Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Cổ động viên cho đội tuyển Bắc Hàn là "người lạ" được trả tiền http://ttxva.com/world-cup-fans-cua-korea-la-dien-vien-duoc-tra-tien-nguoi-china/

“Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ” mà ông quan "tiến sĩ" nhận bằng nằm ở đâu trên thế giới? http://nhanam.multiply.com/journal/item/274/274

Lại tiến sĩ dỏm từ trường giả

Nguyễn Văn Tuấn – Không khó gì để thấy rằng “Trường Đại học Nam Thái Bình Dương” mà vị quan chức đó nói không phải là một đại học, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu…*

Một bạn đọc gửi mail cho tôi [[i]] hỏi về bài “Làm tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh”.  Thật ra, đâu phải ai học xong Tiến sĩ ở Anh hay Mỹ đều thạo tiếng Anh cả (không tính đến những người tự cho rằng họ rành tiếng Anh!); có nhiều người dù đã mang hàm Giáo sư mà vẫn còn chưa thạo tiếng Anh.  Do đó, đâu có gì ngạc nhiên với cái tít trên.  Thoạt đầu đọc tựa đề thì cũng chẳng lấy gì ngạc nhiên, nhưng đọc bài báo thì tôi nghĩ đây là một trường hợp mua bán bằng cấp mà thôi, chứ chẳng phải Tiến sĩ gì cả.

Bài báo mà bạn đọc giới thiệu viết về một quan chức ngành văn hóa thuộc tỉnh Phú Thọ có bằng Tiến sĩ về kinh tế quản trị kinh doanh (tên dài quá!) từ trường “Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ”.  Vậy trường này ở đâu và đào tạo ra sao?  Không khó gì để thấy rằng “Trường Đại học Nam Thái Bình Dương” mà vị quan chức đó nói không phải là một đại học, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu.

Trường này có tên là Southern Pacific University (tên pháp lý là Southern Pacific University, Inc, a Hawaii corporation), thậm chí có hẳn một website hoành tráng nữa.  “Trường” này tuy nói là đặt ở Hawaii, nhưng gốc gác ở… Malaysia.  Theo tài liệu của Bộ Thương mại và Tiêu thụ vụ (Department of Commerce and Consumer Affairs) thì “trường” đã bị giải thể từ ngày 28/10/2003 (nguyên văn: “Although incorporated in Hawaii, SPU was based in Malaysia. SPU’s Hawaii corporation was dissolved on October 28, 2003”). Cần nói thêm rằng Malaysia và Phi châu là xứ sở của rất nhiều cơ sở chuyên lường gạt người trên mạng, cũng giống như Việt Nam là nơi phát tán thư rác và quảng cáo vớ vẩn nhiều vào hàng nhất nhì thế giới.

Bằng cấp của trường Southern Pacific University không được Mỹ công nhận.  Có thể xem danh sách các trường dỏm này ở đây.  Trường này thậm chí còn được liệt kê vào danh sách scam, tức là những nơi chuyên lừa gạt người nhẹ dạ để lấy tiền bằng cách bán bằng cấp dỏm.

Tuy nhiên, cần phải phân biệt “trường” dỏm này với trường thật ở Fiji.  Đại học Nam Thái Bình Dương, với tên chính thức là “The University of South Pacific” của Fiji (một quốc đảo gần Úc) là trường thật, nhưng hình như họ không có chương trình đào tạo cấp Tiến sĩ.

Nói tóm lại, tôi nghĩ vị quan chức này đã bị lừa gạt và chắc tốn nhiều tiền để có cái giấy Tiến sĩ đó. Mà cũng chưa hẳn bị lường gạt, hay họ lại lợi dụng sự kém hiểu biết của nhau để lừa gat lẫn nhau!  Tờ giấy gọi là Tiến sĩ đó chỉ là chứng từ của một sự lường gạt, chứ không phải là một học vị gì cả.

Vấn đề này đã được nêu lên khá lâu, vậy mà vẫn có người bị (hay muốn bị) lường gạt.  Đó chỉ là một quan chức, nhưng theo như thư của bạn đọc trên đây thì có hàng chục quan chức khác cũng nằm trong tình cảnh bị lừa.  Trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay ở Việt Nam, những danh xưng Tiến sĩ hay Giáo sư, nhất là trong giới quan chức, càng ngày càng trở thành chuyện tiếu lâm dân gian.  Đúng là một quốc nạn.

NVT

http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/923-lai-tien-si-dom-tu-truong-gia

Đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội?

Hội nghị đánh giá công tác quản lý và tổ chức lễ hội năm 2010 hôm 15/6 khác biệt hẳn và gây chú ý ngay từ phần mở đầu của Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở Nguyễn Đạo Toàn.

Tuyệt nhiên không "rào đón" khoe thành tích đạt được, mà đi thẳng ngay vào những câu hỏi "sốc": "lễ hội có tràn lan không? có lãng phí tốn kém không? tổ chức có trùng lắp, nghèo nàn không?" hay "di tích có bị biến dạng không? có thương mại hóa trong quản lý, sử dụng di tích không?". Chỉ cần nghe phần mở đầu đã có quyền hy vọng vào quyết tâm của Bộ VH - TT - DL lần này sẽ ra tay chấn chỉnh những vấn đề nổi cộm "diễn ra trong nhiều năm nay, ĐBQH kỳ nào cũng hỏi Bộ trưởng, cơ quan bộ phải thường xuyên trả lời ý kiến" nhưng vẫn chưa làm được.

Những câu hỏi "vĩ mô" như "gần 8000 lễ hội dân gian có là nhiều không? Hay thời gian qua xuất hiện hàng loạt các lễ hội vùng miền, lễ hội du lịch mới khiến dư luận nói lễ hội tổ chức tràn lan? lễ hội vùng miền, lễ hội tỉnh 2 năm/lần có dày không?" đến việc chấn chỉnh những hoạt động rất cụ thể như đốt vàng mã nhiều quá (như Phủ Giày mỗi ban đồng hình nhân thế mạng xếp cao như núi), ban thờ, hòm công đức đặt nhiều quá (chỉ cần có một gốc cây vài nén nhang đặt lên cũng thành hòm công đức), trong khi việc quản lý còn lộn xộn đều được thẳng thắn trao đổi.

Minh oan cho lễ hội làng

Liên quan tới câu hỏi lễ hội có thực sự tràn lan hay không, TS Lê Minh Lý (Cục phó Cục Di sản văn hóa), PGS Nguyễn Văn Huy (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học VN); PGS Nguyễn Chí Bền (Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa)... cùng nhận xét: Phải tách bạch rõ giữa lễ hội dân gian của người dân và những liên hoan mang tính phong trào, những biến tướng lễ hội do sự can thiệp của địa phương... từ đó mới có được kết luận xác đáng, không thể nhập nhèm lẫn lộn được. Lễ hội dân gian do dân làng làm chủ thể thì ở bất cứ quốc gia nào cũng là vốn quý cần được bảo vệ. Các festival, liên hoan văn hóa từ cấp tỉnh, đến cấp vùng, miền... ở đâu và lúc nào cũng hao hao giống nhau thì đúng là làm theo phong trào, phát triển tràn lan, gây lãng phí lớn.

"gần 8000 lễ hội dân gian có là nhiều không? Hay thời gian qua xuất hiện hàng loạt các lễ hội vùng miền, lễ hội du lịch mới khiến dư luận nói lễ hội tổ chức tràn lan? lễ hội vùng miền, lễ hội tỉnh 2 năm/lần có dày không?". Ảnh: VNE

TS Lê Minh Lý dẫn câu chuyện Hồng Kông đang phải cố gắng "vét" những gì còn lại để nâng niu, thế hệ chủ thể không còn thì đào tạo ra chủ thể mới để giữ di sản, hay Quảng Tây (Trung Quốc) đưa hội hát của người Kinh ở Móng Cái vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia của họ... Đây là những ví dụ tốt để cảnh báo chúng ta đừng tư duy kiểu "có quá nhiều lễ hội, nên chăng dẹp bớt?".

Theo bà Lý, các lễ hội của cộng đồng thì hãy để cộng đồng bảo vệ, lưu giữ một cách tự nhiên, bởi "bảo vệ lễ hội chính là bảo vệ sự đa dạng văn hóa của các vùng miền, các địa phương, các cộng đồng"

PGS Nguyễn Văn Huy thẳng thắn chỉ ra những lễ hội làng không bị tác động bên ngoài thì vẫn giữ được giá trị, không thể gọi là tràn lan vì nó đã được trải nghiệm và lưu giữ qua nhiều thế kỷ, là nhu cầu thật sự của cộng đồng, nơi lưu giữ bản sắc rất riêng, rất quý.

Ông Huy khẳng định: sự tràn lan nằm ở những festival, những ngày hội văn hóa, những sự kiện... mà chúng ta mới tạo dựng ra, tạo cảm giác "đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội", và "làm méo mó, mất đi giá trị mà chúng ta đang cần giữ".

PGS Nguyễn Chí Bền cũng đồng cảm việc lễ hội đang "bị oan" vì bị nhập chung với festival, những sự kiện văn hóa... khiến truyền thông và ĐBQH đánh đồng và đánh giá lễ hội tràn lan.

Ông Biền thẳng thắn đề nghị nên "dịch một cách giản dị, festival thì dịch thẳng là liên hoan" để tránh bị đánh đồng với lễ hội dân gian. Yêu cầu đầu tiên của festival là hiệu quả kinh tế, hiệu quả quảng bá hình ảnh, nên việc lãnh đạo, quan chức có mặt có khi là cần thiết, còn có lãng phí, tràn lan không cũng chỉ nên đánh giá trong phạm vi những liên hoan này.

PGS Huy có phần lo lắng khi đang xuất hiện xu hướng một số địa phương muốn nâng cấp lễ hội dân gian từ cấp thấp lên cấp cao, từ huyện thành tỉnh, khu vực, quốc gia hoàn toàn không phải vì giá trị văn hóa mà chỉ để có thêm kinh phí, như câu chuyện lễ hội Tịch Điền mới phục dựng năm 2009 thì năm 2010 đã thành lễ hội cấp tỉnh và đích thân Chủ tịch nước về tham dự. Ông gọi đó là "căn bệnh" khi đánh giá lễ hội không theo những chuẩn mực văn hóa.

Không đồng tình với quan điểm của  PGS Nguyễn Văn Huy, TS Trần Hữu Sơn - GĐ Sở VH - TT - DL Lào Cai lại cho rằng việc nâng cấp lễ hội lên cấp vùng, cấp quốc gia là xu thế tất yếu, cũng như việc phục dựng lễ hội Tịch Điền là nhu cầu của... cả nước.

Chốt lại, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh rất thẳng thắn khẳng định có sự tràn lan trong tổ chức những festival, và Bộ sẽ làm gương: "Bộ sẽ thôi không tổ chức những Ngày văn hóa vùng này vùng khác nữa. Tần suất 2 năm/lần với festival cũng là quá dày, sắp tới sẽ quy định 4 - 5 năm/lần, mong địa phương hết sức thông cảm". Riêng việc nâng cấp, phục hồi lễ hội, Bộ trưởng hứa sẽ có chỉ đạo cụ thể và hẹn "khi Bộ có ý kiến là các tỉnh phải thực hiện".

Chính quyền không can thiệp vào lễ hội của dân

Đại diện Sở văn hóa các tỉnh lên phát biểu đều khẳng định lễ hội đã được tổ chức tốt hơn, rồi không thể chỉ đổ lỗi cho sở VH - TT - DL được.

Chuyện lễ khai ấn đền Trần cũng là "điểm nóng" của hội nghị. Tân GĐ Sở VH - TT - DL Nam Định, ông Đỗ Thanh Xuân khẳng định năm vừa rồi lễ hội đền Trần được tổ chức rất tốt, "đã được đánh giá bởi HĐND tỉnh, trong khi vẫn có những bài báo không đúng, vì nhiều PV không trực tiếp đến đó".

Trước đề xuất của Bộ nên chăng sẽ chỉ có lễ khai ấn mà không phát ấn nữa, ông Xuân cho rằng việc này đã trở thành tục lệ truyền thống, là nhu cầu tất yếu của Đảng bộ nhân dân Nam Định, và hứa sẽ báo cáo ý kiến Bộ trưởng với lãnh đạo tỉnh chứ bản thân ông không đủ thẩm quyền quyết đáp.

Câu chuyện đốt vàng mã ở đền Bà Chúa Kho được Cục văn hóa cơ sở đánh giá là quá tràn lan và được Cục trưởng Nguyễn Đạo Toàn đề xuất nên chăng từ năm sau không đốt vàng mã nữa đã bị đại diện Sở VH - TT - DL Bắc Ninh phản ứng theo cách... thừa nhận "so với trước đây đã hạn chế", và chỉ đưa ra lời hứa "sắp tới tỉnh Bắc Ninh sẽ chỉ đạo để chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn" chứ không đồng ý "bỏ, không đốt vàng mã nữa".

"Phản pháo" lại khẳng định việc khai ấn chính là thưởng công, ban phát bổng lộc, GS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội), Tổng chủ biên Địa chí Nam Định, khẳng định ý tưởng này mới chỉ được "nghĩ ra" trong vài chục năm gần đây, "còn cái mới nghĩ ra có hay, chuẩn không thì cứ đánh giá", ông Ngọc thẳng thắn.

"Không nên để chính trị, tỉnh ủy can thiệp quá sâu vào tổ chức lễ hội mang tính dân gian.. Nói đến lễ hội là nói đến cái gốc lịch sử, chứ không thể sáng tác ra rồi bảo đó là lịch sử thì là nhạo báng lịch sử".

"Không nên để chính trị, tỉnh ủy can thiệp quá sâu vào tổ chức lễ hội mang tính dân gian.. Nói đến lễ hội là nói đến cái gốc lịch sử, chứ không thể sáng tác ra rồi bảo đó là lịch sử thì là nhạo báng lịch sử", ông Ngọc kết luận.

Vụ trưởng Vụ Pháp chế Lê Anh Tuyến còn "nặng tay" hơn khi thẳng thắn đánh giá việc phát ấn chính là một cách để thu hút khách, để có tiền, và "thương mại hóa lễ hội chính là những việc như thế này".

Bộ trưởng "dọa" ngành văn hóa

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh rất thẳng thắn và chi tiết khi giành hẳn hơn 30 phút để tổng kết hội nghị.

Theo ông, ngành văn hóa phải chịu trách nhiệm về việc quản lý lễ hội, chứ không thể đổ lỗi cho ai được. Không né tránh ranh giới nhạy cảm giữa tín ngưỡng và mê tín, Bộ trưởng khẳng định: không phải chúng ta có gì thì người âm có cái đó, chúng ta hướng đến cõi thần thánh là hướng đến những người có công với đất nước, còn cầu xin thần thánh để giàu có, để lên chức to rồi sống vô bổ, không lao động, không rèn luyện là chuyện không thể chấp nhận được.

"Nếu cứ cầu xin là lên chức to thì cả nước lên chức to hết rồi!", Bộ trưởng "hài hước".

Ông gợi ý, các tỉnh tự chọn 1, 2 hay 3 hòm công đức trong một di tích chứ không thể quá nhiều, mọi thứ tiền phải cho hết vào đó, chứ không để tiền giọt dầu vào khay, rồi nhét tiền cả vào tay Phật bà như Bộ trưởng đã trực tiếp chứng kiến.

"Bộ sẽ đi kiểm tra và nhắc nhở những nơi chưa thực hiện, đích thân tôi cũng sẽ đi", Bộ trưởng chính thức lên tiếng "dọa" ngành văn hóa do chính ông đang quản lý.

Đường sắt cao tốc hay "đặc khu tri thức"?

Tác giả: Kỳ Duyên

Những "đặc khu tri thức" nếu hình thành sẽ là những hạt nhân, trước hết đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội các vùng miền và đất nước; kích thích sự phát triển, sự chuyển động tích cực của cả hệ thống đào tạo về chất lượng.

 

Những ngày này, có một vấn đề không chỉ làm nóng lên bầu không khí tranh luận căng thẳng trong nghị trường Quốc Hội, mà còn như hun đốt thêm xã hội vốn đang hầm hập bởi nắng nóng. Đó là chủ trương làm đường sắt cao tốc với số vốn vay đầu tư nước ngoài khổng lồ- 56 tỷ USD.

Có một thứ cần ưu tiên "cao tốc": Giáo dục đại học

Không biết cái nút bấm ĐSCT sắp tới trong QH ngả về bên nào, bên đồng tình hay phản đối, xin hãy cứ chờ đợi tới giờ...G! Nhưng trong khi ý kiến phản biện liên tiếp, từ các chuyên gia về kinh tế, tài chính, giao thông...còn chưa ngã ngũ; cũng như ý kiến phản đối quyết liệt của người dân chưa hề nhượng bộ; thì những người ưu tư đến giáo dục lại đặt một câu hỏi- như một phương án phát triển khác, thay thế hợp lý hơn. Đó là đất nước lúc này có một thứ cần ưu tiên "cao tốc" hơn cả đường sắt: Giáo dục đại học?

Phương án này xuất phát từ thực tiễn GDĐH nhiều năm nay.

- Tuy nhà nước có quan điểm "GD là quốc sách hàng đầu", với tỷ lệ đầu tư GD chiếm 20% ngân sách, (dành riêng cho GDĐH 10%), nhưng so với con số tuyệt đối, sự đầu tư này vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu đào tạo có chất lượng.

- Nhìn ra thế giới, so với GD các nước phát triển, nếu như GD phổ thông không đáng lo ngại lắm, thì ngược lại, GDĐH đã và đang tụt hậu rất nguy hiểm, trong khi đó, đây lại là khu vực tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội giai đoạn hội nhập. Thực trạng lạc hậu kéo dài đó của GDĐH đòi hỏi nhà nước cần có những quyết sách táo bạo, dựa trên cách tư duy mới và khôn ngoan.

- Việc đầu tư tới 56 tỷ USD, một số tiền quá lớn vào ĐSCT, cho dù đó là xu hướng phát triển hiện đại trong tương lai, nhưng hiện tại, nhu cầu đi lại của con người chưa tăng cao, và còn có nhiều phương tiện giao thông thay thế, thì nên chăng, xin nhà nước hãy ưu tiên đầu tư 6 tỷ USD, con số lẻ, chỉ bằng gần 1/9 của số tiền đi vay, cho việc xây dựng 6 trường đại học có chất lượng cao, tạo ra 6 "đặc khu tri thức" gắn với sự phát triển kinh tế xã hội vùng miền.

"Đặc khu tri thức"- hạt nhân của sự phát triển

Gợi ý này, xuất phát từ quan điểm bất di bất dịch- GD là động lực phát triển, đầu tư cho GD là đầu tư có lãi.

Những "đặc khu tri thức" đó nếu hình thành sẽ là những hạt nhân, trước hết đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội các vùng miền và đất nước. Thứ nữa, kích thích sự phát triển, sự chuyển động tích cực của cả hệ thống đào tạo về chất lượng.

Nếu làm được như vậy, những "đặc khu tri thức" ấy sẽ chính là những đường cao tốc trí tuệ đưa đất nước cất cánh vào tương lai.

Chỉ cần đầu tư 6 tỷ USD, con số lẻ trong số tiền đầu tư đường cao tốc dự kiến, cho việc xây dựng 6 trường đại học có chất lượng,  sẽ tạo ra 6 "đặc khu tri thức" gắn với sự phát triển kinh tế xã hội vùng miền. Ảnh minh họa

Sẽ có một câu hỏi đặt ra: Tại sao chúng ta không chọn lựa cách dựa vào hệ thống các trường ĐH đầu bảng phát triển tiếp lên như nhiều ý kiến khi bàn về ĐH "đẳng cấp quốc tế" trước đây, mà lại muốn tìm một con đường mới, riêng biệt?

Có 3 lý do sau:

- Bản chất của nền GDĐH truyền thống vốn có tính ổn định tương đối, thậm chí là bảo thủ. Do nhiều nguyên nhân, bản thân các trường ĐH công lập lâu nay với cung cách quản lý xơ cứng, lạc hậu, lại bị "lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm" chi phối, dường như chưa thể bước ra khỏi vùng trũng của tư duy GD cũ.

- Hệ thống các trường ĐH tư thục có thể mới về cơ chế, nhưng nhiều khiếm khuyết trong quản lý, tính mục đích vì lợi nhuận quá nặng, hiệu quả đào tạo lại thấp.

- Nếu trông chờ vào chiến lược phát triển hay cải cách GDĐH mà hiện nay chính ngành GD còn tranh cãi, chần chừ, hoặc lửng lơ...thì còn rất lâu, ý tưởng tạo ra những "đặc khu tri thức" rất khó thành hiện thực.

Cần một con đường đi mới, táo bạo, mạnh mẽ và quyết đoán hơn.

Cần những chính sách ưu tiên và đặc thù

Tạo nên chất lượng ĐT cao, mang tính đẳng cấp, có nhiều điều kiện, nhưng trong đó, có hai điều kiện tiên quyết: Cơ sở vật chất và đội ngũ quản lý, giảng viên. Như vậy, nếu đã gọi là "đặc khu tri thức", các trường này cần được hưởng những chính sách ưu tiên và đặc thù. Để ngoài cơ sở vật chất được đầu tư thỏa đáng, từ diện tích mặt bằng, đến cơ sở nhà xưởng, thiết bị kỹ thuật tiên tiến, phòng thí nghiệm hiện đại...điều đặc biệt, các trường phải hút được những giảng viên giảng dạy, nghiên cứu khoa học thực tài trong nước, nước ngoài.

Theo các chuyên gia ĐH, sự ưu tiên cho đội ngũ này thể hiện ngay ở những chính sách thu hút để họ thực sự nhiệt tâm. Đó là chấp nhận không phân biệt đối xử về "quốc tịch" với đội ngũ quản lý, giảng viên (là người nước ngoài, hoặc là những trí thức Việt kiều giỏi giang). Giảng viên người nước ngoài có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu có nhu cầu.

Để bảo đảm chất lượng cao, trong bối cảnh đời sống GD nước ta, ở các "đặc khu tri thức", tỷ lệ giảng viên là người nước ngoài, Việt kiều, nên chiếm khoảng 90-95%. Tỷ lệ sinh viên Việt Nam: 50-70%, còn lại là sinh viên nước ngoài.

Đây không phải vấn đề gì mới mẻ, mà là kinh nghiêm thực tế của nhiều trường ĐH danh tiếng của các quốc gia phát triển, như Singapore chẳng hạn (2 trường ĐH Quốc gia Singapore, ĐH Công nghệ Nanyang - lọt vào tốp 200 trường ĐH châu Á vừa được xếp hạng)(1). Tỷ lệ giảng viên là người nước ngoài của các trường nói trên thường chiếm khoảng 60%; đội ngũ này sau 3 năm lại được sàng lọc lại, bảo đảm chất lượng theo yêu cầu mục tiêu đào tạo.

Những "đặc khu tri thức" có thể đặt ở 6 vùng: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng (Hà Nội), miền trung (Đà Nẵng), đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ), TP Hồ Chí Minh, và Tây Nguyên gắn với 6 vùng kinh tế đặc thù khác nhau. Nhưng trước mắt, nên chọn và đặt 3 "đặc khu tri thức" ở 3 vùng: Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM, những nơi có các điều kiện sống, sinh hoạt thuận lợi hơn.

Với việc tạo ra những "đặc khu tri thức" cùng lúc, ngành GD quy hoạch lại mạng lưới các trường ĐH sao cho phù hợp thực tiễn phát triển kinh tế xã hội các vùng miền, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư và đào tạo.

Giữa sự vay mượn tốn kém nhưng chưa phải lúc, với sự vay mượn không quá lớn, để đầu tư GD, có lãi lâu dài cho nhân lực và sự phát triển quốc gia, đâu là cái cần ưu tiên "cao tốc": Đường sắt hay "đặc khu tri thức"?

Câu trả lời có lẽ cũng rõ ràng.

---

(1) Tham khảo: http://www.tuanvietnam.net/2010-05-17-dai-hoc-viet-nam-chan-khong-toi-dat-

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Báo chí thời đại số: Cái khó chưa ló cái khôn

Có một số thứ trở nên "mong manh dễ vỡ" hơn trong thời đại số, báo chí chính thống nằm trong số ấy.

LTS: Ngày 21/06 năm nay, chúng ta sẽ kỷ niệm 85 năm ngày báo chí Cách mạng VN. Trong gần 1 thế kỷ qua, đặc biệt là trong kỷ nguyên số ngày nay, bộ mặt báo chí nói chung, báo chí VN nói riêng đã biến đổi rất nhiều. TVN giới thiệu bài viết của tác giả Khánh Duy nhằm giúp độc giả phần nào hình dung được những thách thức lớn mà báo chí đang phải đối mặt.

Ở Mỹ và một số nước phát triển, khó khăn đã tới gõ cửa từng toà soạn báo chính thống. Nếu gọi những khó khăn ấy của báo chí chính thống bằng một từ cũng chính thống chẳng kém là "thách thức", thế giới đang chứng kiến một số thách thức cơ bản.

Sự suy giảm của báo in

Báo in đang suy giảm do ảnh hưởng của Internet và truyền hình cáp. Kỷ nguyên số đã tạo ra quá nhiều sự lựa chọn cho khán giả, báo in chỉ là một phần trong menu đó và thị phần ấy đang hẹp dần.

Hiện tại, xu hướng chung là người dân xem nhiều hơn và đọc ít hơn, công chúng từ bỏ báo in chuyển sang đọc phiên bản điện tử khá nhiều. Theo số liệu của Mỹ, độc giả báo in giảm với tốc độ chóng mặt 11% một năm.

Đặc biệt là người trẻ ngày nay càng không có thói quen đọc báo in. Ở Mỹ, những năm 1970, 50% độc giả báo in là người trẻ. Hiện nay, con số này chỉ còn 10%.

Nhiều người đang tiên đoán về "cái chết" của ngành báo in. Ảnh minh họa

Nhiều tờ báo in lớn ở Mỹ đã phải cắt giảm nhân công cũng như chi nhánh ở các bang và nước ngoài. Thập kỷ 1970, tờ Washington Post có 1.000 phóng viên, nay chỉ còn 600. Tờ Los Angeles Times có 1.200 phóng viên, nay chỉ còn 500.

Ở Việt Nam, chưa có các nghiên cứu quy mô và cụ thể, nhưng những đánh giá bằng quan sát cho thấy độc giả cũng có thói quen lướt mạng nhiều hơn mua báo in để đọc, đặc biệt là giới trẻ.

Sự giới hạn của doanh thu quảng cáo báo chí

Với báo in, việc suy giảm độc giả như đã nói ở trên đương nhiên sẽ dẫn tới nguồn doanh thu quảng cáo giảm. Ở Mỹ, doanh thu quảng cáo của ngành báo in từng duy trì ở mức 60 tỉ đôla một năm, nay chỉ còn 30 tỉ.

Với báo điện tử, tuy độc giả đổ mạnh sang loại hình này nhưng việc có được doanh thu quảng cáo từ báo điện tử khó hơn báo in. GS Thommas Patterson của Trường Harvard đưa ra số liệu sau trong lần đến Việt Nam gần đây: Nếu báo in chỉ cần 100.000 bản đã đem lại doanh thu 100.000 đồng doanh thu thì báo mạng cần 2,5 triệu độc giả để đem lại số doanh thu tương tự. Tỉ lệ nhỏ hơn báo in tới 25 lần.

Một số liệu ước tính không chính thức ở Việt Nam cho biết, tổng doanh thu quảng cáo online một năm là khoảng 15 triệu đôla Mỹ, chỉ chiếm 2% tổng doanh thu chi cho quảng cáo nói chung. Thực tế cho thấy việc chuyển sang online cũng không phải là chìa khóa vạn năng để tạo nguồn thu mạnh cho báo chí.

Sự suy thoái của tin nặng

Báo chí theo lý thuyết truyền thống có vai trò trong việc phản biện chính phủ. Một nền báo chí đích thực phải có sự độc lập tương đối và trong nhiều tình huống, buộc chính phủ phải có trách nhiệm giải trình.

Vai trò này của báo chí đặt lên vai tin nặng, tức những tin mang nhiều tính chất chính trị, xã hội chứ không phải loại tin giải trí, hoặc lá cải.

Tuy vậy, do báo chí cũng phải kinh doanh để nuôi sống bản thân nó nên cũng phải đảm bảo tính hấp dẫn nhất định để thu hút độc giả, bán được báo. Những tin nhẹ, giải trí đương nhiên có sức hấp dẫn và nhiều người đọc hơn hẳn so với tin nặng.

Ngày nay hầu hết các tờ báo đều phải có phiên bản điện tử.

Vậy nên, để đảm bảo trách nhiệm xã hội và mục tiêu lợi nhuận, các tờ báo in luôn duy trì tỉ lệ 15% cho "tin chính thống", 35% cho các tin mềm mại giải trí cho số đông, 50% số trang cho quảng cáo. Tỉ lệ trên đã duy trì trong suốt 150 năm qua ở Mỹ, tức là suốt từ giữa thế kỷ 19.

Tuy nhiên, kỷ nguyên số đã làm thay đổi điều này, bởi như đã trình bày, doanh thu của các tờ báo in đang sụt giảm do phải chia sẻ thị phần với báo mạng và các loại hình khác. Doanh thu giảm đồng nghĩa với việc phải cắt giảm chi phí ở những bộ phận không đem lại nhiều hiệu quả kinh doanh. Ở rất nhiều tờ báo ở Mỹ và Châu Âu, bộ phận sản xuất các tin tức nặng là một nạn nhân chính yếu.

Ở Mỹ, các phóng viên điều tra từng là những người có nghiệp vụ cao nhất và được trả lương cao nhất của một tờ báo, trong thời khủng hoảng, những con người tài năng nhất ấy lại bị sa thải đầu tiên. Vào thời kỳ những năm 1970, để phanh phui ra vụ Watergate lật đổ cả một tổng thống, tờ Washington Post đã "nuôi" 10 phóng viên điều tra giỏi chỉ để thực hiện chuỗi bài ấy trong 1 năm trời. Ngày nay, sức ép tài chính đã khiến "chuyện xa xỉ" ấy không còn xảy ra được nữa.

Cái khó chưa ló cái khôn

3 thách thức với báo chí hiện đại trong kỷ nguyên số đã tạo sức ép rất lớn lên bức tranh báo chí ở nhiều quốc gia phát triển.

Ở Việt Nam, chưa thấy làn gió của kỷ nguyên số thổi sát tới gáy, tuy nhiên, cũng không ít tờ báo chính thống đã đứng trước sức ép phải "giải trí hóa", "mềm hóa" để thu hút bạn đọc nhiều hơn.

Câu chuyện Washing Post từng "nuôi" 10 phóng viên điều tra để theo vụ Watergate suốt một năm giờ đã thành quá xa xỉ với làng báo.

Một số quan điểm coi sự chuyển dịch này là nguy hiểm đối với bản thân các giá trị và nguyên tắc chính thống của báo chí. Học giả Alex Jones, Giám đốc Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công của Đại học Harvard, còn cho rằng đó là dấu hiệu báo động đối với không chỉ báo chí mà còn với nền dân chủ Hoa Kỳ.

Một số quan điểm khác lại cho rằng, sự chuyển dịch ấy là hợp lý và tự nhiên, bởi nó phản ánh sự thay đổi trong nhu cầu xã hội. Vào những năm hoàng kim của báo in ở Mỹ thập kỷ 1970, chỉ có 10% số người Mỹ không bao giờ đọc tin tức chính thống, con số này giờ đây là 25%, và có tới 50% đọc rất ít và hầu như không quan tâm gì đến tin chính thống. Nếu như thế hệ cũ dành 1 tiếng một ngày cho tin tức, thế hệ mới ngày nay chỉ dành 15 phút.

Nếu báo chí chính thống tiếp tục chuyển biến theo hướng hiện tại, có thể thế giới sẽ tiến tới một nền báo chí gọi một cách to tát là hậu hiện đại, nơi rất nhiều thông tin nhưng rất ít tin tức, rất nhiều Blog nhưng không còn nhiều Báo đúng nghĩa nữa.

Các tờ báo chính thống đang loay hoay tìm kiếm nhiều giải pháp tự cứu nhưng vẫn chưa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm của thời đại số ngày nay.

Thứ Tư, 16 tháng 6, 2010

Sắp xếp lại vị trí các Bộ trưởng

Nguyễn Thế Thịnh – Theo đó, bác Nhân Thiện sang làm Bộ trưởng Bộ GTVT để quản lý 56 tỷ đô vốn xây đường cao tốc, nhất định là không thất thoát được vì bác đã rất thành công với cuộc vận động “Nói không với tiêu cực” trong ngành Giáo dục vốn do bác phụ trách trước đây…*

Xem và nghe các đại biểu QH chất vấn, các quan chức Chính phủ trả lời, không biết Trưởng ban Tổ chức TƯ nghĩ sao chơ tui nảy ra ý nên luân chuyển cán bộ lại cho đúng sở trường.

Theo đó, bác Nhân Thiện sang làm Bộ trưởng Bộ GTVT để quản lý 56 tỷ đô vốn xây đường cao tốc, nhất định là không thất thoát được vì bác đã rất thành công với cuộc vận động “Nói không với tiêu cực” trong ngành Giáo dục vốn do bác phụ trách trước đây.

Khi bác Nhân sang, bác Dũng Hồ từ bộ này sẽ chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT vì bác này rất có năng khiếu phát huy sự sáng tạo của học sinh và phụ huynh, như bác từng phát hiện ra việc đu dây sang sông là sáng tạo của người dân.

Bác Hùng Sinh sẽ sang làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng, vì bác có năng khiếu “xây cho nhà cao cao mãi” khi phát biểu khẳng định:Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng 6.000, lên 12.000 và sẽ đạt 20.000 năm 2050”.  Chẳng khác gì xây xong tầng 1 thì lên tầng 2 rồi lên tầng 3…

Bác Ðặng Hạnh Thu, nguyên Cục trưởng Cục Hải quan Đồng Nai, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, là Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đương nhiệm sẽ làm Tổng cục trưởng Tổng cục Phát triển nhà ở vì bác này rất nhiều đất đai, khỏi cần khai thác thêm quỹ đất…

Còn nhiều vị trí khác nữa, đây chỉ là những gợi ý nhằm đóng góp ý tưởng xây dựng một đât nước có GDP như việc xây cho nhà cao cao mãi theo tinh thần Tiến lên ta quyết tiến lên/ Tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu/ Hàng đầu rồi tiến đi đâu/ Tiến lên hàng đầu rồi tiến lên trên…

http://vn.360plus.yahoo.com/thinhbabel/article?mid=6636