Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Bệnh hưu trí

Hồ Phú Bông

Alzheimer là căn bệnh người già thường mắc phải. Người bị bệnh này quên hẳn mọi sự, kể cả chính mình. Nhưng giới có quyền cao chức lớn tại Việt Nam khi về già thì ngược lại. Họ mắc một loại bệnh lạ, đó là “bệnh hưu trí”.  Căn bệnh này giúp họ trở nên sáng suốt. Họ bỗng nhớ và phát hiện ra ngõ ngách nhiều vấn đề mà lúc còn đương quyền họ không hề biết hoặc thấy, cho dù đó là những vấn đề xảy ra hàng ngày. Và, khá lạ lùng, căn bệnh này còn giúp họ đủ can đảm nói lên sự thật, dù đó chỉ là những sự thật mà người dân bình thường đã biết từ lâu.

Tiêu biểu là cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Từ khi mắc “bệnh hưu trí”, ông mới nhận ra sự lầm than, ách nước tai trời tại miền Nam sau ngày “giải phóng”. Đó là lý do ông để lại khá nhiều trăn trở về cuộc chiến nồi da xáo thịt vừa qua trong một số bài viết mang tính trả lại sự thật cho gần với thực tế lịch sử mà lúc quyền cao chức trọng chẳng bao giờ nghe ông nhắc đến.

Căn bệnh này cũng lây lan đến một số ông bà có chức, có quyền của chế độ, ở đủ mọi giới, đặc biệt là những người có khả năng viết lại, ghi lại.  Do đó trước khi về cõi, các ông bà ấy mới quay ra “Đi tìm cái tôi đã mất”![1]

Mới đây nhất, cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trả lời phỏng vấn trên VietNamNet, bàn về sửa đổi hiến pháp sau khi các đại biểu bấm nút (gồm 208 phiếu chống/185 phiếu thuận cho đại dự án Đường sắt Cao tốc, sau hai tuần tranh cãi tại Quốc hội mà đảng viên Đảng Cộng sản chiếm đến 90%). Ông hùng biện về những sai trật khiến hiến pháp dân chủ năm 1946 đã biến tướng thành một hiến pháp mất dân chủ như hiện tại, khi đặt quyền hành của Đảng “ta” bao trùm lên tất cả. Thời vàng son, là thời ông cầm trịch ở Quốc hội, “Cơ quan quyền lực cao nhất” của chế độ, chẳng bao giờ nghe ông nói bất cứ điều gì về hiến pháp cũ / mới như vậy.

“Bệnh hưu trí” đã giúp ông Nguyễn Văn An phát hiện ra hiến pháp Việt Nam hiện hành là: “không gần với những khuôn mẫu chung của thế giới và có một số quy định cốt lõi lại xa rời với Hiến pháp 1946.”[2] Thực chất Hiến pháp Việt Nam đang có chỉ là loại mẫu mã để trưng bày hơn là để thi hành. Là một loại “hàng nhái” theo kiểu của các nước dân chủ phương Tây. Đây là gốc rễ việc Đảng “ta” đã lãnh đạo đất nước theo kiểu tự tung tự tác. Tự đá bóng và thổi còi!  Giá mà ông Nguyễn Văn An đưa ra lời bình luận trước khi các đại biểu Quốc hội bấm nút đại dự án Đường sắt Cao tốc thì “bệnh hưu trí” của ông càng “hoành tráng” hơn nữa!

Quốc hội Việt Nam hiện tại là một quốc hội trẻ, chỉ có 49/493 vị có năm sinh từ 1950 trở lên. Phải chăng chính nhờ sự trẻ trung này nên họ đã không chờ đến lúc bị “bệnh hưu trí” mới phát hiện ra nan đề? Do đó nội dung tranh cãi đại dự án Đường sắt Cao tốc mới làm dư luận sôi nổi, giúp mọi người hiểu rõ vấn đề. Giờ đây bốn chữ viết tắt ĐSCT đã trở nên quen mắt mọi người. Từ thu nhập bình quân đầu người hiện tại ước tính cho đến năm 2050, chỉ số GDP hiện tại ước tính cho đến 2050 đều được ông Phó Thủ tướng, có học vị Tiến sĩ kinh tế, nêu rõ mồn một bằng những con số rất ấn tượng, cho dù những con số này được trưng dẫn ra chỉ để chứng minh khả năng có thể trả nợ, 56 tỷ đô la Mỹ!  Ấy thế mà lần đầu tiên các đảng viên đại biểu Quốc hội của ông bất tuân lệnh Đảng “ta”!

Căn bệnh mãn tính “gọi dạ bảo vâng” của lịch sử Quốc hội Việt Nam đã bắt đầu một ngày mới, hôm 19 tháng 6 năm 2010!  Dù chưa biết sự trái khuáy này chỉ (1) như một ánh chớp trong cơn giông mưa mùa hạ, (2) thoáng qua cho có vẻ dân chủ trước Đại hội Đảng khóa XI sắp tới, (3) là đòn phép phe phái nội bộ đang chia rẽ, (4) mà Ban Bí thư Trung ương muốn đo lường lòng trung thành của đảng viên với Bộ Chính trị, (5) hay đây là sự giật mình thức tỉnh của lương tâm người Việt Nam trước thảm họa di hại lâu dài cho dân tộc?

Mọi lợi hại về đại dự án ĐSCT đã được phân tích tỉ mỉ từ nhiều giới và phổ biến rộng rãi.

Cứ nghĩ là dự án ĐSCT đã thực hiện xong thì liệu sẽ tiết kiệm được bao nhiêu thời gian cho một người di chuyển từ làng quê ra Hà Nội để đi Sài Gòn và ngược lại? Người dân đu dây vượt sông Pôkô, từ xã Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi, Kontum[3] về đến miền xuôi để đáp tàu cao tốc, ì ạch từ quê ra tỉnh vì không có cơ sở hạ tầng, có bù lại với thời gian tiết kiệm được khi ngồi trên tàu cao tốc mà phải chịu nợ ngập đầu?

Xin chúc mừng 208 ông bà đại biểu Quốc hội đã bấm nút nói không với ĐSCT!  Quí ông bà nên tự hào với chính mình, là đã vượt qua được nỗi sợ hãi đeo bám bấy lâu nay.  Quí ông bà đã xóa tan cái bóng ma quái ám ảnh và mạnh dạn nói với người dân cả nước là, cơn cuồng vọng đại dự án ĐSCT đã qua rồi!  Đó chỉ là Đặc Sản Cuồng Tham!

Rất mong quốc hội trẻ Việt Nam sử dụng đúng vai trò lịch sử của mình chứ đừng đợi đến khi mắc “bệnh hưu trí”!

2/7/2010

© 2010 Hồ Phú Bông

© 2010 talawas


[1] Nguyễn Khải: http://www.diendan.org/sang-tac/111i-tim-cai-toi-111a-mat/

[2] http://www.tuanvietnam.net/2010-06-24-cuu-chu-tich-quoc-hoi-ban-viec-sua-hien-phap

[3] http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/06/3BA1CAD2/page_2.asp

Chuyện hy hữu: công an gọi gái bán dâm bằng chị (xem ảnh chụp công văn), chủ tịch tỉnh chụp ảnh ở truồng... http://clbnhabaotudo.multiply.com/journal/item/2116/2116

Bài học Ba Lan cho Giáo hội Công giáo VN

Nguyễn Văn Lục

Hóa ra các sự việc, biến cố xảy ra gần đây đều là do lỗi của giáo dân, một số tín hữu để thói đời lôi cuốn? Và trách nhiệm của các mục tử là giáo dục, huấn luyện tín hữu?

Tôi không thể chia sẻ được cách nhìn sự việc về các biến động xảy ra trong các giáo xứ và các địa phận chống đối lại nhà cầm quyền bằng lối nhìn đơn giản và quy chụp như thế được.

Khi giáo dân đòi hỏi tranh đấu, khi giáo dân bị nhà cầm quyền đánh đập, bị bắt, bị truy tố ra tòa án thì các vị mục tử ở đâu? Phải chăng đó là tình trạng để cho thói đời lôi cuốn?

Thế cho nên, nỗi lo lắng cho giáo hội không phải là sợ giáo dân phai mờ lòng đạo mà sợ các mục tử mất bản chất, biến thái.

Vâng thực sự đó là nỗi lo của chúng tôi đấỵ.


Hoạt động của cộng sản
Nguồn: hitchcock.itc.virginia.edu

Nếu cứ áp dụng lề luật giáo hội một cách nghiêm khắc thì có thể một số giám mục và mốt số linh mục phải bị «treo chén», hoặc bị rút phép thông công mới phải.((Anathème).

Họ không xứng đáng trong vai trò của họ.

Họ mất bản chất trong cái hèn của họ được đồng hóa với sự khôn ngoan. Bằng chứng là ngay giữa lòng tổng giáo phận Sài gòn, người ta vẫn thấy linh mục có thẻ đảng đứng làm trùm trong phẩm trật giáo hội một cách công khai từ mấy chục năm nay?

Không một ai dám lên tiếng phản bác công khai về sự hiện diện « lù lù, trơ trẽn » của. tên cán bộ cộng sản này. Ngoại trừ giám mục quá cố Lê Đắc Trọng.

Ai có thể nói là Huỳnh Công Minh không theo lệnh đảng tổ chức cài đặt mạng lưới cán bộ đảng viên trong hàng ngũ tu sinh? Ai có thể biết chắc có bao nhiêu tu sinh có thẻ đảng đã được Huỳnh Công Minh chuẩn phê?

Nuôi cộng sản trong nhà là nuôi một kẻ nội thù và một ngày nào đó trả giá. Kẻ lãnh đạo giáo phận có lòng không thể mãi tiếp tục làm ngơ chuyện này được mãi.

Chúng ta cần những giám mục, linh mục có một chữ "DÁM". Dám nói, dám dấn thân, dám đứng về phía tín hữu. Có bao nhiếu linh mục dám đứng về phía giáo dân trong các cuộc tranh đấu đòi quyền lợi về cho giáo hội.

Có linh mục biện hộ cho sự có mặt của Huỳnh Công Minh là có ích cho giáo hội, vì mỗi lần cần xin điều gì thì Huỳnh Công Minh có thể nói một tiếng là xong. Chúng ta có cần một thứ trung gian giữa giáo hội và chính quyền bằng một Huỳnh Công Minh không?

Đó là một thứ tương quan bệ rạc của cơ chế xin cho.

Ông ta có thể làm lợi 9 điều và hại một điều. Nhưng mục đích chính của y là kiểm soát, bá cáo và điều động theo chiều hướng thuận lợi cho đảng cầm quyền.

Giáo hội phải đủ can đảm loại trừ những thành phần trung gian kiểu Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ để cho mối liên lạc giữa giáo hội và chính quyền trở thành lành mạnh hơn.

Ai có thể tin được là ngay những chức sắc trong địa phận cũng răm rắp tuân theo những lời khuyến cáo của viên tổng quản tòa giám mục? Những điều họ phát biểu là đều xuất phát tự cái tâm của họ hay do có tên cò mồi xúi dục? Nào ai biết được điều gì đã xảy ra?

Và các mục tử càng bào chữa càng cho thấy sự bất trung (infidèle) của họ với lý tưởng, biến những lời kinh thánh thành một thứ diễn giải tùy tiện, sai lạc như thẻ dị giáo (hérétique).

Những điều họ phát ngôn cho ta có cảm tưởng họ phát ngôn làm sao để không phải nói sự thực mà không phải là nói dối.(not to tell the truth without really lying).

Đó không phải là thứ ngôn ngữ của người tu đạo. Tại sao Giáo hoàng John Paul II nói điều gì thì điều ấy thấm vào lòng người còn những mục tử kia nói không nghe lọt tai, có nghe cũng không hiểu.
Hay là họ đang “nói tiếng lạ” đây?

Xin ghi nhân một số đông trí thức hải ngoại phát biểu trong cái tinh thần lo lắng cho hình ảnh giáo hội đang bị phai nhòa ấy.

Và nếu vì một lẽ nào đó, có một số tu sĩ biến giáo hội thành giáo hội quốc doanh thì cái lỗi đó đổ hết trách nhiệm lên Hội Đồng giám mục và các giám mục.

Đi vào thông điệp thứ hai

Khi giáo hội Ba Lan phát giác ra môt số giám mục và linh mục làm tay sai cho chính quyền cộng sản thì điều đó đã gây một cú sốc trong dân chúng. Sau đó linh mục Isakowiez Zaleski đã hoàn thành một tập sách nhan đề Các linh mục Ba Lan và cơ quan mật vụ cộng sản Ba Lan dựa trên những tài liệu văn khố mật còn được lưu trữ, trong đó tại chương bảy đã liệt kê 39 giáo sĩ đã cộng tác với mật vụ Ba Lan với 4 giám mục.

Riêng Hồng y Glemp tiết lộ cho biết một số linh mục người Ba Lan làm việc tại Vatican đã làm việc cho công an mật vụ của Ba Lan dưới thời cộng sản để theo sát và bá cáo về những việc làm của giáo hoàng John Paul II. Ông nói thêm, “Tại Vatican có gián điệp và Moscow rất để ý tới những gì đang xảy ra tại Roma dưới quyền John Paul II.” Và ông cho rằng có đến 15% giáo sĩ nước này đã cộng tác với mật vụ Ba Lan.

Vấn đề phát giác của Hồng y Glemp là quá trễ, tại sao Hồng y Glemp biết mà giữ kín không tiết lộ ra. Sự im lặng này mang ý nghĩa gì?

Nhưng còn bao nhiêu trường hợp cộng tác bí mật, giao thiệp chỉ bằng lệnh miệng, thực giả thật không dễ.
Chuyện giáo hội Ba Lan không phải chỉ là chuyện của người hàng xóm, không liên can gì đến Việt Nam. Không, điều gì đã xảy ra ở Ba Lan thì cũng có nhiều cơ hội xảy ra ở Việt Nam và có thể đạt một mức độ báo động.

Vậy có bao nhiêu tu sĩ, linh mục Việt Nam làm tay sai cho công an, cảnh sát mật vụ? Không có con số nào cho phép người ta đưa đến một kết luận về những con số này. Phần vì cả hai phía đều giữ bí mật, phần thì cách làm việc của công an chỉ dùng lệnh miệng không để lại dấu tích gì.

Nhưng dầu vậy, có rất nhiều tín hiệu để biết ai là người tốt, kẻ xấu.

Tiện đây, xin trích dẫn một tín hiệu, đoạn báo đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 20 tháng 10 năm 1992 như sau:

“Thủ tướng Võ Văn Kiệt tiếp Hội đồng giám mục Việt Nam” đăng trên trang nhất:

Ngày 19 tháng 10 năm 1992, thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tiếp Hội đồng giám mục Việt Nam đến Chào và Bá cáo kết quả đại hội lần thứ 5 của Hội đồng giám mục Việt Nam... Giám mục Nguyễn Văn Sang, phó chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam, đã bá cáo kết quả Đại hội đồng giám mục lần thứ 5 và trinh kiến nghị của Hội đồng giám mục gửi thủ tướng. Thay mặt Hội đồng giám Giám mục, giám mục chủ tịch Nguyễn Minh Nhật đã bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà nước, chính phủ và thủ tướng và hứa cùng đồng bào, linh mục, tu sĩ, giáo dân chu toàn nhiệm vụ của mình trong tinh thần kính chúa yêu nước.”
Những ngôn ngữ như thế, tôi đọc thấy xấu hổ và nhục, làm sao tôi có thể tin tưởng vào hội đồng giám mục Việt Nam được?

Tinh thần thụ hưởng và chủ nghĩa cá nhân rất là rõ rệt. Lm Nguyễn Huy Mai, giám mục Ban Mê Thuột bị nhà nước trù dập, quản thúc cấm đi họp HĐGMVN, cấm đi viếng ad limina, v.v... không được phép dự HĐGMVN và họ đã nại ra đủ thứ lý do cấm đoán ông. Các giám mục thay vì bày tỏ thái độ liên đới bằng cách hoãn phiên họp hay hủy bỏ phiên họp.

Nhưng ai dám làm điều ấy?

Khi tổng giám mục Kiệt bị tống xuất ra nước ngoài, ai là người dám lên tiếng? Thỏa hiệp, im lặng để được dễ dãi cho mình, thây kệ sự bất công đối với kẻ khác, nhưng vẫn tin rằng mình hành xử vì Chúa, vì giáo hội.

Đó là sự ngụy tín tôn giáo trong niềm tin mà thật ra chỉ là một hình thức phản bội và bất trung.

Phần giáo dân cần ghi nhận điều này: các vị giám mục được chọn không phải là thần thánh gì ..không phải là những con người toàn hảo.

Mới đây nhất, Hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn lại tất bật sang Vatican nhằm “giải độc” dư luận nhân vụ tổng giám mục Kiệt với lá thư nhan đề: Tôi nghe thấy và học được gì từ những cuộc gặp với Bộ ngoại giao và bộ truyền giáo Vatican trong hai ngày 1 và 2 tháng 6-2010

Tôi đã đọc đi đọc lại ba bốn lần lá thư, nhưng thú nhận là tôi bất lực, vì không nắm bắt được một cái gì cụ thể, minh bạch trong những lời giải thích của Hồng Y Ivan Dias, của Tổng giám mục Mamberti, của đức ông Ballestrero.

Tốt hơn hết, xin trích dẫn một đoạn để độc giả cùng chia xẻ:

“Sau khi nghe tôi giải bày tình hình do dư luận tạo ra. Đức tổng giám mục Mamberti, bộ trưởng bộ ngoại giao Vatican, nói về phần vụ của bộ ngoại giao và đường hướng phục vụ lợi ích của giáo hội địa phương và toàn cầu trong sự tôn trọng ý kiến của người liên hệ. Đức ông Ballestrero, thứ trưởng cho biết trong thực hành đường hướng đó, bộ luôn luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của đương sự, luôn lưu tâm đến chức vụ cùng đời sống của đương sự trong tương quan với xã hội.”

Ai có thể giải thích rành mạch rõ ràng đoạn văn này, xin chỉ dùm.

Hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn thiếu sự minh bạch (transparency) trong nội dung lá thư bởi vì một lẽ đơn giản vì cái tâm ông không trong sáng. Ông dấu diếm che đậy.

Tuy nhiên, cái ngây ngô là Hồng y Mẫn đã trích dẫn Hồng y Glemp, giáo chủ Ba Lan như một mẫu mực với lời khuyên khôn ngoan như sau, “Hồng y giáo chủ Ba Lan, người đã sống qua 3 chế độ xã hội cũng đã có lời khuyên tương tự khi đến Việt Nam thăm hỏi tôi trong năm vừa qua.”

Nhưng Hồng y Glemp là ai?


Hồng y Glemp
Nguồn: Flickr.com
Khi biết Lm Jerzy có thể bị nguy hiểm đến tính mạng, Giáo hoàng John Paul II đã gửi thư báo động cho Hồng Y Glemp như sau, “Hãy bảo vệ cha Jergy Popieluszko, nếu không có ngày họ sẽ tìm thấy vũ khí ngay tại bàn giấy mỗi đức giám mục …”

Hồng y Glemp có nhận thức được lời cảnh cáo từ Vatican và đã có những biện pháp gì nhằm bảo đảm tính mệnh cho linh mục Jergy Popieluszko? Chắc là không. Ngược lại ông chỉ muốn tống xuất linh mục này ra khỏi Ba Lan cho đỡ bị quấy rầy.

Thái độ ấy thật đáng trách.

Xin hãy dở lại trang sử cuộc tranh đấu của công đoàn Đoàn kết và thái độ ứng xử của Hồng y Glemp như thế nào:

“Tại Krakov, theo đề nghị của vị tổng giám mục, một vị linh mục được lệnh rời nơi thờ Chúa được giành cho Công Đoàn Đoàn kết vào phía trong nhà thờ và dùng các cuộc họp đào tạo công nhân được tổ chức tại nhà thờ.

Tuy nhiên, nhiều cha xứ khắp cả nước chỉ trích một cách thẳng thắn vị tổng giám mục, Họ ủng hộ phong trào chống đối và chương trình rộng lớn khôi phục xã hội mà Công đoàn Đoàn kết đại diện».
Trích “Đức giáo hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy”, Carl Bersnstein và Marco Politi, trang 515, nxb Công an nhân dân.

Hồng Y Glemp được coi như một người bảo thủ và trở thành lực cản cho phong trào tranh đấu của Walesa.

Phải chăng đây là điều mà Hồng y Mẫn muốn theo gương Hồng y Glemp? Phải chăng vì thế mà bài “giải độc” này đã được trân trọng đăng trên Công giáo và dân tộc?

Nếu quả thực như vậy thì là điều bất hạnh cho giáo hội Việt Nam .


Đôi dòng thay lời kết


Khi đang viết bài này thì người viết gặp một chị bạn cùng đi chợ Việt Nam. Chị là người đạo dòng và luôn luôn mang cái tâm tình mến Chúa, kính trọng các vị bề trên trong giáo hội cho dù các vị ấy có sai sót. Chị tỏ ra buồn phiền về một số bài bào viết đả kích nặng nề các “đấng bề trên” trong giáo hội, trong đó có một số bài viết của chính tác giả.

Cái tâm tình ấy vốn là truyền thống đáng kính cũng cần được tôn trọng và giữ gìn.

Sự phiền muộn ấy thật chính đáng và không thể không làm người viết cẩn trọng hơn trong khi cầm bút. Trách nhiệm người cầm bút chẳng những đối với độc giả mà con với những tín hữu như chị bạn nói trên.
Khi viết những dòng này, người viết cũng không thể không nghĩ đến một vài giám mục vốn là bậc đàn anh mà người viết có quen biết từ thuở thiếu thời. Cũng càng không thể quên được những vị đã từng là bạn học trên ghế nhà trường và ngay cả một số vị thuộc thế hệ lớp sau.

Có thể quý vị ấy đọc bài này không khỏi không đau lòng và buồn phiền.

Nhưng nếu suy nghĩ cho cùng, sự thật là giải pháp duy nhất giải thoát chúng ta.

Người viết mong muốn là mọi người hãy vượt lên chính mình để biết đâu là con đường phải theo.
Mọi người hãy từ bỏ thái độ yên tâm mà người viết cảm thấy không yên tâm chút nào.

Không nói, giữ im lặng có thể trở thành điều tồi tệ hơn thế nữa khi mọi chuyện được phát giác va phơi bầy ra như trường hợp vị tổng giám mục Ba Lan ở trên.

Bởi vì người cộng sản luôn luôn tìm cách phá rối, gài đặt, ly gián, phao vu như trong các trại cải tạo, trong cộng đồng tín hiữu, gây chia rẽ và nghi ngờ.

Thật không dễ khi phải sống chung với người cộng sản và cũng thật klhông dễ giữ được lòng dạ ngay thẳng và cương trực.

Trách nhiệm các tôn giáo trước cảnh một xã hôi suy vong thật lớn lao. Không có tôn giáo, xã hội Việt Nam không còn là một xã hội của con người nữa.

Mỗi lần đọc báo, nhìn thấy những cảnh đời bên Việt Nam hiện nay với những nhan đề tin tức trong những ngày gần đây làm người viết sửng sốt và tuyệt vọng. Đại loại như những mẩu tin Anh trai tưới xăng thiêu cháy em ruột…. Chồng ghen, chồng tạt chảo dầu sôi vào người vợ…. Sắp xử kẻ cuồng ghen đâm kim vào đầu bé sơ sinh…. Hà Nội mâu thuẫn gia đình, con gái đâm chết cha. Kẻ cắt đầu người yêu cũ đối với mặt với án tử hình… Chuyện không muốn chứng kiến ở nơi “tước bỏ quyền làm mẹ”…

Đọc những tin trên, thưa bạn đọc, thưa các vị lành đạo tôn giáo, tôi chỉ có thể nói rằng chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ nghĩa khước từ con người.

© DCVOnline

Tình cảm trong lĩnh vực công nghệ tình dục ở thành phố Hồ Chí Minh (trích)

KIMBERLY KAY HOANG
(Nguyên Trường dịch)

Khu vực cao cấp: “Nhiều người thích cô ấy, nhưng cô ấy chỉ đi với tôi thôi

Những người phụ nữ làm việc trong khu cao cấp của ngành kĩ nghệ tình dục ở Việt Nam không ra giá trực tiếp. Trong khu vực này, quan hệ kinh tế và tình cảm đan xen vào nhau đến mức là cả đàn ông lẫn phụ nữ đều thường cố gắng thể hiện quan hệ tình cảm mà ít nói với nhau trực tiếp về tiền (Zelizer, 2005). Người lao động tình dục trong khu vực cao cấp có gắng tạo dựng “quan hệ thân tình” và che đậy sự kiện là muốn được trả nhiều tiền hay quà tặng đắt tiền (Zelizer, 2005). Giống như những người lao động tình dục ở Thái Lan mà Aura Wilson (2004) đã khảo sát, những người phụ nữ hoạt động trong khu vực cao cấp ít khi ra giá trực tiếp. Đa số bỏ túi được nhiều hơn bằng các món quà. Các cô thường chi khá nhiều tiền cho các thẩm mĩ viện và quán bar, nhằm tạo cho khách hình ảnh của những người đi chơi giàu có. Nhưng khác với những người phụ nữ địa phương vào quán với bạn bè, những người này biết rằng họ đang làm việc. Họ lợi dụng sắc đẹp và khả năng biến tình cảm của mình thành một món hàng. Khách làng chơi quan hệ với những người lao động tình dục cao cấp trả tiền không chỉ vì nhục dục, họ trả tiền vì người đàn bà đẹp và đáng yêu, những người dành nhiều thời gian tâm sự với họ trong nhà hàng hay quán café chứ không chỉ làm tình. Tôi xin minh hoạ khu vực cao cấp bằng hai câu chuyện của một người lao động và một khách làng chơi trong ngành công nghệ tình dục Việt Nam như sau.

Tôi làm quen với Thanh, một Việt kiều, cũng là chuyên viên máy tính ở Paris về Việt Nam thăm gia đình, sống cùng khách sạn với tôi. Một tối Thanh cho tôi đi theo anh ta. Sau khi vào quán Whisper, một quán bar nằm ngay trung tâm quân 1, Thanh nói với tôi [bằng tiếng Anh]: “Tất cả [các cô ở đây] đều làm, chị phải trả giá đúng”. Khi tôi đề nghị giải thích thì anh ta nói: “Đấy là món đồ uống mà chị sẽ mua. Tôi nghĩ, thường thì mua một chai Remy [chai Cognac giá khoảng 100 dollars] và sau đó mời các cô đến nói chuyện”. Đêm đó Thanh gặp hai người, Châu và Hoài, cả hai đều mặc quần áo cộc và đi giày cao gót. Châu 23 tuổi, còn Hoài 24. Khi Thanh giới thiệu, chúng tôi cùng mỉm cười và không nói chuyện được nhiều vì nhạc trong quán mở to quá. Thanh thích Hoài và họ bắt đầu ve vãn nhau. Cuối buổi Thanh và Hoài cho nhau số điện thoại và họ đi vào khách sạn, vào quán café, quán bar với nhau suốt hai tuần liền. Trước hôm Thanh trở về Paris tôi đã mời anh ta đi uống café và làm một cuộc phỏng vấn không chính thức. Câu đầu tiên Thanh nói với tôi bao trùm việc buôn bán sắc đẹp của đàn bà và ước muốn của đàn ông [bằng tiếng Anh]:

“Chị biết đấy, tôi chỉ ở đây có hai tuần thôi và có một người đẹp đi chơi cùng thì còn gì thú bằng. Nghĩa là, chị biết đấy, tôi là thanh niên Việt Nam , tôi mua cho cô ta đồ trang sức, quần áo và cho cô ta tiền tiêu trong thời gian chúng tôi bên nhau. Thanh niên da trắng kiệt sỉ lắm. Họ đếm từng xu, trong khi người Việt Nam chúng ta phóng khoáng hơn. Tôi là người tốt, chị biết đấy, tôi cho cô ấy tiền và mua cho cô ấy tặng phẩm. Tôi quan tâm đến cô ấy. Tôi có thể tiêu nhiều tiền trong hai tuần cũng không sao. Đây là kì nghỉ của tôi”.

Khi tôi hỏi Thanh trong hai tuần qua anh ta đã chi cho Hoài bao nhiêu, thì anh ta bảo: “Tôi không biết. Tôi mua cho cô ấy rất nhiều đồ, thỉnh thoảng tôi lại đưa cho cô ấy hai trăm… có thể sáu bảy trăm dollars”. Khi tôi nói về quan niệm của anh ta về những người làm việc trong lĩnh vực tình dục ở Việt Nam và tỉ giá ngoại tệ, Thanh giải thích: [bằng tiếng Anh]:

“Những cô gái này cao giá vì họ trẻ, xinh xắn, và những anh chàng khác cũng muốn. Chị biết đấy, họ khéo léo và biết nói tiếng Anh. Họ biết cách nói chuyện với đàn ông… Tôi biết nếu tôi đưa ít thì cô ấy sẽ đi với người khác. Tôi không muốn những cô xấu xí đang nói chuyện với mấy tay da trắng mà chị nhìn thấy kia.”

Việt kiều, tương tự như Thanh, đến Việt Nam để thụ hưởng không chỉ tình dục. Những người đàn ông này mua dịch vụ của những người lao động tình dục trong khu vực cao cấp, tức là mua dịch vụ của những cô gái trẻ, đẹp, phong lưu và có nhiều người thích, và quan trọng hơn là làm cho họ cảm thấy là mình cũng được người khác thích. Những người phụ nữ này còn tạo điều kiện cho đàn ông thể hiện sức mạnh của đồng tiền của mình bằng cách tạo ra cách sống sang trọng. Những người lao động tình dục trong khu vực cao cấp dùng tình cảm để tạo ra cảm giác thèm muốn và cảm giác về quyền lực của khách bằng cách giúp những người đàn ông đó thể hiện nam tính của mình ở những nơi công cộng (Allison, 1994). Cái ham muốn đó hiện diện không chỉ trong khả năng thanh toán của Thanh mà còn nằm trong khả năng thể hiện tình cảm của Hoài khi cô cùng với Thanh vào quán café, khách sạn hay quán bar (Constable, 2003). Trong khu vực cao cấp, quà tặng là thứ bắt buộc phải có để trao đổi. Thông qua những món quà tặng đắt tiền, cả người lao động lẫn khách làng chơi đều thể hiện mình là những người sành điệu hơn những người đàn ông và đàn bà trong khu vực trung và hạ cấp, tức là những người sử dụng quan hệ tình-tiền theo kiểu “tiền trao cháo múc” (Peiss, 1986).

Nhiều người lao động trong khu vực này có khả năng và cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc cung cấp cái mà Hochschild gọi là “tình cảm sâu nặng” (deep acting). Một trong những người như thế là Kim Lý, một người bạn trai đã giới thiệu tôi với cô vào tháng 8 năm 2006. Cũng như những người mà tôi ngờ rằng đang làm trong lĩnh vực tình dục khác, tôi phải chờ cho đến khi khá thân với Kim Lý mới dám hỏi thẳng và trực tiếp về công việc của cô. Giống như một số người phụ nữ làm việc trong khu vực cao cấp, Kim Lý xuất thân từ một gia đình khá giả. Cha mẹ cô có một cửa hàng bán đồ mĩ phẩm sản xuất tại Nhật và Hàn Quốc ở quận 1. Kim Lý thường mời tôi đi uống café, vào mĩ viện và quán bar, cho thấy khả năng kinh tế và xã hội tạo điều kiện cho cô sự tự tin và có những cầu nối để gia nhập những quán bar cao cấp, nơi cô có thể gặp gỡ những người đàn ông Việt kiều khác nhau. Trong thời gian gặp gỡ tôi, Kim Lý đang hẹ hò với hai Việt kiều Mĩ; một người từ San Jose, California còn người kia thì từ Pittsburgh, Pennsylvania tới. Mới 21 tuổi, những đêm cuối tuần Kim Lý thường đến các quán bar cao cấp trong những khách sạn 5 sao hay những địa điểm như Whisper. Khả năng kinh tế và xã hội của Kim Lý giúp cô che giấu vai trò của mình (người lao động tình dục) đối với đa số đàn ông trong khi kín đáo thể hiện nó với một số người khác.

Một tối (tháng 6 năm 2007) Kim Lý và tôi tới Whisper. Đêm đó tôi mới biết rằng so với những người phụ nữ trong các khu vực khác, những người hành nghề trong khu vực cao cấp thường bỏ rơi những khách làng chơi mà họ thấy là không hợp, như Kim Lý đã làm hôm đó. Bỏ rơi đàn ông thường làm cho cô có nhiều khách hàng hơn, đặc biệt là Việt kiều, những người mà cô có thể lựa chọn. Hơn nữa, nó còn đưa đến cho cô những người thích cô để cô lựa chọn. Cô nói với tôi [bằng tiếng Anh]:

“Phải biết cách nói chuyện với đàn ông Việt kiều. Không được nói ngay là tôi sẽ ngủ với anh, còn anh sẽ trả tiền cho tôi. Nếu muốn được nhiều tiền hơn thì phải kiên nhẫn và biết cách nói chuyện với họ”.

Khi tôi đề nghị giải thích thì cô bảo [bằng tiếng Việt]:

“Chị biết đấy, nhiều cô gái cảm thấy ngượng khi đòi tiền ngay. Nhưng đấy là những con ngốc. Như em thì em sẽ nói: ‘Anh yêu ơi, phải tiết kiệm mới được. Ăn ở chỗ nào rẻ rẻ thôi’. Lúc đó họ sẽ nghĩ là em quan tâm tới họ và họ sẽ cho tiền. Không cần phải đòi. Chị hiểu không? Việt kiều thường hào phóng. Em phải tỏ ra quan tâm tới họ bằng những việc nhỏ nhặt thôi và họ thường cho em những món đồ đẹp như thế này (vừa nói cô vừa chỉ vào cái vòng bằng vàng trắng trên cổ tay”.

Trong những trường hợp như vậy, những người đàn bà như Kim Lý thể hiện tình cảm bằng cách giả vờ quan tâm tới túi tiền của khách. Tương tự như các cô trong công trình nghiên cứu của Amy Flowers về trí tưởng tượng bằng công nghệ tình dục qua điện thoại, Kim Lý thường nói dối, đóng kịch với khách, kể chuyện nhằm kiếm được những món quà tặng đắt tiền (Flowers, 1998). Những người phụ nữ này dành nhiều thời gian và công sức nhằm lèo lái và trình diễn tình cảm với khách hơn là làm tình “theo lối mì ăn liền”. Nhằm khẳng định mình là những người phụ nữ trẻ, đáng ước ao, họ thường làm cho khách tin rằng họ không cần đàn ông, mà là những người phụ nữ có quyền lựa chọn, những người yêu và thích đi chơi với những người đó.

Khi tôi hỏi cách thức cô quyết định sẽ ngủ với người nào, nếu khi mới gặp cô không thể hiện cho họ biết rằng mình là người làm trong lĩnh vực tình dục, thì cô giải thích:

“Em không ngủ ngay. Em phải nói chuyện với họ trong quán café, rồi đi nhà hàng nữa. Em chỉ ngủ sau khi đã nhận được tiền hoặc quà. Phải bắt họ làm, không thì họ sẽ chẳng coi mình ra gì. Nếu em nghĩ rằng đấy là người kiệt xỉ thì em sẽ không nhấc máy mỗi khi họ gọi nữa”.

Điều này cho thấy thời gian đóng vai trò như thế nào trong quan hệ ở khu vực cao cấp. Những người phụ nữ này mất nhiều ngày thậm chí nhiều tuần với khách nhằm tạo ra quan niệm về sự sang trọng trong khi chờ đợi được trả bằng tiền hay quà cáp trước khi đồng ý ngủ với khách. Những người như Kim Lý, tức là những người đóng vai khách hàng giàu có trong các quán bar và câu lạc bộ đắt tiền ở thành phố Hồ Chí Minh, phải chi cho riêng khoản uống đã là khoảng từ 15 đến 100 USD một đêm. Khác với những người phục vụ khách làng chơi địa phương và người da trắng, những người làm trong khu vực cao cấp hoạt động độc lập và không bao giờ thể hiện công khai là những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ tình dục. Bằng cách thanh toán bằng quà tặng, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều che giấu được hình ảnh của họ. Đây là cách làm hiệu quả vì những Việt kiều như Thanh thích đi quán, đi nhà hàng với những người phụ nữ đẹp, những người tạo cho họ cảm giác là được người khác quan tâm.

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Bài học Ba Lan (I)

Nguyễn Văn Lục

Bài học Ba Lan cho Giáo hội Công giáo Việt Nam

Kính tặng TM Ngô Quang Kiệt

Ba Lan (Poland) là một nước đa số dân theo Thiên Chúa giáo. Giáo hoàng John Paul II khi trở về Ba Lan đã nhận định, “Chẳng lẽ chúng ta không có quyền nghĩ rằng trong thời đại chúng ta, Ba Lan đã trở thành một mảnh đất có một trách nhiệm đặc biệt để làm một nhân chứng?” (Trích “Giáo hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta”, Carl Bernstein và Marco Politi, trang 17. Nxb Công an nhân dân.)

Những biến cố chính trị làm thay đổi diện mạo thế giới và tôn giáo xảy ra tại Ba Lan gửi đến cho mọi người hai thông điệp chính yếu:

• Thông điệp thứ nhất chỉ ra rằng có một ưu thế vượt trội của những giá trị tôn giáo và tinh thần nhân bản (human spirit) trên ý thức hệ cộng sản. Ý thức hệ cộng sản xem ra đã lỗi thời, đã mục nát. Vì thế khi được hỏi ngài đã làm gì để chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ, Giáo Hoàng John Paul II đã nhận xét rất đơn giản và cụ thể, “Tôi không tạo nên điều này. Một cái cây đã mục, tôi lay mạnh là nó đổ.” (Trích “Một quan điểm về Giáo hội và chính trị”, Người tín hữu. Nguoitinhuu.com/chiase/linhtinh/churchPolitichtm

Và chế độ cộng sản đã sụp đổ mà không cần tốn một viên đạn tại Ba Lan, Liên Xô (Soviet Union), Hungary, Tiệp Khắc (Czechoslovakia cũ), Đông Đức (German Democratic Republic). Đó là một sự sụp đổ dây chuyền ngoài dự đoán của mọi người.

Người Việt Nam phải tin chắc rằng điều gì đã xảy ra cho chế độ ấy ở khắp nơi thì số phận dành cho nó ở Việt Nam dứt khoát sẽ không khác.

Sự chọn lựa dứt khoát của dân chúng Ba Lan khi đón tiếp vị giáo hoàng nói lên điều này, “We want God.” Chúng tôi muốn có Chúa. Có nghĩa là họ không chấp nhận chế độ cộng sản nữa.

Chỉ mấy chữ đó thôi đủ nói trọn vẹn tất cả.

Sở dĩ người dân Ba Lan có thể khẳng định như thế vì họ có được những nhân vật tiêu biểu cho tình thần nhân bản, tinh thần đạo giáo. Đó là những Hồng y Wyszynsky, Giáo hoàng John Paul II và linh mục Jerzy Popieluszko.

Thiên Chúa giáo Việt Nam cố gắng vươn lên theo với những con người như Trịnh Như Khuê, Nguyễn Kim Điền và mới đây Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi.

Đó là tin mừng của một giáo hội lên đường theo tinh thần của các tông đồ xưa: Hãy ra khơi. (Duc in altum). Hãy ra khơi là chấp nhận tất cả những sóng gió, bão táp và hiểm nguy.

Sự trù dập, đe dọa và khủng bố, bắt tù đầy của chính quyền cộng sản hiện nay sẽ không còn là nỗi sợ của mỗi người dân nếu biết chấp nhận tinh thần: Hãy ra khơi.

Và tiêu biểu cho tinh thần Hãy ra khơi, giáo hội Ba Lan đã sinh ra 3 người con thân yêu của họ và nay cả ba nhân vật Ba Lan ấy đều được coi như là những bậc thánh nhân.

Phần chúng ta bằng lòng với những gì mà chúng ta có được.

Triển vọng ra khơi nhìn bằng những con số thì hiện nay Ba Lan chiếm 26% đại chủng sinh của toàn Âu Châu với 7131 chủng sinh. Ba Lan trở thành nước “xuất cảng” linh mục tới các nước Âu Châu và Bắc Mỹ.

Niềm hy vọng và triển vọng của BaLan phải chăng cũng là niềm hy vọng của giáo hội Việt Nam mà hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn? Tôi cũng không thể ngờ được giáo hội sau bức màn tre miền Bắc nay trở thành niềm hy vọng “kích cầu” trong nhiều phạm vi như dân số giáo hữu gia tăng ngoài sự mong đợi của mọi người, hoạt động tích cực trong các phong trào phản kháng,đặc biệt là giới sinh viên tại một số địa phận.

Chúng ta đặt rất nhiều hy vọng vào họ.

Chẳng hạn, tín hữu giáo phận Vinh trước 1954 là 219.000 người nay con số lên đến 500.000 người. (Theo thống kê của World Bank, World Development Indicators – cặp nhật lần chót June 15, 2010, dân số Việt Nam năm 1960 khoảng 35 triệu và đến năm 2008 đã trên 86 triệu người - DCVOnline). Tổ chức sinh viên ở địa phận Vinh là một trong những tổ chức hoạt động hăng say và hữu hiệu đáng kể.

Phần giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam nói chung muốn ra khơi không thể không học bài học Ba Lan.


Hai công dân Ba Lan và Giáo hoàng John Paul II
Nguồn: OntheNet

• Thông điệp thứ hai không kém quan trọng là giáo hội Ba Lan để lộ cho thấy một giáo hội dù có căn tính và gốc rễ, có cả một lịch sử truyền thống, có tinh thần đoàn kết đấu tranh vẻ vang vẫn không tránh khỏi vết nhơ để cho cộng sản xâm nhập và lũng đoạn.

Bài học đó đắt giá và tủi hổ cho giáo hội Ba Lan.

Bằng chứng là tân giám mục Warszawa bị tố cáo từng cộng tác với chế độ cộng sản hàng chục năm liền. Cuối cùng thì ông đã thú nhận, “Sự thật tôi đã có dính líu. Tôi đã gây ra thiệt hại lớn cho giáo hội và tôi đã lại gây họa lần nữa trong những ngày gần đây trước một cơn sốt truyền thông khi tôi phủ nhận sự kiện cộng tác này.”

Đến lượt linh mục Michał Czajkowski, một linh mục nổi tiếng ở Ba Lan đã thú nhận làm nhân viên tình báo, săn tin tức của những người bất đồng chính kiến và hàng giáo sĩ để báo cho cơ quan mật vụ. Trớ trêu hơn nữa, ông còn là phụ tá của Giáo hoàng John Paul II khi ông còn ở BaLan.

Sự cài người bằng đủ mánh khóe của cộng sản là một lời cảnh giác cho bất cứ ai và cho bất cứ giáo hội nào. Và ngay tại Vatican, linh mục Konrad Hejmo, người cầm đâu trung tâm hành hương ở Roma, hướng dẫn nhiều phái đoàn đến triều yết giáo hoàng cũng hoạt động cho cộng sản.

Những gì đã xảy ra ở Ba Lan, người viết bài này cảm thấy lo ngại như một cảnh báo giáo hội Việt Nam đang trượt chân vào vết xe đổ của giáo hội bạn.

Đi vào thông điệp thứ nhất

Nhìn vào giáo hội Ba Lan và những gì đang xảy ra ở đó từ 1980, không khỏi mong muốn và so sánh với giáo hội Việt Nam và tự hỏi bao giờ Việt Nam có được những con người kiệt xuất như vậy?

Ngày 6-6-2010 vừa qua, hằng trăm ngàn người từ khắp nơi trên đất Ba Lan đổ về Warsaw để tham dự lễ phong chân phước cho linh mục Jerzy Popieluszko.

Việc phong chân phước tử đạo này là bằng chứng gián tiếp Vatican thừa nhận tính cách chính nghĩa và sự dấn thân nhập cuộc của giáo hội Thiên Chúa giáo trong việc chống lại chính quyền cộng sản qua linh mục Jerzy Popieluszko.

Thông điệp ấy mong là được hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo Việt Nam ghi nhận và là dấu chỉ của hy vọng rằng chính nghĩa sẽ thắng.

Ở vào thời điểm tranh đấu sống còn với chính quyền cộng sản, Jerzy Popieluszuko trở thành nạn nhân số 1 của chế độ cộng sản Ba Lan. Nhưng ông lại là linh hồn của cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại chế độ độc tài cộng sản. Ông đã bị cảnh sát mật vụ Ba Lan (SB) tra tấn đến chết và bị vứt xuống sông Vistula vào năm 1984.

Lãnh tụ công đoàn Đoàn Kết Lech Walesa khi được tin về vụ thảm sát đã nói, “Điều tệ hại nhất đã đến.”

Nay ông trở thành người anh hùng của dân tộc Ba Lan, người được yêu mến và kính trọng. Quả là cái chết của ông không phải là điều vô ích.

Ý nghĩa lớn lao qua cái chết của ông là vực dậy cả một nước Ba Lan và điều gì đang diễn ra trong tim những người Ba Lan, nếu không phải là sự phấn khích, sự choáng ngợp của giới trẻ trước cái chết bi phẫn đó.

Qua bài học cái chết đó, hàng vạn người đã cải đạo. Cũng qua cái chết đó, hàng ngàn thanh niên Ba Lan gia nhập các chủng viện.

Một tu sinh khi được hỏi là tại sao lại đi tu? Người tu sinh ấy trả lời không do dự bởi vì chúng tôi có những tấm gương như John Paul II.

Đồng thời người dân Ba Lan nói không với chế độ đương quyền và làm tan biến những nỗi sợ hãi trước đây. Họ tìm lại được lòng tự trọng của chính mình và dám đứng thẳng, thách thức lại chính quyền cộng sản.

Nhìn lại dân tộc mình, người viết thấy rõ ràng là người cộng sản Việt Nam đã thành công không nhỏ trong việc đánh mất lòng tự trọng của người dân trong nước.

Đánh mất lòng tự trọng là đồng nghĩa trở nên hèn, trở nên nhát sợ. Chúng ta đã từng được nghe những lời tự thú “hèn” của một số nhà văn, nhà báo, trí thức Việt Nam. Chúng tôi cũng mong muốn một ngày không xa, có những lãnh đạo Thiên Chúa giáo chứng tỏ mình đã hèn.

Nhắc lại cái thời điểm linh mục Jerzy Popieluszko bị bắt cóc ngày 19 tháng 10, 1984. Cả nước Ba Lan cầu nguyện cho ông và chờ đợi tin dữ. Agnieszka Holland sau này đã dựng thành phim nhan đề “To Kill a Priest” ghi lại những giờ phút cuối cùng của vị linh mục- tử đạo này.

Prêtre-Martyr. Linh mục- tử đạo. Đó là biểu tượng chính xác nhất về Jerzy Popieluszko Sau khi tin dữ cho biết ông bị tra tấn và chết trôi sông, Piotr Moszynski viết cho đài Rfi mô tả cái cảnh tượng hằng 400.000 ngàn người Thiên Chúa giáo Ba Lan (chiếm 90% dân số) đã lũ lượt về giáo đường Stanisław tiễn đưa ông.

Chỉ có tiếng khóc và tâm tình nhớ thương.

Người viết cũng mong muốn một cách ích kỷ có một linh mục Việt Nam như thế.

Chúng ta thử dám so sánh xem, linh mục nào ở Việt Nam đi theo được bước chân của con người thánh thiện và anh hùng này? Các linh mục, tu sĩ Việt Nam cảm nghĩ gì về vai trò linh mục của mình khi so sánh với vị linh mục Ba Lan? Điều gì có thể so sánh và điều gì có thể học hỏi được nơi con người thánh thiện đó? Tại sao cũng trong những hoàn cảnh tương tự lại không thể sản sinh ra được những con người bất khuất và tiêu biểu cho Việt Nam?

Ba Lan với 90% dân số theo Thiên Chúa giáo đã trở thành tiêu biểu cho sự thống nhất ý chí trong đấu tranh và hành động. Và người giáo hữu Ba Lan chỉ có một con đường chọn lựa duy nhất là lưỡi gươm (chế độ cộng sản) hay thập giá.

Với 7% dân số Việt Nam theo đạo, chúng ta đã chọn con đường nào? Hàng giáo phẩm đã chọn con đường nào?

Hãy chọn con đường mà nhiều người Ba Lan đã hô to khẩu hiệu xác định tư cách tôn giáo của mình, Chúng tôi muốn có Chúa.

Một khẩu hiệu vắn tắt, nhưng đầy đủ ý nghĩa. Sự chọn lựa đã công khai và rõ ràng.

Kể từ ngày ấy, cùng với vai trò của Giáo hoàng Johhn Paul II, hai người Ba Lan theo Thiên Chúa giáo đã lên tiếng nhân danh những người không có tiếng nói hay không có quyền lên tiếng. Và rồi dân chúng Ba Lan đã chiến thắng và Chúa của người Ba Lan đã hồi phục lại được bộ mặt của Ba Lan.

Đó là bộ mặt con người.

Từ đó, đất nước Ba Lan không còn là quê hương của người cộng sản nữa.


Trích sơ lược cuốn sách của Carl Bernstein và Marco Politi nhan đề His Holiness John Paul II and the Hidden history of our time. (“Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta”, nhà xuất bản Công An nhân dân, dịch giả Nguyễn Bá Long- Trần Quý Thắng.)

Cuốn sách này chính thức được dịch ra tiếng Việt vào năm 2002. Tôi gọi đây là một món quá mà nhà nước cộng sản tặng cho Thiên Chúa giáo. Xin mọi người trong nước tìm đọc. Giá có 80.000 đồng, bằng hai tô phở đặc biệt.

Và mỗi tu sinh Việt Nam nên đọc sách này và cần đưa tài liệu này nằm trong chương trình Tu Đức học.

Phải đọc, phải thảo luận, chia sẻ, chiêm nghiệm (méditaitons) để noi gương may ra mai sau trở thành những mục tử tốt, một linh mục tốt. Đã có bao nhiêu linh mục Việt Nam học được tinh thần phục vụ và hy sinh của một Carolus Josephus Wojtyla khi còn là linh mục?

Tình cảnh người Ba Lan trên nhiều mặt như đời sống vật chất, tinh thần, chính trị, xã hội nhất là mặt tôn giáo gợi nhớ một phần xã hội Việt Nam.

Vì thế, không lạ gì khi Lm Tarnowsky Wiktor Skworc, chủ tịch Ủy ban Truyền giáo của Hội đồng giám mục Ba Lan đã đưa ra nhận xét, “Tình hình của giáo hội tại Việt Nam rất giống với tình hình giáo hội Ba Lan chúng ta trong hai thập niên 1960 và 70 – Đáng tiếc là giờ đây chúng ta thấy những gì đã diễn ra ở Ba Lan lại được tái diễn tại Việt Nam.”

Bài học cho giáo hội Ba Lan cũng là bài học cho giáo hội Việt Nam.

Người ta tự hỏi hàng giáo phẩm Việt Nam đã phản ứng ra sao về vụ tòa Khâm sứ, vụ Thái Hà, vụ Đồng Chiêm, vụ Tam tòa, vụ tổng giám mục Kiệt?

Chỉ có sự im lặng và bất động trả lời.

Người dân có mắt thấy sự im lặng đó là biểu hiện của bệnh liệt kháng phản ứng thần kinh hệ, bệnh tê liệt trí năng bằng những bào chữa khó nghe và chướng tai. Những bào chữa trong khung cảnh một giáo hội giả hình, chật hẹp, thiển cận và tham ô.

Đó là ba cái yếu đuối (faiblesse) nói chung của hàng giáo phẩm từ linh mục đến giám mục. Yếu đuối mà không ý thức được.

Cái hình ảnh về một giáo hội tốt đẹp, đạo hạnh không còn nữa. Cái image là quan trọng lắm. Hiện nay Hội đồng giám mục, các chức sắc trong giáo hội đã làm mất cái image ấy?

Hãy lấy một vài sự kiện xảy ra gần đây để dẫn chứng.
Như mới đây, người ta so sánh ba cái scandal là Tiger Woods, Toyota và giáo hoàng. Mặc dầu ở những lãnh vực khác nhau, những vấn đề khác nhau, nhưng có chung một mẫu số, một câu trả lời: sự chậm trễ trong những lời thú nhận lỗi và xin tha thứ. Tiger Woods đã làm thiệt hại 12 tỉ đô la cho các hãng Nike, Gatorade, Gillette và nhiều hãng khác, Toyota thiệt hại 5 tỉ đô la để bồi thường. Giáo hội tốn 3 tỉ đô la trang trải cho các nạn nhân và các chi phí tòa án. Nhưng Tiger Woods và Toyota khôi phục lại được hình ảnh cũ.

Phần vị giáo hoàng hiện nay, hình ảnh một John Paul II ngày nào không còn nữa .

Hình ảnh giáo hội Việt Nam bây giờ cũng ở mức độ thấp nhất mà không ai lường được hết hậu quả. Những ai còn chút quan tâm và lo lắng cho hình ảnh giáo hội không khỏi đau lòng khi thấy sự bất trung của một số phẩm trật giáo hội.

Nó sẽ trở thành một hồ sơ đen của giáo hội Việt Nam mà một ngày nào đó không che dấu mãi được.

Những con chiên lạc ấy không phải là những giáo dân mà là những mục tử có nhiệm vụ hướng dẫn bầy chiên.

Nó trái ngược với những điều mà hồng y Phạm Minh Mẫn Mẫn gián tiếp kết tội tín hữu trong câu nói úp mở sau:

“Về định luật nhân cách làm người được cấu thành bởi ba yếu tố: một là di truyền, hai là môi trường (gia đình, học đường, cộng đồng xã hội, giáo hội), ba là ý thức và ý chí tự do của mỗi người. Thể theo định luật này, khi cộng đoàn tín hữu lâm tình trạng thiếu ít nhiều sự nhất trí và sự hợp nhất, khi một số tín hữu để thói đời lôi cuốn, để lòng đạo phai mờ dần, các mục tử đều có phần trách nhiệm. Và trách nhiệm ở đây là giáo dục, huấn luyện, trợ lực cho mọi tín hữu luôn chung sức lấy lời Chúa làm nền, làm trụ cột để xây đắp gia cố những ngôi nhà gia đình và cộng đoàn, giáo hội và xã hội ngày càng thêm vững bền.”

(Trích thư Ngày 9-6-2010. Gioan B. Phạm Minh Mẫn.)

(Còn tiếp)

© DCVOnline

Khi Trung Quốc "nói vậy mà không làm vậy"

>> Nhà báo và trách nhiệm giữ chủ quyền

>> Biển Đông và kiểu "một mình một lối" của Trung Quốc

Dựng hình tượng

Nhiều năm qua, sự trỗi dậy Trung Quốc đi liền với mối lo ngại về mối đe dọa Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế. Cho rằng thế giới đang hiểu nhầm mình, Trung Quốc bằng nhiều cách thức, khi lặng lẽ, lúc ồn ào, cố gắng làm an lòng phần còn lại của thế giới về một chiến lược phát triển hòa bình của nước này.

Tranh thủ mọi cơ hội, mọi diễn dàn, khu vực và quốc tế, người Trung Quốc đang tỏ ra muốn "minh bạch hóa" chiến lược phát triển, nhất là các chính sách an ninh gắn với sự đầu tư ngày càng lớn cho quân sự.

Những cụm từ "phát triển hài hòa", "phát triển chung", "an ninh chung", "hợp tác", "đối tác bình đẳng", "tin cậy lẫn nhau", "đối tác có trách nhiệm"... thường xuyên xuất hiện trên cửa miệng của giới lãnh đạo Trung Quốc.

"50 năm sau này, lãnh thổ Trung Quốc sẽ vẫn là 9.600.000 cây số vuông... Nếu như chúng ta xâm chiếm dù chỉ một phân đất đai của nước khác, chúng ta sẽ biến mình thành kẻ xâm lược" - Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói 50 năm trước.

Khẩu hiệu hòa bình và chống bá quyền được giới chức Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội phô diễn.

Khi Biển Đông nóng lên, những phát ngôn mang tính trấn an như thế của lãnh đạo Trung Quốc càng xuất hiện với tần suất dày đặc, nhất là tại các diễn đàn khu vực, nơi các nước láng giềng chia sẻ mối lo về an ninh khu vực.

Chỉ trong vòng một tháng, nhân vật thứ 3 của giới quốc phòng Trung Quốc, Trung tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội đã hai lần trấn an đại diện các quốc gia Đông Nam Á và nước lớn, rằng "quân đội Trung Quốc không đe dọa an ninh nước nào".

"Sự phát triển năng lực của quân đội quốc gia Trung Quốc không nhằm thách thức, đe dọa hay xâm lược quốc gia nào mà trước hết và trên hết là để đảm bảo an ninh của Trung Quốc".

"Chỉ phát triển chung mới đảm bảo phát triển bền vững cho tất cả. Chỉ có an ninh chung mới có thể đảm bảo an ninh bền vững thực sự", ông Mã Hiểu Thiên nói. "Duy trì an ninh trong khu vực là lợi ích và bổn phận của Trung Quốc"... "Trung Quốc không bao giờ nhắm tới bá quyền, ngay cả khi mạnh hơn".

Cho rằng việc tìm kiếm an ninh qua đối đầu và chạy đua vũ trang đã lỗi thời, và việc hợp tác mới là lựa chọn cho an ninh, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố, "Chính phủ Trung Quốc cam kết tìm các giải pháp hòa bình cho các điểm nóng khu vực".

Lính Trung Quốc luyện tập bên bờ Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải. Ảnh Reuters/China Daily.

Nói như Phó Giáo sư Peter Dutton, thuộc Viện Nghiên cứu Hàng hải, trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ, Trung Quốc đang xây dựng hình tượng "hòa bình phát triển" với thế giới.

Đáng tiếc, hình tượng đó dựng lên phần nhiều bằng lời nói, chứ không phải việc làm của chính Trung Quốc.

Tự định chuẩn

Cố gắng thuyết phục thế giới hiểu đúng về Trung Quốc và tham vọng phát triển của nước này, nhấn mạnh xây dựng quan hệ đối tác thực sự dựa trên sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thế nhưng, hành động của Trung Quốc, nhất là liên quan đến Biển Đông lại buộc thế giới đặt những dấu hỏi nghi ngờ.

Những lời trấn an của lãnh đạo Trung Quốc không thể an lòng thế giới, nhất là khu vực, khi những hành động của giới chức nước này lại "một mình một lối".

Từ đường ranh giới chữ U đòi chủ quyền trên Biển Đông tham lam "lờ đi những giới hạn luật pháp được quy định bởi Công ước Luật biển Quốc tế 1982" (nhận xét của PGS Peter A. Dutton) đến những hoạt động thực tế mang tính hiếu chiến trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá vỡ cam kết "giữ nguyên trạng", "không làm căng thẳng tình hình" mà nước này đã kí năm 2002 với các quốc gia ASEAN trong Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông DOC.

Trung Quốc liên tục "gây chuyện", với từng nước riêng rẽ liên quan đến tranh chấp, trực tiếp và gián tiếp, và với cả khu vực. Xây dựng đơn vị hành chính, đơn phương cấm đánh bắt cá, bắt giữ và đòi tiền chuộc với các tàu cá của các quốc gia ĐNA, va chạm với tàu Mỹ, xây dựng cơ sở hải quân khổng lồ ở đảo Hải Nam, tổ chức tàu tuần tra, tập trận không quân và hải quân trong khu vực tranh chấp... là những bước leo thang của Trung Quốc trong việc làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Quy mô và tần suất của các hoạt động phá vỡ lòng tin này ngày càng gia tăng.

Mới đây, Trung Quốc đã bắt đầu định danh tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là "lợi ích chiến lược" của nước này, đặt ngang hàng với các vấn đề Đài Loan, Tây Tạng vốn được Trung Quốc ưu tiên cao. Và cùng với nó, việc tuyên truyền về khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực cũng xuất hiện ngày càng dày trên truyền thông Trung Quốc.

Có vẻ như, cái gọi là "cam kết", "hợp tác", "không đe dọa"... đã được Trung Quốc tự định chuẩn theo cách hiểu của riêng nước này. "Phương cách đơn phương Trung Quốc" không chỉ được áp dụng trong giải thích luật biển quốc tế, mà trong những thuật ngữ hoa mỹ nước này dùng để dựng hình tượng về mình cũng như mô tả về quan hệ tốt đẹp với láng giềng.

Thay vì dùng lời nói thuyết phục thế giới và khu vực "hiểu đúng" về Trung Quốc với tư cách "cổ đông có trách nhiệm" trong cộng đồng quốc tế, có lẽ, đến lúc Trung Quốc dựng hình tượng ấy bằng hành động cụ thể, trước hết và trên hết bằng việc minh bạch hóa vấn đề an ninh Biển Đông với hành động thiện chí và xây dựng thực sự của nước này.

Và thay vì sử dụng phương cách Trung Quốc để rồi trách thế giới hiểu nhầm mình, Trung Quốc cần thực sự áp dụng phương cách và chuẩn mực quốc tế trong hành xử, để làm thế giới tin.

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Đảng Cộng sản Pháp: Vỡ từng mảng lớn

Đảng Cộng sản Pháp vừa họp cuộc Đại hội đảng thứ 35 tại phòng họp lớn CNIT giữa khu Défense thủ đô Paris trong 3 ngày 18, 19 và 20-6-2010. Các báo Pháp bình luận nhận xét: “lịch sử đảng CS Pháp qua Đại hội 35 đã sang trang”, “trang sử mới”, “một trang sử buồn”, “vỡ từ bên trong – implosion”…

Từ khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, từ khi phe Xã hội chủ nghĩa tan biến sau đó, nhất là từ khi đảng CS Liên xô vỡ tan cuối năm 1991, đảng CS Pháp lâm vào khủng hoảng triền miên không sao gượng dậy được.

Ngày 11-6 vừa qua, đúng 1 tuần lễ trước khi Đại hội 35 khai mạc, một số hơn 200 đảng viên cộng sản, toàn là nhân vật có địa vị chính trị – xã hội, bao gồm một số dân biểu đang tại chức, một số chủ tịch hội đồng thị xã, một số ủy viên trung ương đảng, một số trí thức có uy tín, giáo sư sử học, giáo sư triết học, nhà báo… cùng nhau thống nhất ý kiến, ra tuyên bố chung long trọng ly khai đảng Cộng sản Pháp, cùng nhau tuyên bố từ biệt đảng cộng sản, cùng chung ý kiến sẽ đi đến thành lập một tổ chức chính trị khác ở cánh tả, theo xu hướng tranh đấu cho những phúc lợi xã hội và môi trường, vì một nước Pháp tiến bộ, phát triển và công bằng.

Bản tuyên bố chung chỉ rõ lý do của cuộc ra đi của một mảng lớn có chất lượng cao về chính trị và trí tuệ là vì Ban lãnh đạo hiện nay ngày càng co mình lại, ôm chặt thái độ bảo thủ giáo điều, không hề đáp ứng đòi hỏi cấp bách xây dựng lại đảng, ngăn chặn đà suy sụp của đảng.

Xin kể tên một vài nhân vật tiêu biếu trong số hơn 200 nhà ly khai trên đây: đó là dân biểu Patrick Braouezec, dân biểu François Asensi và nữ dân biểu Jacqueline Freysse, là chủ tịch thị xã Montluçon Pierre Goldberg và chủ tịch thị xã Nanterre Patrick Jarry; đó còn là những nhà trí thức, giáo sư sử học Roger Martelli, giáo sư triết học Lucien Sève, nhà báo Pierre Zarka từng là chủ nhiệm báo l’ Humanité – cơ quan trung ương của đảng Cộng sản Pháp.

Đáng chú ý là trong số hơn 200 nhân vật ly khai lần này, có quá nửa là những người đã gần 20 năm nay chủ trương “đổi mới” – Réformer –, rồi “Reconstruire” – Xây dựng lại -đảng cộng sản Pháp nhưng đều không sao thực hiện nổi, vấp phải một hạt nhân gíáo điều cực kỳ bảo thủ cổ hủ ở chóp bu, tiêu biểu là ông Robert Hue và bà Marie – George Buffet, 2 thư ký toàn quốc của trung ương đảng những năm gần đây.

Tại Đại hội 35, bà Buffet xin thôi chức Bí thư toàn quốc (như Tổng bí thư), ông Pierre Laurent, 53 tuổi lên thay, từng một thời gian là chủ nhiệm báo l’ Humanité, đúng vào lúc báo ế ẩm, số phát hành tụt dốc từng ngày. Pierre Laurent được biết là con người kín đáo, mờ nhạt, thiếu khả năng giao tiếp và viết lách.

Các nhà bình luận của báo le Monde, Libération, le Figaro…đều bàn đến sự kiện đáng chú ý trên đây, cho rằng lần này, tháng 6-2010, đảng cộng sản Pháp đã vỡ ra một mảng cực lớn, khi nó đang ở tình trạng suy yếu đến cùng cực, “những nhà đổi mới cuối cùng đã ra đi”, họ thuộc tinh hoa quyền lực và trí tuệ còn sót lại của đảng CS Pháp. Sau vụ này, đảng CS tuy chưa tan biến, nhưng cũng chỉ còn như cái bóng của chính nó.

Đảng cộng sản Pháp vốn là một đảng cộng sản lớn, oanh liệt, sung mãn một thời để rồi lâm vào khủng hoảng triền miên cả về học thuyết và hoạt động, để lâm vào tình trạng rơi tự do bi thảm hiện nay.

Trong Thế chiến 2, nhờ vào thanh thế của đảng CS Liên Xô liên minh với các nước dân chủ chống phát xít, đánh bại trục phát xít Đức – Ý – Nhật, nên thanh thế đảng CS Pháp lên mạnh theo. Trong thời gian chiếm đóng nước Pháp, bọn phát xít Hitler đã diệt Do thái và những người kháng chiến Pháp, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản. Chiến tranh kết thúc, thế chính trị của đảng CS Pháp lên cao; cuối năm 1945, đảng CS Pháp là đảng có đông đảo đảng viên và quần chúng, chỉ đứng sau đảng MRP – Mouvement Rassemblement Populaire – Phong trào Tập họp Dân chúng.

Cuối năm 1946, qua bầu cử, đảng Cộng sản Pháp trở thành đảng lớn nhất của nước Pháp. Ông Tillon của đảng được cử làm bộ trưởng không quân, rồi bộ trưởng Tái thiết đất nước. Tổng bí thư Cộng sản Maurice Thorez được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Các tổ chức Thanh niên Cộng sản, Sinh viên Cộng sản, Nữ thanh niên Cộng sản, Công đoàn CGT của đảng CS đều phát triển rất mạnh. Báo l’ Humanité và Humanité – Chủ nhật, cùng nhà xuất bản của đảng, tạp chí Cahiers du Communiste … cũng phát triển mạnh mẽ.

Lúc ấy lực lượng của đảng CS Pháp rất mạnh ở các trung tâm công nghiệp, các mỏ than, vùng quặng sắt, các hải cảng, công nhân vận tải, hàng hải, đường sắt, điện lực, trong giới đại học, nghiên cứu khoa học, truyền thông …Có lúc đảng CS Pháp hy vọng chiếm chính quyền qua nổi dậy của quần chúng lao động như Công xã Paris thuở trước – năm 1871 – để đưa Pháp gia nhập phe XHCN, theo chỉ đạo của Quốc tế CS là thực hiện thời kỳ quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn cầu (!).

Đảng CS Liên Xô hỗ trợ mọi mặt cho đảng Pháp. Trong Thế chiến 2, tên chính thức của đảng CS Pháp hồi ấy là: PCF – SFIC (Parti Communiste Français – Section Française de l’Internationale Communiste ), là một Phân bộ của Phong trào Cộng sản Quốc tế.

Sau Thế chiến sự giúp đỡ của đảng CS Liên xô cho đảng CS Pháp càng thêm hùng hậu.

Đảng CS Pháp suy tôn Staline là lãnh tụ kính yêu nhất, gọi thân mật Staline là Le Petit Père des Peuples – Người Cha thân thương của các dân tộc (!), Liên Xô giúp mỗi năm hàng tỷ Rúp cũng như trong đào tạo cán bộ. Trụ sở đảng CS Pháp ở Place Phabien giữa Paris do Liên xô giúp xây dựng rất bề thế, có hầm sâu, được truyền tụng là chống được bom nguyên tử.

Thế rồi cuộc khủng hoảng nội bộ nổ ra, khi Đại hội 20 đảng CS Liên xô phơi bày tệ sùng bái cá nhân Staline. Đảng CS Pháp lúng túng, chia rẽ, phân hóa lớn, đảng viên ra đảng hàng chục ngàn, nhất là trí thức, đảng viên trẻ. Sự can thiệp của quân đội Liên Xô vàoTiệp khắc, Ba lan… bị thế giới lên án, làm cho cuộc chia rẽ trong đảng Pháp mở rộng. Học thuyết Cộng sản châu Âu, cổ súy một chủ nghĩa Cộng sản Nhân bản, mang tính Người, nhưng vẫn theo học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác không những không giải quyết được cuộc khủng hoảng cả về lý luận và thực hành, còn làm cho tình hình xấu hơn.
.
Thế rồi Bức tường Berlin đổ sập, phe XHCN tan biến, đặc biệt là sau khi đảng CS Liên Xô vỡ nát cuối năm 1991, đảng CS Pháp lâm vào tình trạng suy sụp không sao gắng gượng nổi. Để đến những năm gần đây, từ có lúc là đảng số 1, đảng CS Pháp tụt xuống thứ 3, rồi thứ 5, đến nay là thứ 8, xếp hàng sau các đảng cánh hữu, cũng sau cả các đảng cánh tả, thua xa đảng Xã hội Pháp, thua đảng Dân chủ ở trung tâm, thua kém đảng Xanh, rồi thua cả đảng trôtskýt ở cực tả, lại thua luôn cả đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia của Le Pen.

Trong các cuộc bầu cử toàn quốc và địa phương, hàng chục năm nay đảng CS Pháp đều ở vị trí đèn đỏ, từ không đạt 10 % số phiếu bầu, rồi không đạt cả con số 5% phiếu để được hưởng trợ cấp tranh cử. Tại Quốc hội số đại biểu CS khi xưa đông đảo, có uy thế hàng đầu, nay không còn đủ số để thành nhóm riêng, các đại biểu CS Maxime Grémetz và Marie George Buffet phải nhập với Nhóm “cánh tả, dân chủ và cộng hòa” – Groupe Gauche + Démocrate + Républicain. Tiếng nói CS trong quốc hội vang lên thưa thớt, yếu đuối, có khi cả 4 phiên suốt tháng không có một lời phát biểu nào.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Pháp năm 2007, bà Buffet chỉ được có 1,93 % phiếu bầu, càng thêm bẽ bàng vì ngay trong đảng CS đông đảo người can ngăn đảng không nên ứng cử, chỉ thêm mất tín nhiệm. Cùng với đảng CS Pháp, đoàn Thanh niên CS gần như hấp hối, còn đoàn Sinh viên CS Pháp không còn sức sống, Tổng liên đoàn CGT cũng teo lại.

Mười năm nay số đảng viên giảm nhanh, không kết nạp được đảng viên mới, nhiều đảng bộ phải giải tán, có nơi chỉ còn đảng viên cao tuổi, từ 60 đến 90 tuổi, sinh hoạt chi bộ CS trong Nhà Già. Trong đảng nhiều nhóm và nhân vật chủ trương xây dựng lại đảng, từ bỏ giáo điều Mác-xít, nhưng không đưa ra được phương án cụ thể, sáng rõ.

Sự ra đi rất ồn ào, hoành tráng của một mảng nhân vật cộng sản có tên tuổi vào tháng 6 này chứng tỏ đảng CS Pháp không còn có khả năng tự đổi mới, tự xây dựng lại nữa. Đây là biểu hiện cuối cùng của hiện tượng rơi tự do của một đảng CS vào loại lớn nhất ở châu Âu. (đảng CS Ý đã sáng suốt tự giải thể từ năm 1992).

Đảng CS Pháp suy sụp đến tận cùng đã vỡ từ bên trong, không phải do kẻ thù nào từ bên ngoài phá hoại, lật đổ. Nó suy sụp, thở hắt ra vì học thuyết Mác – Lênin, nguyên lý đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản nó theo đuổi không có sức sống.

Nó chứng minh rằng mọi đảng CS theo học thuyết Mác – Lênin và theo nguyên lý đấu tranh giai cấp là phạm sai lầm từ gốc, cần phải từ bỏ dứt khoát càng sớm càng tốt.

Chính nhiều trí thức CS Pháp đã ra đảng và chung sức viết nên cuốn sách đồ sộ “Sách đen của chủ nghĩa Cộng sản” chứng minh phe XHCN hiện thực là một sai lầm bi thảm của Lịch sử, là tội phạm tiêu diệt gần 100 triệu nhân mạng của loài người.

Đúng như ông Gorbachốp từng nói: các đảng Cộng sản quá cũ không còn khả năng tự đổi mới, chỉ có xóa bỏ, giải thể, xây dựng tổ chức mới, dân chủ, đi với thời đại.

Cũng theo tinh thần ấy, bản Tuyên bố chung của hơn 200 nhân vật ly khai nói trên chủ trương “sẽ chung sức xây dựng một tổ chức chính trị mới ở cánh tả, theo hướng hành động, đấu tranh cho phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường”, vĩnh biệt chủ nghĩa Mác Lênin, vĩnh biệt đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, từ đó cống hiến thiết thực cho xã hội Pháp và nước Pháp

Tất nhiên sự kiện trên đây không được báo Nhân dân và các báo trong nước đưa tin. Nhưng làm sao bưng bít được thông tin trong thời đại thông tin điện tử cực nhạy.

Đảng CS Việt nam vốn có quan hệ chặt chẽ với đảng CS Pháp. Cuộc khủng hoảng chính trị dai dẳng của đảng CS Pháp, cảnh rơi tự do bi thảm của nó, sự đổ vỡ từ bên trong của nó, sự ra đi vĩnh biệt của một mảng lớn hơn 200 nhân vật tiêu biểu của nó là những gợi ý sinh động cho những ai còn muốn nuôi ảo tưởng «đổi mới» đảng CSVN, hay trở lại với danh xưng đảng Lao động VN. Cần chỉ rõ những sai lầm bi thảm của Cải cách Ruộng đất và chính sách chiếm đóng miền Nam, đày đọa trả thù sỹ quan viên chức miền Nam, nuốt chửng lời cam kết hòa giải và hòa hợp dân tộc chính là những chủ trương của lãnh đạo đảng Lao động VN.

Trong lúc các Đại hội đảng CSVN các cấp đang họp, tin nóng hổi về đảng CS Pháp là một tin tham khảo có giá trị đặc biệt.

Đã đến lúc mọi tinh hoa dân tộc yêu nước, thương dân chung sức dựng lên một tổ chức mới bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, tiếp thu thật sự những giá trị dân chủ, bình đẳng của thời đại, mang tên đảng Dân chủ Mới VN, hay đảng Xã hội – Dân chủ VN, hay đảng Công Dân VN, hay đảng Dân tộc VN…Hãy vĩnh biệt dứt khoát những học thuyết và chính sách của chủ nghĩa Mác Lênin, của đấu tranh giai cấp, của chuyên chính độc đảng, nguồn tai họa kinh hoàng của nhân dân ta, dân tộc ta trong hơn nữa thế kỷ qua, và đặc biệt là ngay lúc này.

Nguồn: VOA