỷ người này có những thành tựu đúng mức theo chiều hướng phát triển dài hạn các giá trị tự do và nhân quyền, trái lại chỉ kéo lùi một số đảo quốc như Hồng Kông, và viễn ảnh đen tối một mai khi Bắc Kinh dùng vũ lực thống hợp Đài Loan thì thế giới lại sẽ chứng kiến thêm cảnh tang tóc điêu linh vì tham vọng bá quyền của các ông trời con tự cao tự đại. Chỉ có một nước Trung Hoa được tách rời trở lại thành nhiều quốc gia như thời Chiến quốc mới tạo nên những vận hội lớn cho việc phát huy quyền Tự do, Dân chủ và Nhân quyền; những tiên đoán này đã được cựu Tổng thống Đài Loan là Lý Đăng Huy nói tới và ông cũng đã từng tranh đấu vận động cho một Đài Loan trở thành một quốc gia độc lập, không phải phập phồng lo sợ bị cái vòng “kim cô” của Bắc Kinh triền miên đe dọa dùng vũ lực đánh sập.

Nước Tàu cho chúng ta học hỏi được điều gì ngoài sự tự cao tự đại mà giới cầm quyền Bắc Kinh không bao giờ chịu chấp nhận thực tế xã hội đang lan tràn những bất công, mất ổn định? Khi mũi súng bạo lực được buông ra thì vô số các dân tộc sẽ nổi dậy đòi độc lập như trường hợp Tây Tạng, Tân Cương… Riêng Việt Nam, tuy thân phận nhỏ bé nhưng đã sớm tách ra khỏi sự cai trị Hán hóa từ trên ngàn năn nay rồi, không lẽ hôm nay lại tự dâng mình chui đầu vào rọ trở lại để chịu cảnh nô lệ, vong quốc trên chính quê hương mình? Việt Nam có nhiều cơ may tạo nên dân cường nước mạnh chính là nhờ những yếu tố thuần nhất vốn có sẵn như ngôn ngữ, văn hóa không dẫy đầy dị biệt như xã hội Trung Hoa đang có cơ dẫn đến xáo trộn tan rã ra nhiều mảnh như tiên đoán của cựu Tổng thống Lý Đăng Huy. Ta cần có cái nhìn tổng hợp vào 3 lãnh vực chính yếu là kinh tế, chiến lược và nhân quyền. Việt Nam ta đã mạnh về kinh tế chưa? Đã xây dựng được chiến lược hoàn hảo đủ để bảo vệ chủ quyền quốc gia chưa? Đã phát huy đời sống tinh thần dân sinh ra sao trong chính sách văn hóa giáo dục…? Đó là các mối lo chính yếu mà một công dân bình thường cũng nhận thấy được. Sở dĩ nhắc lại lời nói của Hưng Đạo Vương cách nay trên 700 năm, cốt ý để thế hệ mai sau nhìn thấu rõ công khó dựng nước của tiền nhân có rất nhiều điểm tương đồng, bởi vì những giá trị khi được công nhận là sách lược thì tất nhiên sẽ có chung nhiều nét cơ bản giống nhau. Đó cũng là những viễn kiến tinh hoa trong công cuộc giữ nước và dựng nước được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu muốn sống còn thì phải biết kiên trì tiến thủ tới mục tiêu đó.

© 2010 Phạm Thiên Thơ

© 2010 talawas


[1] Trích Trần Hưng Đạo, Binh thư yếu lược, trang 23, do nhà xuất bản Quê Mẹ Paris ấn hành 1988.

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Nhà văn: Tự do, Độc lập và Sự lên tiếng nói

Bùi Minh Quốc – Tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ?…*

Sau đây là trích đoạn bài phát biểu của nhà thơ Bùi Minh Quốc tại đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL.

Cần dứt khoát đổi mới Hội

Hội nhà văn Việt Nam của chúng ta thoát thai từ Hội Văn hóa Cứu quốc do Đảng chỉ đạo hình thành trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là tổ chức của những chiến sĩ văn hóa chiến đấu để xây dựng một nền văn hóa mới.Tháng 6 năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi được giao nhiệm vụ viết bản báo cáo mang tên “Một nền văn hóa mới” trong đó có đoạn hừng hực hào khí của một dân tộc nô lệ vùng lên giành lấy độc lập và tự do như sau:“Ban bố triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” ( “Một nền văn hoá mới”- Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản năm 1945). Các quyền thiêng liêng ấy -  tự do tư tưởng và tự do ngôn luận – đã lập tức được hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và vẫn duy trì tại Hiến pháp hiện hành.

Nhiều năm qua, các quyền thiêng liêng ấy chỉ tồn tại trên giấy. Đã có biết bao tác phẩm giá trị bị cấm, bị nghiền, biết bao nhà văn phải chịu khổ nạn chỉ vì kiên quyết thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn. Bởi vì có một thế lực sợ sự thật trong tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước đã dùng bạo quyền thay cho lẽ phải để dập vùi đầy đọa những nhà văn trung thực trung kiên nói tiếng nói của sự thật của lẽ phải.

Vụ cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị cho vào máy nghiền là một bằng chứng điển hình khiến tất cả những ai có lương tri không thể không đau lòng và phẫn nộ.Ấy vậy mà Hội nhà văn của chúng ta, Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do lại im lặng trước hành vi man rợ đó.Thật phi lý. Sự im lặng này thật phi lý.Và thật xấu hổ, thật nhục nhã.

Nếu bây giờ tôi hỏi anh Hữu Thỉnh : anh có phải là một nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do không, chắc chắn anh sẽ trả lời : tôi luôn luôn là một nhà văn như thế.Và vẫn câu hỏi này, tôi đưa ra hỏi anh Lê Văn Thảo, anh Nguyễn Trí Huân, anh Hồ Anh Thái, anh Trần Đăng Khoa, chị Phan Thị Vàng Anh , thì chắc chắn cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự.Vậy tại sao các anh chị lại im lặng trước hành vi ngang ngược của thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh đối với chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc ta, ngang nhiên cướp bóc hành hạ ngư dân ta ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước tình cảnh các thanh niên, các nhà báo bị bắt bớ tù đầy, bị hành hạ sách nhiễu khi họ chỉ làm một việc rất bình thường là xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc các công trình nghiên cứu, sáng tác về cải cách ruộng đất, về cuộc chiến đấu chống bọn diệt chủng Pôn-pốt trên biên giới tây nam, trên đất Cam-pu-chia và giặc bành trướng trên biên giới phía bắc, trên biển Đông không được xuất bản và tái bản, thậm chí trong dịp kỷ niệm 30 năm các sự kiện lớn ấy cũng không một mẩu tin, một dòng thơ tưởng niệm các liệt sĩ trên báo Văn Nghệ ? Tại sao các anh chị lại im lặng trước việc tác phẩm của đồng nghiệp mình bị cấm, bị nghiền ? Các anh chị là chủ tịch, phó chủ tịch, là ủy viên Ban chấp hành Hội, vậy thì Hội ta có còn là Hội yêu nước không, có còn là Hội yêu dân không, có còn là Hội yêu tự do không ? Câu trả lời của tôi là : Hội ta đã là và vẫn luôn luôn là Hội của những nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, nhưng các anh các chị thì thực chất đã không đại diện cho lòng yêu dân yêu nước yêu tự do của toàn thể hội viên, mà chỉ là những công chức hành chính thực thi mệnh lệnh của một thế lực sợ sự thật dùng bạo quyền bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tự do ngôn luận của các nhà văn trung thực. Tuy vậy, tôi tin rằng về mặt cá nhân, các anh chị vẫn luôn là nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do như tất cả mọi hội viên, nhưng về mặt tổ chức, khi ngồi vào chiếc ghế chức quyền thì các anh chị lại phải tự hủy cái tư cách yêu dân yêu nước yêu tự do ấy đi. Nếu không tự hủy thì tại sao lại im lặng ?

Vậy là chúng ta thấy hiện ra một sự thật hết sức đau lòng : từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc trước 1945 đến Hội nhà văn hiện nay là một quá trình thoái hóa khủng khiếp về tổ chức, càng phát triển số lượng thì chất lượng càng đi xuống thảm hại; sự thoái hóa về tổ chức làm thoái hóa con người, những nhà văn cách mạng tiêu biểu nhất như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải v.v…cuối đời cũng phải tự buộc mình trải lòng lên trang giấy thổ lộ phần nào sự tha hóa của bản thân;  Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất” , Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay” : “Người tôi còn nhiều bùn tanh/Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/Nhiều dây nhợ tự buộc mình(đã in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi trước khi ông mất ít tháng, NXB Văn Học, 2001). Đau xót quá. Những tài năng trác việt, những tâm hồn trong sáng, những trí tuệ sắc sảo từ tuổi thanh xuân phơi phới đi vào Cách mạng để xây dựng “Một nền văn hóa mới” với một đội ngũ những nhà văn kiểu mới, Nhà văn – Chiến sĩ, lại tha hóa thành những con người như thế, là một thất bại lớn về văn hóa, về xây dựng Hội phải không các anh, chị ? Đã đành con người ta không ai toàn vẹn cả, nhưng vấn đề ở đây là sự thoái hóa của tổ chức làm thoái hóa con người, từ tổ chức của các nhà văn – chiến sĩ thành tổ chức của các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức với phần khá đông là các nhà văn yêu thẻ và số ít các nhà văn yêu ghế, số yêu ghế dựa vào số yêu thẻ để giữ ghế và xin tiền nhà nước ; tức tiền thuế của dân bồi dưỡng để các nhà văn nâng cao sức chiến đấu cho Tự do nhưng lại biến thành thứ bổng lộc ban phát nhằm  đổi lấy sự im lặng trước những sự thật mà cái thế lực sợ sự thật trong giới cầm quyền muốn bưng bít.Chúng ta không thể để kéo dài mãi kiểu tổ chức như thế này nữa. Lâu nay có không ít hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định theo đuổi con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập, cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt.Đấy là một cách lựa chọn, nhưng cách này có một cái gay là tự mình làm ngơ trước tình trạng gương mặt tử tế của mình bị một số quan chức văn chương mượn làm bình phong, làm mặt nạ để thực hiện các mưu đồ vị kỷ của họ.

Rõ ràng Hội ta đang đứng trước một yêu cầu bức bách là phải đổi mới căn bản về tổ chức.Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội dung hàng đầu trong nghị trình đại hội 8 của Hội ta.Xin mạn phép nêu ra một gợi ý đổi mới, trước hết là xác định lại tính chất của Hội như sau :

Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do.Các nhà văn trong Hội – là những cá nhân với tư duy độc lập tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và công chúng về tư tưởng và ngôn luận của mình -  tự nguyện tập hợp để giúp nhau phấn đấu tạo nên những tác phẩm giá trị nhất trong khả năng mình có, và bảo vệ, bênh vực, cưu mang nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn vì ngòi bút.Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi, tự quản đồng thời hoan nghênh sự hỗ trợ vô tư công khai minh bạch không điều kiện của Nhà nước và công chúng.

(Tiếp theo dưới đây là phần phát biểu miệng được diễn giả tự văn bản hóa sau đai hội)

Hội Nhà văn của chúng ta bấy lâu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.Nay nếu chúng ta chuyển thành tổ chức xã hội nghề nghiệp, không để là tổ chức chính trị nữa thì có mấy cái lợi cho sự phát triển chung :

Thứ nhất, với nhiệm vụ chống thế lực bành trướng trong giới cầm quyền Bắc Kinh, với tư cách là tổ chức xã hội nghệ nghiệp, một tổ chức bình thường trong xã hội dân sự của các nhà văn chiến sĩ yêu dân yêu nước yêu tự do, chúng ta hoàn toàn chủ động bày tỏ lòng yêu nước mà không ảnh hưởng gì đến ứng xử đối ngoại lúc mềm dẻo lúc cứng rắn của nhà nước.

Thứ hai, khi chúng ta không phải là tổ chức chính trị, chúng ta mới thực sự chủ động thực hiện được chủ trương tôn trọng các chính kiến, các ý kiến khác biệt, thực sự mở rộng mặt trận văn hóa văn nghệ của tất cả mọi nhà văn Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, vì tự do của mỗi con người Việt Nam, vì sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới.

Thứ ba, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở đây được xác định rành mạch là tổ chức của các nhà văn Việt Nam yêu dân yêu nước yêu tự do, các nhà văn thuộc hội này không đặt hội mình là tổ chức chính trị nhưng cái phẩm chất chính trị KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT trong con người từng nhà văn thì không những không mảy may bị xói mòn, mai một (như thường thấy ở các nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức), mà ngày càng vững vàng hơn, tích cực hơn, chủ động hơn, bởi đó là phẩm chất chính trị quyện chặt với lý tưởng xã hội lý tưởng thẩm mỹ từ trong máu thịt được thử thách cả một đời.

Hội sẽ hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản. Đây chính là chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng đề ra từ đại hội 6.Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể, nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa 6 đã khẳng định nguyên tắc tự quản của các đoàn thể.Khi chuyển sang Hội tự nuôi tự quản, chúng ta sẽ đỡ cho nhà nước một khoản chi phí lấy từ tiền thuế của dân tính cả trụ sở phương tiện là rất lớn. Nếu Hội không chuyển sang hoạt động theo nguyên tắc tự nuôi tự quản mà cứ tiếp tục là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước như cũ thì nên tách Hội ra làm hai, một hội là tổ chức chính trị xin tiền nhà nước, một hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản…

(Nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng vụ văn học ban Tuyên giáo trung ương từ dưới hàng ghế đầu nói chen một cách thân tình : “Tự nuôi thì chết đói ông Quốc ạ”). Không chết đói được đâu ông Cuông ơi, mà chết đói tôi cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là tôi được như ông Nguyễn Hiến Lê ở Sài Gòn trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản tự đem bán, chi phí thấp thu nhập cao, ông Đốt-xtôi-ép-xki ở Nga dưới chế độ Sa Hoàng cực kỳ hà khắc đi tù về vẫn được ra báo, mở nhà xuất bản, ông viết và in ngay những chuyện đã trải      trong tù. Nghị quyết 23 ghi rõ đảm bảo tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, vậy đảm bảo bằng cách nào nếu không phải là thực hiện nguyên tắc tự do sáng tác gắn liền với tự do công bố (nếu không thì chỉ là tự do sáng tác cất vào ngăn kéo à ?), tôi đòi tôi phải được như bà con nông dân làm ra cân thóc được tự do đem bán, nếu thóc có chứa độc tố thì phải ra tòa, tôi cũng đòi được tự xuất bản quyển sách mình viết ra và tự đem bán, nếu sách tôi có độc tố thì tôi ra tòa, nếu sách tôi được nhiều người mua thì tôi sống khỏe, đủ để nuôi mình và góp phần nuôi Hội, nếu sách tôi bị người đọc vứt vào sọt rác thì tôi cũng cam chịu. Nhưng tôi tin rằng trong số hơn 900 hội viên của Hội ta hiên nay, ít nhất cũng có 100 nhà văn thích chọn mô hình Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nuôi tự quản, trụ sở Hội chỉ cần 1 ngôi nhà nhỏ, hội viên góp tiền nhau mà thuê hoặc hội viên nào có nhà rộng thì cho Hội mượn. Vâng, nếu thực sự vì dân vì nước thì hãy làm như thế đi, hai Hội nhà văn, một Hội xin tiền nhà nước, một Hội tự nuôi tự quản, hai Hội đối sánh xem Hội nào có thành tựu văn học cao mà chi phí thấp thì tự thân Hội đó có sức sống và phát triển, đây chính là con đường xây dựng phát triển Hội hợp quy luật.

Ý kiến tôi hôm nay có thể chỉ là nói lên tiếng nói của thiểu số nhưng tôi tin chắc rằng nhất định sẽ được nhân dân hoan nghênh và đồng nghiệp đồng tình ngày càng rộng rãi.

(Vào cuối phiên thảo luận buổi sáng, nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội lên diễn đàn có ý kiến lại với nhà thơ hội viên Bùi Minh Quốc, rồi nhà thơ Bùi Minh Quốc lại lên diễn đàn đáp lại các “ý kiến lại” của chủ tịch Hữu Thỉnh.Tôi, Bùi Minh Quốc, xin văn bản hóa phần trao đổi ý kiến qua lại này thành cuộc đối thoại theo từng vấn đề như sau) :

HỮU THỈNH : Về việc lên tiếng về Hoàng Sa Trường Sa, tôi đã nghe anh Quốc nói nhiều lần, tôi cũng đã báo cáo cấp trên nhưng cấp trên bảo Hội Nhà văn không lên tiếng.

BÙI MINH QUỐC : À, ra thế…

HỮU THỈNH : Cái vụ “Chuyện kể năm 2000”, tôi là người bênh vực anh Bùi Ngọc Tấn, nghe tin tôi vội chạy lên thì người ta đã ký lệnh nghiền mất rồi, tôi xuống ngay Hải Phòng gặp anh Tấn, anh Tấn đề nghị để tớ đi thăm Trung Quốc, tôi ủng hộ ngay mặc dù về thủ tục rất khó vì danh sách đoàn đi đã xong xuôi rồi chỉ còn 6 ngày nữa là đi, nhưng tôi đã cố gắng giải quyết tốt.

Cũng như với anh Hữu Loan, anh ấy có bị giam lỏng đâu, anh ấy tự ý bỏ biên chế về quê đấy chứ, thế nhưng anh Quốc không biết chứ, tôi và anh Nguyễn Hoa đã phải cố gắng như thế nào để làm lương cho anh Hữu Loan, lương chuyên viên đấy, kết quả là anh ấy được truy lĩnh lớn đấy.

Rồi việc giải thưởng nhà nước, chính tôi đã đề nghị anh Hữu Loan phải được trao giải cùng với các anh Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán nhưng giải này phải Chủ tịch nước ký, ở trên có người nhất định không đồng ý trao giải cho anh Hữu Loan.

Cũng như đối với anh Bùi Minh Quốc, khi in kỷ yếu Hội Nhà văn, nhiều người, có cả những ủy viên trung ương yêu cầu phải gạch tên Bùi Minh Quốc, Trần Độ, tôi không chịu, sách đã in rồi, anh em bảo lấy giấy dán chỗ ấy lại, tôi bảo cứ để nguyên.

Cũng như cái việc anh Quốc bị quản chế, vì những lý do ngoài văn chương, tôi đã xin cho anh giảm được thời hạn mấy chục ngày, anh có biết đâu, nói chung là anh Quốc thiếu thông tin…

BÙI MINH QUỐC : Đúng là tôi thiếu thông tin về các việc ấy vì các anh có thông tin cho tôi đâu, nhưng điều quan trọng nhất, việc quản chế tôi là phi lý, giảm được có 19 ngày, mà cũng vì sắp Tết rồi, hết hạn đúng ngày mùng 1 Tết, tôi đã sẵn sàng chấp nhận đúng ngày mùng 1 Tết lên phường làm thủ tục kết thúc quản chế kia mà. Vấn đề tôi yêu cầu là Ban chấp hành Hội phải thực hiện trách nhiệm của mình, phải xông vào tìm hiểu đầu đuôi vì sao tôi bị quản chế, việc này đúng hay sai và Hội phải có tiếng nói.

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc góp ý thì cứ góp ý nhưng sao lại nặng lời xúc phạm nhau, anh bảo chúng tôi mạo danh hội viên để mưu đồ vị kỷ theo lệnh của một thế lực nào đó, làm gì có thế lực nào, chúng tôi là do hội viên bầu lên, chúng tôi làm việc theo chính danh sao lại bảo là chúng tôi mạo danh mưu đồ vị kỷ, anh Quốc không được xúc phạm chúng tôi như thế.

BÙI MINH QUỐC : Anh Thỉnh nên đọc kỹ lại câu tôi viết trong bài phát biểu tôi vừa trao cho thư ký đoàn đại hội, đây là tôi nói về việc có tình hình nhiều hội viên, nhất là những hội viên đã trải qua chiến đấu và kiên định con đường giữ vững bản ngã tư duy độc lập cảm thấy chán Hội, muốn ra khỏi Hội. Họ ra bằng cách lặng lẽ bỏ sinh hoạt, đấy, ra khỏi Hội mà không tuyên bố công khai dứt khoát. Họ chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt Hội thì tất nhiên các quan chức làm việc Hội nhân danh Hội là nhân danh cả những hội viên bỏ sinh hoạt một cách lặng lẽ đó, và lấy gì đảm bảo trong các quan chức ấy không có người nào không mưu đồ vị kỷ, bản kiểm điểm của Ban chấp hành chẳng đã nêu có ủy viên Ban chấp hành mấy năm không làm việc Hội đó sao, vậy tôi nói thế thì có gì là xúc phạm ?

HỮU THỈNH : Anh Bùi Minh Quốc từng tham gia chiến đấu thì tôi cũng có quá trình chiến đấu vào sinh ra tử, mà anh Quốc lại cứ cố ý ráo riết đòi bỏ cái tổ chức chính trị, sao lại bỏ chính trị đi, chính trị của chúng ta là chính trị yêu thương con người, anh Quốc hãy yêu thương các hội viên đang ngồi đây, hãy yêu thương 920 hội viên trong Hội ta…

BÙI MINH QUỐC : Chính trị yêu thương con người thì trước hết phải yêu thương những người bị áp bức, yêu thương các ngư dân của ta, và với các nhà văn chiến sĩ yêu thương con người thì trước hết phải chiến đấu cho tự do, tự do là giá trị cao quý nhất của mỗi con người.

Tôi yêu cầu các ý kiến của anh Hữu Thỉnh và của tôi phải đăng lên báo Văn Nghệ để chúng ta cùng tiếp tục thảo luận, các ý kiến của chúng ta chẳng có gì là bí mật cả, nên tôi yêu cầu báo Văn Nghệ có trách nhiệm phải đăng.

Bùi Minh Quốc

Đà Lạt 20.06.2010

(Đã gửi báo Văn Nghệ, báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam, báo điện tử Văn Nghệ Sông Cửu Long, đang chờ đăng)

http://www.trannhuong.com/news_detail/5186/C%E1%BA%A6N-D%E1%BB%A8T-KHO%C3%81T-%C4%90%E1%BB%94I-M%E1%BB%9AI-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-H%E1%BB%98I

Đường sắt cao tốc: Khi bỏ phiếu thăm dò thì có 57% đồng ý, khi bỏ phiếu thì chỉ 37% tán thành. Có lẽ mấu chốt là bỏ phiếu thì KÍN còn thăm dò thì HỞ (20% CHÚ CHẾT KHIẾP VÌ "HỞ" ĐẤY)

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

GS CHU HẢO SUY NGHĨ VỀ TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM

I. Trí thức và tầng lớp trí thức

Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng “thế nào là một trí thức?” thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận rất nghiêm túc và lý thú, có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển. Để đi đến đồng thuận chắc cần phải có thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ xin đặt vấn đề và gợi mở, mong các bạn đọc cùng chia sẻ.

Ai là trí thức? Đã từ lâu, ở nước ta tồn tại một khái niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức, chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” viết năm 1947 Hồ Chủ tịch đã dùng định nghĩa này. Theo chỗ tôi hiểu thì Người đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách hết sức đơn giản, dễ hiểu, thích hợp với trình độ dân trí của nước ta thời đó. Ngày nay, chúng ta không nên quá câu nệ vào việc giữ nguyên định nghĩa này của Bác Hồ.

Thật ra ngay từ khi từ “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, và sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau công xã Paris (1871), đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng: đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người: “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” là những bất cập của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn.

Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau: 1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Trong đó, hai điểm đầu tiên là chung cho những người lao động trí óc. Còn hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng lớp trí thức.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!

Cái cơ hội “đổi đời” dường như duy nhất ấy đã tạo ra, một mặt là cái mà chúng ta vẫn thường tự ca ngợi là truyền thống hiếu học của dân ta, mặt khác, quan trọng hơn đã tạo nên sự lệ thuộc đến nô dịch của những người “có học” vào Nhà nước phong kiến. Và do đó, có thể nói rằng dưới các triều đại phong kiến ở nước ta chưa bao giờ tồn tại một tầng lớp trí thức theo cách hiểu đúng đắn của từ này. Các sĩ phu là những người “có học” có danh tiếng của các thời đại phong kiến, do vậy hầu hết cũng chỉ là các “quan văn” mang sứ mệnh “phò chính thống” mà thôi - họ không hẳn là người trí thức, hoặc tầng lớp trí thức, như cách hiểu thông thường.

Đến giữa thế kỷ 19 cùng với sự suy đồi của triều Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh công nghiệp phương tây, tầng lớp Nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc và xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến bộ có đầu óc canh tân - tiền thân của nhóm trí thức đầu tiên của nước ta nửa đầu thế kỷ 20. Những nhân vật điển hình có thể kể đến là Vũ Tông Phan (1800 - 1851, cùng với Hội Hướng thiện); Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871); Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895); Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890); Phạm Phú Thứ (1820 - 1883) v.v... Đó chính là những sĩ phu có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dù là theo đường lối bạo lực, như các phong trào Cần Vương (Phan Đình Phùng, 1844 - 1895), và Đông Du (Phan Bội Châu, 1867 - 1940); hay chủ trương tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa - giáo dục như phong trào Duy Tân (Phan Châu Trinh, 1872 - 1920), và Đông Kinh nghĩa thục (Lương Văn Can, 1854 - 1927).

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự tàn lụi của chế độ phong kiến và sự thiết lập chế độ của thực dân, ảnh hưởng của tư tưởng Dân chủ tư sản và khoa học - kỹ thuật phương tây đã tràn vào xã hội Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Hoa. Trong bối cảnh đó phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục đã quy tụ được một tầng lớp sĩ phu trí thức bao gồm các nho sĩ cách tân (Huỳnh Thúc Kháng, 1876 - 1947; Trần Quý Cáp, 1870 - 1908; Đào Nguyên Phổ, 1861 - 1907 v.v...), và các trí thức mới dùng quốc ngữ và tiếng Pháp (Trương Vĩnh Ký, 1837 - 1898; Phan Khôi, 1887 - 1960; Nguyễn Văn Vĩnh, 1882 - 1936; Phạm Quỳnh, 1892 - 1945; Nguyễn Văn Tố, 1889 - 1947 v.v...). Đây chính là tầng lớp trí thức đầu tiên của nước ta.

Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra cho một số người điều kiện có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền, có thể sống bằng nghề lao động trí óc của mình chứ không nhất thiết phải ra “làm quan”, và tiếng nói của họ càng ngày càng có uy tín trong xã hội. Họ phần đông là người hành nghề tự do như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, nhạc sĩ, và nghệ sĩ... Những phần tử ưu tú trong số đó chính là tầng lớp trí thức mới, và nhiều người đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt động công khai. Đó là các hội, chẳng hạn Trí Tri, Khai trí Tiến đức, Truyền bá Quốc ngữ và Tự lực Văn đoàn v.v... Là các báo hoặc tạp chí, chẳng hạn Đông Dương, Nam Phong, Tiếng Dân, Tri Tân, Thanh Nghị, Khoa học v.v... Tình trạng này đã tiếp diễn cho đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được tầng lớp trí thức ấy tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ của mình. Những nhân vật tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hòe... (xuất thân từ các sĩ phu Nho học); Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên.... (xuất thân từ tầng lớp trí thức “Tây học”) đã và sẽ luôn là tấm guơng mẫu mực về phẩm tính cao quý của người tri thức.

Tiếc rằng từ đầu những năm 50 của đầu thế kỷ trước, ngay khi còn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tầng lớp trí thức của chúng ta với những nhân cách văn hoá đẹp đẽ ấy, lại rơi vào một thời kỳ phát triển đặc biệt mà chắc còn cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách nghiêm túc sự tồn tại và vai trò của họ trong xã hội. Thời kỳ phát triển đặc biệt này có thể phân kỳ thành ba giai đoạn 1945 - 1950 là thời kỳ cách mạng và kháng chiến nhưng hết sức “lãng mạn” của tầng lớp trí thức yêu nước, 1950 - 1965 là thời kỳ du nhập một cách hoàn chỉnh ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Maoist vào Việt Nam, qua các phong trào chính huấn tư tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, phê phán nhân văn gia phẩm và chống “xét lại”; 1965 - 1975 là thời chiến mọi nhu cầu tinh thần và các giá trị văn hóa đều hướng vào mục tiêu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước; 1976 - 1986 là thời kỳ quan liêu bao cấp, đặc biệt là về mặt tư tưởng; 1986 cho đến nay là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn trên đây đều có hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội khá đặc biệt đối với sinh hoạt tinh thần - tư tưởng của tầng lớp có học.

Sau giai đoạn giao thời 1945 - 1950, có lẽ tầng lớp trí thức trước cách mạng đã không tồn tại nữa. Từ năm 1950 trở đi tầng lớp có học ngày càng đông; các cá nhân trí thức thì lúc nào cũng tồn tại, có lúc hết sức hiếm hoi như giai đoạn 1950 - 1965; nhưng tầng lớp trí thức thì không tồn tại, ít nhất là cho đến trước đổi mới (1986). Từ năm 1986 đến nay tầng lớp có học có bằng cấp cao ngày càng đông nhưng phẩm tính tri thức thì chỉ thấy ở những cá nhân lẻ tẻ. Những cá nhân này ngày càng đông cùng với quá trình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt xã hội, nhưng điều kiện để cho họ tự liên kết lại thành một tầng lớp có vị trí xác định trong xã hội dân sự thì chưa đủ.

Cần phải có những nghiên cứu nghiêm chỉnh về tầng lớp “có học” từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay để có được bức tranh hoàn chỉnh về trí thức Việt Nam từ khi có độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Muốn vậy ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến động về số lượng và tính chất hoạt động của những người có học vấn nói chung, cần phải nghiên cứu hồ sơ của những trí thức tiêu biểu qua từng thời kỳ. Hồ sơ của những người như: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Nguyễn Đình Thi... cũng như của Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường... sẽ nói lên được rất nhiều điều đáng quan tâm.

Vì chưa có điều kiện tìm hiểu một cách có hệ thống nên ở đây chúng tôi đã không đề cập đến tầng lớp trí thức (hoặc “có học ”) ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975.

II. Phẩm tính “trí thức” Việt Nam

Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách chung là: Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ; Độc lập tư duy; Hoài nghi lành mạnh; và Tự do sáng tạo. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân tộc cũng có bản sắc riêng. Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã, v.v... Vậy trí thức Việt Nam có đặc điểm gì? Chúng ta đã từng nghe nói đến tính cách “phò chính thống”; và tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tuỳ thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội” hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định. Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới “trí thức” Việt Nam chính là ở chỗ này!

Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Bởi lẽ, còn có một thực tế khác nữa cần phải xem xét. Đó là tính cách uyển chuyển, kết hợp “hành” và “tàng” của sĩ phu - trí thức nước nhà. Điều kiện cho phép thì bung ra hoạt động; lúc khó khăn thì tạm ẩn dật chờ thời, có khi “tàng” ngay trong lòng cường quyền với tâm trạng “cấp lưu, dũng thoái” (trước dòng nước xiết, can đảm thoái lui). Thế nhưng ranh giới giữa thái độ đúng đắn này với cái sự hèn thật là mong manh; chỉ “tự mình, mình biết cho mình” chứ khó lòng mà phán xét từ phía ngoài. Vậy thực sự trí thức Việt Nam có phẩm tính gì?

Phẩm tính cao quý nhất của người trí thức là Tôn thờ lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ, không bị gò bó bởi ý thức hệ, dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, không khuất phục trước uy quyền và không bị tha hóa bởi danh lợi. Nếu trong một xã hội có nhiều người có học vấn cao đồng thời có những phẩm tính như vậy lại liên kết được với nhau (chủ yếu bằng diễn đàn và giao lưu tư tưởng chứ không phải bằng các hội đoàn) thành một tầng lớp, thì đấy là một xã hội dân sự lành mạnh, có nhiều tiềm năng phát triển.

Tạm gác sang một bên khái niệm “tầng lớp trí thức” như cần được làm rõ ở mục I., chúng ta hãy xem xét tầng lớp những người “có học” trong giai đoạn hiện nay phù hợp với đối tượng điều chỉnh của NQTW7 khóa 10, mà từ những năm 60 thế kỷ trước được Đảng và Nhà nước coi là “ tầng lớp Trí thức XHCN ”. Trước Cách mạng tháng Tám, tầng lớp “có học”, như được xã hội đương thời công nhận, có thể bao gồm những người có học vấn từ trung học, thâm chí tiểu học, trở lên. Ngày nay, những người có bằng cấp từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp “trí thức ”. Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp. Lực lượng này cũng được tập hợp trong một số Hội hoặc Liên hiệp hội như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam...

Những nét đặc trưng của “ tầng lớp trí thức XHCN ” này là gì? Ngoài những đặc tính được Đảng và Nhà nước và phần nào là xã hội thừa nhận là ưu điểm, là tích cực như: Yêu Tổ quốc và CNXH; Trung thành với Đảng và Nhân dân; Cần cù, thông minh,sáng tạo; Không ngại khó khăn gian khổ... thì những tiêu cực không thể phủ nhận được là hết sức điển hình. Đó là:

1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.
2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử.
3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng.
4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha.

Tất cả những mặt tiêu cực điển hình của tầng lớp có học nói trên đều xuất phát từ một nguyên nhân chính là sự mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng, trước hết trong nội bộ Đảng, rồi từ đó trong toàn xã hội. Sự mất dân chủ này đã bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, sau chiến dịch Biên giới, khi ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn vào Việt Nam theo con đường chính thống, được một bộ phận chủ chốt của Đảng tiếp thu và áp dụng một cách rốt ráo cho đến tận trước Đại hội VI.

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, phát huy dân chủ và tự do tư tưởng đã được Đảng đề xướng (qua chủ trương “cởi trói” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và được toàn dân hân hoan đón nhận, nhất là tầng lớp “có học”, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ “được cởi trói”. Nhưng tiếc rằng chỉ ít năm sau đó không khí dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng dần dần bị loãng hẳn đi cho đến trước Đại hội 10. Khi Đảng chủ trương lấy ý kiến của quần chúng đóng góp cho văn kiện Đại hội 10, bầu không khí dân chủ lại đuợc thổi vào một luồng sinh khí mới từ nhân dân. Tiếc rằng ngay sau Đại hội 10 cho đến nay, càng ngày càng có những biểu hiện đáng lo ngại về thực chất của nền dân chủ của chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ trong việc quản lý các hoạt động báo chí và xuất bản gần đây.

Báo chí và xuất bản là mặt tiền, là thước đo của mỗi nền dân chủ. Chúng ta muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản dân chủ và công bằng. Sách và báo chí còn là vật mang, là phương tiện trường tồn của các nền văn hóa. Chúng ta muốn có một nền văn hóa tiên tiến, thấm đượm bản sắc dân tộc thì một lần nữa, trước hết phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản tiên tiến và nhân bản. Những nhiệm vụ nặng nề ấy không phải của riêng ai mà của tất cả: Nhà nước, cộng đồng người viết và cộng đồng người đọc.

III. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tầng lớp trí thức ở Việt Nam

1.Các bài học lịch sử.

Khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào đào tận gốc, trốc tận dễ”, nghe nói có từ thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng hình như không có văn bản nào chứng tỏ đó là chủ trương chính thức của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau Đại hội lần thứ 2, nói chung khẩu hiệu này đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trừ một số trường hợp được chính phủ Cụ Hồ trọng dụng, nâng đỡ ngay từ đầu hoặc có hoàn cảnh đặc biệt mà cách mạng không thể bỏ qua. Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chúng ta đã trả giá đến tận ngày nay cho thái độ kỳ thị của cách mạng đối với các tầng lớp trí thức, công thương gia và địa chủ.

Thái độ kỳ thị này cũng giống hệt như thái độ của những người cộng sản Nga từ sau Cách mạng tháng 10 đối với tầng lớp trí thức của nước họ. Ngay sau Cách mạng tháng 10, hàng ngàn gia đình trí thức Nga đã buộc phải lưu vong ra nước ngoài. Số còn lại hầu hết đã trở thành đối tượng của cách mạng và dần dần không còn tồn tại như một tầng lớp xã hội nữa: Số muốn giữ nhân cách trí thức thì bị đàn áp không những về mặt tư tưởng mà thậm chí bị tù tội ở các khu cải tạo; số khác tự đánh mất mình bằng thái độ “chùm chăn” hoặc cơ hội chính trị. Trong cuốn sách “Về trí thức Nga” (ở mục Tài liệu tham khảo) các tác giả cũng phân tích khá sâu sắc sự hình thành về phẩm chất và thái độ chính trị của tầng lớp có học (mà có người gọi là “trí thức nửa mùa”) trong suốt thời kỳ Xô Viết cũ. Họ chỉ ra rằng nhà nước Xô Viết cũ đã thực hiện chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” để không còn tồn tại tầng lớp tinh hoa - tầng lớp trí thức không đáng tin cậy dưới con mắt của tầng lớp lãnh đạo. Một số nhỏ cá nhân trí thức tiêu biểu đã chỉ được sử dụng như những bông hoa làm cảnh cho chế độ mà thôi!

Tình trạng này không khác mấy so với các biến cố đã xảy ra ở Trung Quốc đối với tầng lớp trí thức, nhất là trong cuộc cách mạng văn hóa hồi những năm 60 và cuộc vận động dân chủ hồi cuối những năm 80. Tầng lớp trí thức ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng như vậy, cũng hầu như tan rã sau những biến cố thăng trầm.

Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao tất cả các nước theo xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đều có một kết cục như nhau đối với tầng lớp trí thức như vậy? Câu trả lời có thể là: Vì trong tất cả các nước ấy đã không thực sự có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Tình trạng đó đã bắt đầu từ khi Lê Nin áp dụng nguyên tắc Tập trung Dân chủ trong Đảng Cộng sản Nga trước và sau Cách mạng tháng 10 và trở thành truyền thống của các Đảng Cộng sản. Thay vì Dân chủ Tập trung, tức là trước hết phải thực hành Dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau kể cả khi tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưói phục tùng cấp trên v.v... các Đảng Cộng sản đã áp dụng nguyên tắc Tập trung là chủ yếu, Dân chủ chỉ là thêm vào. Sau khi nắm chính quyền, nguyên tắc Tập trung Dân chủ sai lầm này lại được áp dụng trong toàn bộ máy Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cơ chế mất dân chủ này đã xiết chặt cái “vòng kim cô” mất lập trường giai cấp và chệch hướng XHCN lên toàn bộ sinh hoạt tinh thần - tư tưởng trong nội bộ Đảng và toàn xã hội ở tất cả các nước đã áp dụng mô hình chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết.

Cơ chế mất dân chủ với cái “vòng kim cô” ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước ta đặc biệt từ khi giải phóng miền Nam: Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn chưa quy tụ về một cõi, khối đại đoàn kết dân tộc không được như chúng ta mong muốn, nhiều khi không có sự đồng thuận xã hội trong những vấn đề quan trọng của đất nước.

2. Quan điểm và định hướng

Trong quan điểm và định hướng nhất thiết chúng ta phải khẳng định rằng: Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức đã nêu rõ. Muốn vậy, điều cốt lõi là phải thực hành nghiêm chỉnh chế độ dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng.

Phát huy dân chủ phải được đặt trên nền tảng mục đích chung của dân tộc là xây dựng một quốc gia “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Mục đích chung ấy là quyền lợi của dân tộc, phải được đặt lên trên hết, trên mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ và mọi lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau.
Dân chủ không phải là sản phẩm chỉ của phương Tây (dù là Hy Lạp cổ đại hay Tây Âu và Bắc Mỹ hiện đại) mà là sản phẩm của cả nhân loại, trong đó có phương Đông. Phật giáo hết sức đề cao Đối thoại và Khoan dung, là cốt lõi sâu xa của Dân chủ. Dân chủ là một chế độ, trong đó mọi công dân thực có quyền được nhận xét, phê phán và chất vấn trực tiếp các cấp lãnh đạo (ở nước ta là của Đảng và của Nhà nước). Đúng như lời của Nelson Mandela nói: “Bất cứ ai muốn phát biểu có thể được nói. Đó là Dân chủ trong hình thức thuần tuý nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng dẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người này với người kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thày thuốc, buôn bán hay nông dân, đại chủ hay tá điền, người nào cũng được nói... chính đó là nền tảng của Dân chủ: Tất cả mọi người đều được tự do phát biểu ý kiến của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân ”.

Định hướng quan trọng nhất mà chúng ta cần là phải làm rõ nội dung công thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: “Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay cũng vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đằng làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo quyền Dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do Dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử, căn cứ vào những quan điểm và định hướng kể trên, để nâng cao chất lượng thực hành Dân chủ đối với đội ngũ trí thức (hay là “có học” như nói ở trên) cần thiết phải có các giải pháp sau đây:

3.1. Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trên thực tế Đảng lãnh đạo và chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội. Nếu trong Đảng mà không thực sự có Dân chủ thì ngoài xã hội không thể có Dân chủ.

Trước hết trong Đảng phải thực sự tôn trọng nguyên tắc Dân chủ Tập trung chứ không phải Tập trung Dân chủ. Đại hội đại biểu của Đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, sau đó đến Ban chấp hành Trung ương, rồi mới tới Bộ Chính trị. Nguyên tắc này lâu nay bị vi phạm, thường là Bộ Chính trị có quyền hạn tuyệt đối không những trong nội bộ Đảng, mà còn đối với mọi vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước mà lẽ ra phải là trách nhiệm của Quốc hội.

Trong nội bộ Đảng, mọi Đảng viên nên đều phải được phát biểu và bảo vệ chính kiến của mình song song với nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cần phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để ý kiến của thiểu số được thảo luận một cách công khai và bình đẳng.

Cơ chế dân chủ trực tiếp cần phải được phát huy tối đa trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Việc bổ nhiệm Đảng viên vào các vị trí lãnh đạo trong hệ thống Nhà nước phải được tiến hành một cách dân chủ hơn. Không áp đặt tiêu chuẩn cấp uỷ Đảng vào tiêu chuẩn lãnh đạo các cấp nhà nước. Một vị trí lãnh đạo nhà nước có thể tiến cử hai Đảng viên có ý kiến khác nhau về chủ trương về cách thực hiện để Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước lựa chọn, v.v....

Chỉ trong những điều kiện tối thiểu như trên thì tầng lớp trí thực thực thụ của nước ta mới có thể tự hình thành và phát triển một cách lành mạnh được.

3.2. Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh.

Trong điều kiện chế độ chính trị có một Đảng lãnh đạo, những khiếm khuyết do chế độ toàn trị gây ra có thể được khắc phục, điều chỉnh một cách hữu hiệu bằng xã hội dân sự. Xã hội dân sự lành mạnh là đối trọng, chứ không phải là đối lập với Nhà nước. Sự đồng thuận xã hội được giải quyết chủ yếu thông qua xã hội dân sự .
Trước mắt phải xây dựng được một Luật về Hội. Các hội nghề nghiệp và quần chúng là thành phần quan trọng nhất của xã hội dân sự. Quyền tự do thành lập Hội được ghi trong Hiến pháp phải được thể hiện đầy đủ trong Luật về Hội.

Chỉ trong một xã hôi dân sự lành mạnh như vậy tầng lớp trí thức mới phát huy được phẩm tính trí thức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.3. Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân như được ghi trong Hiến pháp.

Tự do ngôn luận là quyền được bình đẳng phát biểu công khai ý kiến của mỗi công dân. Đó là cốt lõi của Dân chủ, không có tự do ngôn luận thì không thể dân chủ.

Báo chí và xuất bản sách là công cụ chủ yếu để thực hiện tự do ngôn luận. Luật về Báo chí và Xuất bản cần được cải thiện hơn nữa, hướng tới chấp nhận nền báo chí và xuất bản tư nhân và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm về các ấn phẩm của mình.

Không có tự do ngôn luận thì những người “có học” chỉ có thể là những người là những người lao động trí óc ( thậm chí rất giỏi ) nhưng không thể trở thành một tầng lớp trí thức mà các xã hội văn minh coi là tinh hoa.
Hà Nội, tháng 6 năm 2010.


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, 1947.
2.N.M Voskpesenskaia và N.B Davletshina, Chế độ Dân chủ - Nhà nước và xã hội (Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
3.Nhiều tác giả (Nga), Về Trí thức Nga, (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
4.Việt Phương, Dân chủ, Tài liệu tham khảo cá nhân, Hà Nội, 9 - 2008.
5.Trần Hữu Dũng, Dân chủ và phát triển, Thời đại mới, Số 10 tháng 3 năm 2007.
6.Võ Văn Kiệt, “Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”, 2006.

Lúc nào cũng rất nhiều người tốt

Ngô Nhân Dụng


Tại sao báo chí hay đăng những tin xấu? Mở một tờ báo hàng ngày, ở Việt Nam cũng như ở Ấn Ðộ, ở xứ Mỹ hay xứ Nam Phi, thế nào chúng ta cũng thấy những bản tin về trộm cướp, giết người, đánh ghen (dù có người coi tin này không xấu), tự tử, ăn hối lộ, bầu cử gian lận, vân vân. Nhiều người đọc các tin tức đó cảm thấy bi quan, than rằng thế gian này toàn những chuyện đáng chán đời.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người có ý kiến ngược lại. Ngài cũng biết báo chí đăng toàn những tin xấu, nhưng thấy đó là một dấu hiệu tốt. Bởi vì người ta đọc báo cốt để thỏa mãn óc tò mò, muốn biết những chuyện lạ mà chung quanh mình hàng ngày không thấy. Những tin đăng trên báo là những chuyện hiếm có, lâu lâu mới thấy một lần. Báo đăng tin xấu vì đó là chuyện ít xảy ra; còn những chuyện bình thường, chuyện tốt lành, thì trên đời này rất nhiều, nhiều quá cho nên không ai đem đăng lên báo làm gì! Không phải ngày nào người ta cũng đánh ghen, bình thường nhân loại vẫn yêu nhau rất đúng tiêu chuẩn. Không phải ngày nào kẻ cướp cũng tấn công ngân hàng; ngược lại mỗi ngày bao nhiêu người đến “nhà băng” để gửi tiền và vay tiền! Tóm lại, theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thì thế gian này bình thường là một nơi rất tốt, báo chí đăng các tin xấu vì nó hiếm! Chúng ta cứ nên yêu đời, đừng vì phải đọc, phải nghe nhiều tin xấu xí trên báo, trên đài mà chán đời, rất dại dột!

Thí dụ như trên Nhật báo Người Việt này, tuần trước đăng bức hình kèm theo bản tin, cho thấy một cậu bé cùng với cha đang ôm một sợi dây cáp treo giữa trời, băng qua con sông Pô Kô ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum, Việt Nam. Một bức hình chụp rất đẹp. Hai nhân vật, một già một trẻ, người nào cũng bám chặt hai tay vào sợi dây cáp, nét mặt rất “khẩn trương!” Lửng lơ giữa khung cảnh núi rừng và con sông nước chảy cuồn cuộn, hai bố con đung đưa treo giữa không trung; đúng là một bức hình lạ, đáng đem dự thi nhiếp ảnh thế giới. Nếu đó là một cảnh làm xiếc, thì chúng ta coi xong sẽ vui vẻ cười, được một dịp giải trí, thư giãn tinh thần!

Tại sao đồng bào ta ở Ngọc Hồi, Kontum lại không gửi bức hình đó đi dự thi nhiếp ảnh?

Ðọc bản tin thì biết rằng đối với đồng bào huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum này, đây không phải là một vụ biểu diễn tài lạ. Cũng không phải chuyện hiếm hoi. Không đáng làm một bản tin về chiếc “Cầu dây cáp qua sông Pô Kô.” Nó không lạ như câu chuyện Cầu Sông Kwai! Vì hàng ngày, mọi người dân ở đây, già trẻ lớn bé đều qua sông bằng phương pháp đu dây làm xiếc đó. Ai muốn qua sông đều phải tập ôm bám sợi dây! Em bé trong hình mỗi ngày phải đi học, ngày nào em cũng phải biểu diễn trò xiệc “nghiệp dư!” Tội nghiệp em bé! Tội nghiệp các em học sinh ở vùng này! Tội nghiệp cha mẹ các em!

Nhà báo trong nước đăng bức hình lên, các báo ở nước ngoài in lại, từ trong ra ngoài một làn sóng phẫn nộ nổi lên. Tại sao “người ta” lại để cho các em học sinh phải đu dây qua sông mỗi ngày như vậy?

Trong thế giới bình thường, trong thế giới mà mọi người tôn trọng phẩm giá của mỗi con người, tôn trọng quyền sống của mỗi con người, ai cũng phẫn nộ khi thấy một con người bị đẩy vào cảnh sống khó khăn, cực khổ như vậy. Nhất là các trẻ em. Trong thế giới bình thường, một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi không chăm sóc, bị bỏ đói, bị giá rét, thì hàng xóm cũng tố cáo, chính quyền có thể đưa cha mẹ em đó ra tòa. Những người chịu trách nhiệm có thể bị tù, bị phạt, có khi mất quyền nuôi con. Trẻ em là những đóa hoa trong khu vườn nhân loại. Ai cũng thấy mình có bổn phận trông nom, bảo vệ các trẻ em. Chúng ta có thể noi gương Ðức Ðạt Lai Lạt Ma mà nhận xét: Tấm lòng phẫn nộ của mọi người khi trông thấy cảnh các trẻ em phải đu dây qua sông khi đi học, đó là một dấu hiệu tốt. Loài người, ở đâu, vào thời nào, vẫn có sẵn từ tâm, thương yêu các trẻ em.

Khi tin này được đưa lên báo chí, chúng ta lại thấy một tin vui nữa. Là ngoài phản ứng phẫn nộ trước cảnh các trẻ em phải đu dây qua sông đi học, người Việt khắp nơi còn một phản ứng thứ hai. Riêng trên báo Người Việt, rất nhiều độc giả đã viết thư xin địa chỉ để có thể giúp đỡ em học sinh trong hình. Không ai đang tâm nhìn một trẻ em chịu cực khổ mà không muốn giúp! Cũng như khi báo này đăng bức hình em học sinh bị tật phải đi bằng hai tay đến trường mỗi ngày, rất nhiều độc giả cũng xin địa chỉ để giúp em mua một cái xe lăn. Ðây là một chuyện xẩy ra rất nhiều lần đối với tòa báo. Mỗi bản tin về một người nghèo khổ, đặc biệt là người Việt nghèo khổ, thế nào cũng có nhiều độc giả viết thư xin địa chỉ để giúp đỡ. Nhiều lần như vậy, đến nỗi có độc giả tỏ ý hoài nghi! Có vị quá thương đã viết thư nói thẳng điều ngờ vực đó! Nhân tiện đây xin nói rõ: Nhật báo Người Việt không bao giờ đóng vai trung gian để nhận và chuyển những số tiền hay tặng vật giúp đỡ người nào hết. Nếu người nào muốn giúp ai, tờ báo sẽ cố tìm địa chỉ để người giúp và người nhận liên lạc trực tiếp với nhau. Một tờ báo không đóng vai một cơ quan từ thiện, mặc dù đất nước chúng ta đang cần rất nhiều cơ sở từ thiện của tư nhân. Nhưng đó là việc của tất cả mọi người, ai muốn làm việc thiện đều có thể lập ra những tổ chức trong xã hội công dân, ở nơi nào xã hội công dân được phép tự do phát triển. Ở đâu không được tự do thì không thiếu gì người “làm việc thiện chui” trong khi những người khác tránh đấu đòi tự do!

Chúng tôi thông cảm với những độc giả đa nghi. Chúng ta đã sống qua một thời gian chiến tranh rất dài, đã chứng kiến nhiều điều dối trá quá. Nhiều kẻ biết lợi dụng từ tâm, lợi dụng lòng yêu nước, hàng triệu người đã bị lừa. Có những người bị lừa mà chết, có người bị lừa tự đem thân bước vào vòng tù tội, kể ra không hết. Trong lòng con người ai cũng có sẵn óc nghi ngờ. Kinh nghiệm sống quá lâu trong một xã hội nhiều lừa dối khiến cái tâm sở đó càng phát triển mạnh hơn, thật đáng tiếc!

Ngay sau câu chuyện “Cầu đu dây qua sông Pô Kô” này, chúng ta lại phải chứng kiến một cảnh tượng cho thấy bây giờ, ở Việt Nam, vẫn còn những người nói dối một cách trâng tráo, nhơn nhơn, không biết xấu hổ! Khi được nhà báo phỏng vấn về trách nhiệm của chính quyền trong vụ này, bà bí thư tỉnh ủy Kontum, cũng là đại biểu Quốc Hội, đã phân trần rằng một tháng (một tháng!) sau khi bẩy chiếc cầu qua sông Pô Kô bị bão cuốn trôi, bà đã tổng hợp tin tức, “báo cáo trực tiếp” với ông thủ tướng. Bà Y Vêng nói bà được ông thủ tướng đồng ý, “từng bước lập dự án để triển khai, khắc phục hậu quả của cơn bão.” Sau đó, “chúng tôi đã chỉ đạo làm các dự án... làm một số cầu...” Ðây là một nhà nước nói rất hay, những chữ “báo cáo, triển khai, chỉ đạo, khắc phục hậu quả,” vân vân, đều có bài bản như nhau cả.

Nhưng cùng lúc đó, trong một phiên họp Quốc Hội, ông Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Hồ Nghĩa Dũng khi bị chất vấn lại “báo cáo” rằng ông “không hề được báo cáo” về câu chuyện “Chiếc cầu đu dây qua sông Pô Kô!” Vừa tỏ ý ngạc nhiên, chối biến không biết gì hết để trốn trách nhiệm, ông Hồ còn tỏ ra có óc hài hước nữa. Trước các đại biểu gật gù, ông lên tiêng khen ngợi hành động đu dây của đồng bào Ngọc Hồi! Ông nói đó là “một sáng tạo không ai ngờ tới!” Tuyệt vời! Chắc khi Ðảng áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin thì cũng sáng tạo kiểu đó!

Thiếu một điều là ông Hồ chưa đề nghị hãy giữ nguyên cái cầu dây đó, chụp hình, gửi dự thi sáng kiến của ngành giao thông vận tải nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản! Cả thế giới sẽ phải khâm phục! Tỉnh Kontum có thể biến nơi này thành một địa điểm du lịch, tuyển nhiều phụ nữ tới biểu diễn đu dây qua cầu!

Ông Hồ Nghĩa Dũng còn khoe rằng ông đã hỏi Sở Giao Thông tỉnh Kontum. Và họ “báo cáo” rằng họ không hề biết chuyện cây cầu đu dây làm xiệc này! Trời đất quỷ thần ơi! Ở trong tỉnh bị bão sập mất bảy cây cầu; dân túng quá phải đu dây qua sông, nhiều người đã rớt xuống sông, có người đã mất mạng! Vậy mà ông thủ trưởng Sở Giao Thông không hề biết! Câu chuyện này còn lạ lùng, đáng lên báo, lên đài, hơn câu chuyện chiếc cầu đu dây nữa! Chỉ có ở nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản mới có những chuyện lạ lùng như vậy!

Nhưng nếu ông Hồ Nghĩa Dũng nói đúng sự thật, thì ông cũng tố cáo bà Y Vêng là người nói dối. Bà khoe đã “tổng hợp nhanh” các tin tức về vụ này, rồi đem báo cáo lên ông thủ tướng. Vậy tại sao những người trách nhiệm về giao thông ngay trong tỉnh mà bà làm bí thư họ lại không biết? Tại sao ông bộ trưởng phụ trách ngành giao thông trong chính phủ cũng không biết?

Nếu bà Y Vêng nói sự thật, thì ông Hồ Nghĩa Dũng mới là người nói dối. Ông nói gà, bà nói vịt, một trong hai người phạm tội nói dối. Mà lại nói dối trước báo chí, trước Quốc Hội, tức là bày trò dối trá với cả nước!

Nhưng cuối cùng thì câu chuyện chiếc “Cầu đu dây qua sông Pô Kô” lại có hậu. Sau khi nhiều người Việt biết cảnh khổ của đồng bào huyện Ngọc Hồi, mối từ tâm khắp nơi được đánh thức dậy. Bao nhiêu người đã góp tiền để giúp đồng bào dựng lại một cây cầu chắc chắn hơn. Nhiều doanh nghiệp cũng đóng góp. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài cũng gửi tiền về góp. Cuối cùng, trong lòng dân tộc Việt Nam không lúc nào thiếu những mối từ tâm. Bây giờ chỉ còn lo làm sao khi cây cầu mới được dựng lên, đó là cầu cốt sắt chứ không phải cốt tre! Chỉ có các nhà báo, đặc biệt là các nhà báo tự do trên mạng mới hy vọng giúp đồng bào Kontum bảo đảm được điều này.

Nói vậy chứ báo chí cũng có lúc giúp chúng ta nhìn thấy những cảnh đẹp trong cuộc đời, không phải họ chỉ loan báo toàn tin xấu! Báo chí dưới hình thức mạng lưới còn bén nhạy hơn nữa. Vì số nhà báo tự do trên các mạng rất đông, mà những người tự do luôn luôn động mối từ tâm, dễ cảm động trước các các tin tốt đẹp, hay khi nhìn thấy từ tâm thể hiện. Cho nên trong mấy ngày qua “Dân Mạng” nô nức khen ngợi anh tài xế taxi Ðoàn Thanh Xuân đã đem trả lại hành khách cái túi đựng tiền, nhiều thứ ngoại tệ trị giá trên 26 ngàn Mỹ kim. Hành động này, như một dân mạng viết, “cho thấy trên thế giới vẫn còn rất nhiều người tốt!”

Nếu theo tinh thần của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, thì ta nên nói lại: “Trên thế giới lúc nào cũng rất nhiều người tốt!” Không một chủ nghĩa độc hại hay một chế độ gian trá nào có thể hủy diệt mất thiện tâm của loài người!

Những tù nhân của lợi ích trước mắt

Vương Trí Nhàn
(Theo blog Vương Trí Nhàn)


... Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại...

Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ. Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết(?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.

Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi nôm được. Tại sao có tình trạng đó? Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế. Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế!

Cài gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia. Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực. Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.

Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.

Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục.

Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Không ngại mang tiếng ác khẩu, có người còn bảo là suy đồi là vô phương cứu chữa. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm -- tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò -- so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại không dùng được.

Trừ người đã mất hết lý trí, tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi.

Nhưng thay đối thế nào bây giờ ? Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp? Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện ? Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của đi nữa. Ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước. Vâng, không thiếu gì cả. Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?

Và trước tiên, điều vướng mắc nhât, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục -- các thầy các cô hiện nay -- sẽ đi đâu làm gì?

Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?

Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm! Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.

Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!

Không ai tự nguyện chặt chân mình. Đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.

Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!

Như mấy ngày đầu tháng sáu này, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên phạm vi cả nước, báo chí phải có bài đánh giá. Trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn, một phóng viên hỏi có phải năm nay Bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình xuôn xẻ thế, rồi một quan chức của Bộ thì trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện Bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả.

Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được. Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy. Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì? Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không nên thân à? Đốt đuốc giữa ban ngày cũng không tìm ra ai khờ khạo thế.

Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột. Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt. Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để lấy tiếng là có xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém. Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc… Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại.