Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009

Bức tường Berlin

Huy Đức

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng – một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu Đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot – lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đầu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia, tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Nguồn: http://www.blogosin.org/?p=993

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Một sơ suất cực kỳ nguy hiểm: VNTTX phát tin Hoàng Sa là đất TQ

Sơ suất như dẫn ở trong bài này vốn thường gặp trên các phương tiện truyền thông Việt Nam, nhưng sơ suất nguy hiểm bậc nhất – và không còn là "sơ suất" mà phải coi là hành vi phạm luật – là việc Việt Nam giao cả một trang mạng của mình cho Tàu quản lý để họ nói những điều mà cả dân tộc phẫn nộ. Vậy mà vụ việc tày đình như thế lại chìm xuồng?!! Kỷ cương ở đâu rồi?

Bauxite Việt Nam

Một sơ suất cực kỳ nguy hiểm: VNTTX phát tin Hoàng Sa là đất TQ

Nguyễn Hồng Kiên

Ngày 11/8/2009, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết: cơ quan hữu quan của Trung Quốc thông báo cho Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh là phía Trung Quốc đã thả tàu cá QNg 95031 và toàn bộ ngư dân Việt Nam, bao gồm cả 12 ngư dân của 02 tàu cá Quảng Ngãi mà họ đã tạm giữ trước đó. Dự kiến tàu cá QNg 95031 và số ngư dân nói trên sẽ trở về trong một vài ngày tới.

Tôi chú tâm theo dõi xem có tin tức gì về việc họ được thả, được về nhà ra sao.

Chắc chắn họ không được về bằng chuyên cơ như 2 nhà báo Mỹ rồi. Nhưng liệu có ai đi đón họ không nhỉ?

A – Thông tin:

Ngay trong ngày các ngư dân về đến nhà (14/8/2009), chỉ có 03 nguồn thông tin chính thức:

- 15h30 sgtt.com.vn đưa tin ngắn: “Quảng Ngãi: 25 ngư dân bị Trung Quốc bắt đã trở về

ScreenHunter_05 Aug. 17 12.41.gif


- 18h10, Người Lao động Online lên tin: “25 ngư dân VN bị TQ bắt đã về đến đất liền” http://www.nld.com.vn/20090814061042206P0C1002/25-ngu-dan-vn-bi-tq-bat-da-ve-den-dat-lien.htm

- Chậm hơn, phải đến 22h09 VietnamPlus (báo điện tử của Thông tấn xã Việt Nam) mới đưa tin “25 ngư dân Quảng Ngãi đã từ Trung Quốc trở về

Theo NGƯỜI VIỆT Online (hình như là thuộc lề trái) thì: “Bản tin ngư dân về đến nhà không được toàn thể các báo ở Việt Nam đưa tin mà chỉ có hãng thông tấn nhà nước cùng với tờ Người Lao Ðộng và tờ SGTT” http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=99696&z=2

Sang ngày 15/8/2009 mới có nhiều báo khác có thông tin và hình ảnh.http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/08/3BA12655/

ngu-dan-1-to.jpg
Tàu QNg95031-TS của ông Nguyễn Tấn Lự quê ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) đưa các ngư dân trở về từ Hoàng Sa. Ảnh: Trí Nguyễn
ngu-dan-4-to1.jpg
Hàng xóm đến chia vui với gia đình thuyền trưởng tàu QNg6597-TS Dương Văn Hưởng (mặc áo thu kẻ sọc). Lần này ông Hưởng bị mất toàn bộ tàu (hỏng nặng phải bỏ lại đảo Phú Lâm). Ảnh: Trí Nguyễn

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=169057&ChannelID=2;

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=331812&ChannelID=3

Cha-con-ong-Lu.bmp
Cha con ông Lự trong phút giây đoàn tụ. Ảnh: Tấn Vũ


Vấn đề đáng lưu ý là Thông tấn xã Việt Nam đã phạm 1 lỗi CỰC NẶNG.

Cho dù trước đó có tin dọa là nếu không nộp tiền chuộc sẽ bị đưa về Hải Nam, NHƯNG SỰ THẬT LÀ CÁC NGƯ DÂN QUẢNG NGÃI BỊ BẮT GIAM Ở ĐẢO PHÚ LÂM THUỘC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA.

HoangSa.gif

Bản đồ Việt Nam vẫn ghi rõ đảo này là của Việt Nam, Vậy mà Thông tấn xã Việt Nam lại BÁN đảo này cho TQ: “Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi cho biết, sau khi có ý kiến của Chính phủ và Bộ Ngoại giao Việt Nam, ngày 14/8, tàu cá QNg-95031 do thuyền trưởng Nguyễn Tấn Lự điều khiển chở 25 ngư dân Quảng Ngãi đã từ Trung Quốc trở về huyện Lý Sơn và Bình Sơn (Quảng Ngãi) an toàn. Tuy nhiên, tàu thuyền, ngư cụ và trang thiết bị phục vụ đánh bắt hải sản của ngư dân huyện Lý Sơn vẫn còn bị giữ ở Trung Quốc“.

Không còn là phát thanh viên của đài Truyền hình Trung ương “nói nhịu” Hoàng Sa, Trường Sa thành Tây Sa, Nam Sa trong một chương trình dự báo thời tiết (rất nhiều người phẫn nộ, nhưng “lời nói gió bay”).

Cũng không phải là chuyện trang tin điện tử cấp Chính phủ (Bộ Công thương) có những bài “nói ngược” về biển đảo vì đã được giao trắng cho “bạn” quản lý hộ (vụ này “chim xuồng” luôn rồi).

Đây là tin của CƠ QUAN THÔNG TẤN NHÀ NƯỚC. Cái tít “25 ngư dân Quảng Ngãi đã từ Trung Quốc trở về” thật “tế nhị” quá!, cứ như ngư dân vừa có một chuyến du lịch vậy. Né tránh, kiêng cữ, “kỵ húy” ? Hay thực sự đã có những người Việt Nam chấp nhận Hoàng Sa là đất TQ?

B – Các ngư dân bị bắt đã về như thế nào?

Theo hầu hết các báo Việt Nam thì các ngư dân tự về, trên con tàu QNg95031-TS của ông Nguyễn Tấn Lự.

Nhưng 01:11 GMT (tức cách đây 04 tiếng theo giờ Việt Nam) BBC đăng bài “Ngư dân VN ‘đã về nhà’ lại dẫn lời ông Nguyễn Dự (chủ tịch xã An Hải, huyện Lý Sơn) “cho biết tàu của Trung Quốc đã chở ngư dân về Việt Nam” (?)
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/08/090814_fishermen_returned.shtml

Tuy nhiên, tất cả đều có thông tin TRUNG QUỐC CHỈ THẢ NGƯỜI.

Đến CAND Online (http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisu/2009/8/118010.cand) cũng giật tít:”Trung Quốc thả ngư dân Việt Nam nhưng thu tàu

ScreenHunter_04 Aug. 17 12.40.gif

Rõ ràng đây không hề là hành động thiện chí.

C – Vì sao ngư dân được tha?

Nhiều báo nói đó là nhờ nỗ lực của ngành Ngoại giao Việt Nam.

BBC còn có ý nói là do “Ông Chu Tiến Vĩnh, Cục trưởng Cục Khai thác và bảo vệ nguồn thủy sản Việt Nam cũng là Chủ tịch Ủy Ban Liên hiệp nghề cá Việt Trung, đã cảnh báo sẽ bỏ họp nếu Trung Quốc không thả ngư dân Việt Nam.”

Vấn đề là THỜI ĐIỂM. Xin lưu ý 03 sự kiện

1. Trung Quốc chính thức cấm đánh bắt cá tại biển Đông từ 16/05/2009 tới 01/08/2009.

2. Ngày 9-8, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đã có công hàm gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng của Việt Nam tìm kiếm cứu hộ tàu cá Qiong Dan Zhou 00878 cùng 11 ngư dân của tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) bị mất liên lạc tại vùng biển vịnh Bắc bộ do ảnh hưởng của bão số 6.

3. Ngày 14/8 các ngư dân mới được thả.

Theo 1 suy luận không chính thức: có thể tàu cá Qiong Dan Zhou 00878 mất tích vì bão, nhưng có thể đã được “câu lưu” để “trao đổi tù binh”.

Nếu suy luận ấy có căn cứ thì cũng là điều đáng nói.

Theo quyết định của UBND tỉnh Khánh Hòa công bố ngày 24-7-2009 Chủ tịch UBND tỉnh Võ Lâm Phi quyết định phê chuẩn ông Nguyễn Viết Thuận (Phó lữ đoàn trưởng quân sự Lữ đoàn 146 vùng 4 hải quân) giữ chức Phó chủ tịch UBND huyện Trường Sa nhiệm kỳ 2004-2009.

Phải chăng đã có ứng xử cứng rắn hơn từ các tướng lĩnh Việt Nam?

NHK

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Cuộc biểu tình hôm Chúa Nhật của giáo phận Vinh gây tiếng vang rộng rãi trên thế giới

Tin tức về cuộc biểu tình hôm Chúa Nhật của giáo phận Vinh đã nhanh chóng thu hút sự chú ý rộng rãi của giới truyền thông trên toàn thế giới.

Tại Anh, Ekklesia trích đăng bản tin của Independent Catholic News với tựa thật lớn: "Half a million Catholics denounce the brutal regime of Communists in Vietnam" - Nửa triệu người Công Giáo tố cáo chế độ bạo tàn của cộng sản.

Tại Hoa Kỳ hệ thống truyền thông Catholic Network chạy hàng tít: "They Beat our Priests in Vietnam" - Họ Đánh các linh mục chúng ta tại Việt Nam. Chữ Beat (Đánh) được viết Hoa mô tả sự kinh ngạc và phẫn uất tột độ của người Công Giáo Hoa Kỳ.

Người Mỹ đặc biệt nhạy cảm với vụ giáo xứ Tam Tòa vì nhà thờ này bị trúng bom Mỹ. Các cơ quan Hoa Kỳ liên tục tiếp cận với các nguồn tin từ Việt Nam để xem có thể giúp đỡ gì không. Trong khi đó, Catholic Network bày tỏ sự phẫn nộ với việc một nhà thờ Công Giáo lại bị tịch thu để làm thành “đài tưởng niệm Tội Ác Đế Quốc Mỹ” 

Trong khi đó, nhật báo tài chính hàng đầu của Mỹ là tờ The Wall Stret Journal chạy hàng tít lớn - Breaking news: Hundreds of thousands Catholics to protest over brutal police beatings and arrests - Hàng trăm ngàn người Công Giáo biểu tình chống lại sự đánh đập và những vụ bắt bớ tàn bạo của cảnh sát.

Nguyên văn bài báo trên tờ The Wall Stret Journal như sau:

Hôm 26/7/2009, trong một biến cố chưa từng có tại Việt Nam, giáo phận Vinh đã tổ chức những cuộc tuần hành chống lại việc công an Việt Nam đánh đập dã man và bắt đi các giáo dân giáo xứ Tam Tòa. Giáo xứ Tam Tòa đã bị bom làm sập trong chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh, nhà cầm quyền lại tịch thu nhà thờ để làm đài tưởng niệm Tội Ác Đế Quốc Mỹ. 

Gần đây, các tín hữu đã làm một bàn thờ tạm để cử hành thánh lễ. Trong cuộc tấn công bạo lực của công an, nhiều người đã bị đánh đập dã man bằng gậy gộc và roi điện. Nhiều người đã bị bắt đi trong đó có 7 người vẫn còn bị giam cầm và sắp sửa bị kết án về các tội danh "phản cách mạng".

Con số giáo dân tham gia biểu tình lên đến hàng trăm ngàn người dưới sự hướng dẫn của 170 linh mục và 420 nữ tu. Đụng độ giữa giáo dân và công an Việt Nam đã được ghi nhận trong đó có 2 linh mục bị thương nghiêm trọng.

Các cuộc biểu tình và cầu nguyện đang lan rộng tại Việt Nam nơi các thành phố lớn để ủng hộ cho giáo xứ Tam Tòa.

Nguồn: Vietcatholic

Không thể xây dựng một xã hội hài hòa trên nền tảng của căm thù (dù đó là chứng tích chiến tranh). Bạo lực và căm thù chỉ đưa đến chết chóc và đổ vỡ. Hãy dựng nhà thờ, chùa chiền, bệnh viện, trường học... Đừng lập bia căm thù.

BÀI GIẢNG TẠI ĐỀN ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP SÀI GÒN TRONG LỄ CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH TẠI TAM TOÀ NGÀY 27/7/2009


Kính thưa cộng đoàn,

Chúng ta hiệp thông với Hội Thánh của Chúa Kitô tại Giáo phận Vinh và nhất là tại Giáo xứ Tam Toà – Quảng Bình, mà sống nỗi ưu tư của dân tộc mình. Và như anh chị em đã thấy trong phần trước thánh lễ, Cha Uy đã cho chúng ta một cái nhìn chung chung về những gì đã diễn ra, đang diễn ra, và nhất là về tâm tình hiệp thông của Hội Thánh Chúa, cách riêng là của Hội Thánh Chúa tại Vinh, với anh chị em giáo xứ Tam Toà, để tha thiết dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện không chỉ là xin Chúa xoa dịu những nỗi đau, những cảnh bất công đang xảy ra, mà còn xa hơn nữa, là lời cầu nguyện để xin cho tình yêu, xin cho hoà bình, xin cho sự thật, xin cho công lý, được nở hoa trên quê hương đất nước chúng ta.

Có thể có rất nhiều điều để nói về những tâm tình của chúng ta trong những ngày cầu nguyện đặc biệt này. Có thể có rất nhiều điều để nói về những tâm tình cách riêng là của những anh chị em tín hữu của Chúa Kitô tại Vinh trong những ngày này. Nhưng trong bài chia sẻ này, tôi chỉ xin mời cộng đoàn suy nghĩ hai điểm.

Chúng ta hiệp thông với Gíao phận Vinh trong tâm tình nào, trong xác tín nào? Chúng ta chia sẻ nỗi ưu tư gì của Hội Thánh của Chúa Kitô với dân tộc mình tại Vinh, tại Tam Toà, tại Quảng Bình bây giờ, kính thưa anh chị em?

Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã kết thúc lâu lắm rồi. Rất nhiều người trong số các bạn trẻ đang ngồi đây sinh ra sau khi chiến tranh đã kết thúc. Nhưng mà ngay cả những bạn trẻ ấy chắc cũng đã không ít lần kinh nghiệm về sự tàn ác và sự không thể chấp nhận được của chiến tranh. Quả thực, chiến tranh là tàn ác và không thể chấp nhận.

Nhưng sau mấy chục năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, ngày nay, chúng ta lại thấm thía một kinh nghiệm khác, kinh nghiệm rằng: khi một quốc gia phải tái thiết sau chiến tranh, thì lúc đó, những cuồng vọng và khí lực của chiến tranh trở nên bất lực. Phải có một sức mạnh mới. Và đó chính là sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của sự hiểu biết và của lòng trắc ẩn đối với con người. Đó là sức mạnh của sự vị tha và sự hợp tác. Đó là động lực sáng tạo của một ý chí muốn sống và muốn kiến thiết, của một ý chí muốn tha thứ và muốn hoà giải. Sử dụng những cuồng vọng của chiến tranh để xây dựng đất nước? Thất bại. Sử dụng những khí lực chiến tranh để xây dựng đất nước? Thất bại. Chỉ có một con đường thôi: con đường của tình yêu mến, của sự tha thứ, của sự nâng niu sự sống.

Nhà thờ vốn là nơi phục vụ tình yêu thương, hoà giải và sự hồi sinh. Biến nhà thờ thành một tượng đài của lòng thù hận, là một tội ác, là một sự xúc phạm lớn lao đối với niềm tin tôn giáo của chúng ta. Có thể lưu giữ nơi nhà thờ Tam Toà những di tích nhắc nhở chúng ta về tính chất tàn ác không thể chấp nhận được của chiến tranh. Nhưng nếu chỉ như thế thôi, thì không thể chấp nhận. Sứ điệp quan trọng hơn, và cũng là sứ điệp chính yếu, mà nhà thờ Tam Toà đem lại cho chúng ta và cho thế hệ tương lai, phải là sứ điệp của tình yêu, của sự hoà giải và của sự phục sinh, chứ không phải sứ điệp của lòng hận thù.

Những sự kiện bi đát đang diễn ra tại Tam Toà, cho thấy: khi người ta chỉ nhấn mạnh lòng thù hận, thì không thể có hoà bình đích thực. Nhấn mạnh lòng thù hận kẻ khác, thường khi, là đang tra tay xây dựng nền văn minh sự chết. Chúng ta đã sống quá lâu trong một bầu khí xã hội đề cao lòng căm thù. Và một di chứng nặng nề của đường lối xây dựng xã hội dựa trên lòng căm thù ấy, chính là sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức trong xã hội. Con người Việt Nam vốn hiền hoà thuận thảo, nay phải đối diện, rất thường khi, với một tình trạng bạo lực kinh khủng từ ngay trong gia đình, huống nữa là trong tương quan xã hội. Tại sao vậy? Sự quá nhấn mạnh lòng căm thù, thậm chí đến độ trong một thời gian dài, lòng căm thù giai cấp đã trở thành một thước đo để người ta đánh giá nhau, đã đẩy chúng ta đến những bi kịch bạo lực như chúng ta đang phải thường xuyên chứng kiến trong xã hội chúng ta. Cần phải chấm dứt việc lấy lòng căm thù làm tiêu chuẩn và nền tảng xây dựng xã hội. Đã quá dài rồi khoảng thời gian mà trong đó, chúng ta đề cao bạo lực.

Vì thế, hơn lúc nào hết, ngày nay, việc đề cao Tin Mừng về lòng yêu thương, sự hoà giải và sự hồi sinh, là một trong những đòi hỏi khẩn thiết của xã hội chúng ta và của sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh. Thế mà, ngay trong hoàn cảnh cấp thiết này, người ta vẫn muốn biến nhà thờ, là nơi phục vụ tình yêu thương, hoà giải và hồi sinh, thành tượng đài của lòng căm thù.

Anh chị em tín hữu Giáo phận Vinh, trong ý thức về tính cách khẩn thiết của sứ mạng loan báo Tin Mừng tình thương, của sứ mạng xây dựng nền văn minh tình thương, của sứ mạng làm chứng cho sức mạnh của tình yêu cứu độ, đã muốn có một ngôi nhà thờ mới được xây trên nền của ngôi nhà thờ cũ, mà không xoá bỏ di tích nhắc nhở tính cách tàn ác của chiến tranh. Đó là ước muốn công bố một sứ điệp toàn diện về hoà bình, nhấn mạnh tính cách tích cực của tình yêu thương mà vẫn không quên tính cách tàn ác của chiến tranh và bạo lực. Nếu không ý thức về điều này, chúng ta có thể bị lừa. Báo chí mấy ngày nay nói đến chuyện như thể người ta muốn xoá đi cái di tích của chiến tranh. Thậm chí có kẻ nói rằng mấy giáo dân ở Giáo phận Vinh muốn mọi người quên đi tội ác của đế quốc Mỹ. Nói như thế là bất công đối với anh chị em. Đối với anh chị em ở Giáo phận Vinh, cái quan trọng là một sứ điệp về tình yêu mến, một sứ điệp về sự hoà giải, một sứ điệp về sự phục sinh cần phải được công bố trên nền của ngôi nhà thờ ấy.

Như thế là đang có hai ước muốn và chọn lựa trái ngược nhau tại Tam Toà: ước muốn đề cao lòng hận thù và ước muốn truyền tải cho hậu thế một sứ điệp của tình yêu thương và khát vọng hồi sinh. Và có lẽ sự đối nghịch của hai ước muốn đó đã là một trong những nguyên nhân chính gây nên những thảm cảnh đau thương cho anh chị em tín hữu tại Tam Toà.

Chúa Giêsu đã chịu chết để thực hiện Tin Mừng của tình thương yêu, tha thứ và phục sinh. Anh chị em tín hữu tại Tam Toà đang được tham dự đặc biệt vào công trình đó của Chúa. Và những lời Chúa Giêsu nói trong bài tin mừng mà chúng ta vừa nghe, cũng là những lời nói với và nói cho anh chị em tín hữu Giáo phận Vinh hôm nay: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em.Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”

Hiệp thông với nhiều nơi và với nhau cầu nguyện cho giáo xứ Tam Toà hôm nay, là chúng ta cầu nguyện cho ước vọng cao cả và tốt đẹp về tình yêu mến được trở thành hiện thực. Đó là một trong những điểm nhấn chính yếu của các cuộc cầu nguyện được tổ chức trong những ngày này. Xin cho chính quyền Tỉnh Quảng Bình nói riêng và của cả Nước nói chung, biết tôn trọng ước nguyện tốt lành đó của tất cả chúng ta.

Cầu nguyện cho giáo xứ Tam Toà hôm nay, cũng chính là chúng ta đang khẳng định lập trường về một đường hướng xây dựng xã hội. Trong tư thế là Hội Thánh của Chúa Kitô đi giữa lòng dân tộc mình, mang lấy khát vọng của dân tộc mình, chúng ta muốn bày tỏ một lập trường, muốn chọn lựa một lập trường về đường hướng xây dựng xã hội, dựa trên tình yêu, đề cao sự sống và sự hoà giải. Sẽ không thể có hoà bình và sự thịnh vượng đích thực, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh lòng căm thù. Cho nên, cầu nguyện cho Tam Toà hôm nay cũng là một cách thức để chúng ta bày tỏ chọn lựa đó của chúng ta. Chúng ta chọn lựa một đường hướng xây dựng xã hội nhấn mạnh trên tình yêu, trên sự tha thứ, trên sự hội sinh, trên sự sống, chứ không phải là trên lòng hận thù.

Đó là điểm thứ nhất mà tôi muốn mời cộng đoàn suy niệm trong thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho Tam Toà hôm nay.

Điểm thứ hai có liên quan trực tiếp hơn với những gì đang diễn ra tại Tam Toà. Bằng việc tập trung trong những buổi cầu nguyện như thế này, chúng ta muốn truyền đi một sứ điệp: chúng ta không thể chấp nhận việc tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn bất nhân để đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến trong xã hội.

Có một kiểu chuyên chế tuy đã phần nào lui về quá khứ xét theo danh nghĩa, nhưng vẫn còn rơi rớt trong thực tế, và nhất là vẫn còn để lại những di chứng nặng nề trong đời sống xã hội chúng ta. Trong số những di chứng ấy, có nạn độc đoán, nạn ém nhẹm hoặc bóp méo sự thật, nạn đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến bằng những thủ đoạn bất nhân và tàn độc. Những di chứng ấy, cộng thêm tệ nạn tham nhũng và thói tự tư tự lợi, đã khiến cho xã hội chúng ta xuống cấp trầm trọng. Trong những gì liên quan đến tôn giáo, nhất là liên quan đến Kitô giáo, những di chứng ấy lại càng thêm nặng nề do thái độ nghi kỵ đầy thành kiến đối với Hội Thánh và các Kitô hữu.

Trong một thời gian khá dài, và có trường hợp còn đang trong hiện tại, có những người đã miệt mài trong việc làm cho thái độ nghi kỵ đầy thành kiến ấy càng ngày càng trầm trọng. Mới chưa đầy một năm trước đây, cả một hệ thống truyền thông đã toa rập với vài người có quyền lực trong chính quyền thành phố Hà Nội để đánh hội đồng Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, khi họ gian xảo cắt xén lời phát biểu của ngài để gây nên một cơn lên đồng tập thể của nhiều thành phần dân chúng, hòng tạo ra sự hận thù giữa các thành phần xã hội. Biết bao bài báo và chương trình phát thanh, truyền hình, đã không ngần ngại mạ lỵ và vu khống các linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà suốt một thời gian dài. Không ai có thể chắc chắn rằng những cách làm bất minh đó không tái diễn trong sự kiện Tam Toà hiện nay.

Trái lại, như những gì vừa diễn ra tại Đồng Hới sáng nay (với 2 linh mục bị những người được trang bị dùi cui đả thương giữa thanh thiên bạch nhật, phải đưa vào trạm y tế chữa trị), chúng ta biết rằng người ta chẳng ngại áp dụng các biện pháp đầy chất bạo lực và gây thù hận, để cư xử với những tín hữu Công Giáo.

Thực ra, hành xử như thế cũng chẳng khác gì việc tấn công người khác bằng một thanh sắt nóng bỏng: một khi cầm miếng kim loại nóng bỏng kia lên, bàn tay của anh chắc chắn sẽ bị thiêu huỷ ngay trong chính lúc anh thiêu huỷ người khác. Thù ghét chính là hạt giống sự chết trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự chết cho người khác. Tình yêu là hạt giống sự sống trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự thiện cho người khác.

Chúng ta hiệp thông với anh chị em tại Giáo phận Vinh để nói rằng chúng ta không thể chấp nhận việc người ta tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn bất nhân để đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến về việc xây dựng xã hội.

Một đàng, chúng ta biết rằng có lẽ những lời thánh Phaolô viết cho anh em tín hữu tại Côrintô mà chúng ta vừa nghe trong bài thánh thư, cũng là lời được anh chị em tại Vinh nói với chúng ta và cho chúng ta: “Nhưng kho tàng Tin Mừng, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi”.

Đàng khác, theo giáo huấn của Hội Thánh, chúng ta xác tín rằng: “Bạo lực là giải pháp không thích đáng. Với xác tín về niềm tin vào Đức Kitô và với ý thức về sứ mạng của mình, Giáo Hội tuyên bố: bạo lực là tội ác, không thể chấp nhận bạo lực làm giải pháp cho các vấn đề; bạo lực là điều không xứng đáng với con người. Bạo lực là sự dối trá, vì nó đi ngược lại sự thật của đức tin và sự thật của nhân loại. Bạo lực phá huỷ tất cả những gì nó hô hào bảo vệ, từ phẩm giá đến sự sống và tự do của con người”.

Đó là lập trường của Giáo Hội. Đó là lập trường của chúng ta.

Bằng việc tham dự những giờ cầu nguyện như thế này, chúng ta công bố với thế giới cái lập trường căn bản đó: chúng ta không chấp nhận việc tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn tàn ác để dập tắt những ý kiến khác biệt, nhất là những ý kiến liên quan đến việc xây dựng xã hội. Ví dụ những ý kiến mà anh chị em giáo dân ở Vinh đang bày tỏ qua khát vọng được xây dựng trên nền nhà thờ Tam Toà cũ một ngôi thánh đường mới: ý kiến về việc chọn lựa rằng chúng ta xây dựng xã hội của chúng ta không phải trên lòng căm thù, không phải trên bạo lực, cho dù là bạo lực cách mạng, không phải là trên lòng căm thù, cho dù là lòng căm thù giai cấp. Đã quá đủ rồi cái chọn lựa đó. Chọn lựa đó đã tỏ ra thất bại rồi, thưa anh chị em. Và chúng ta bày tỏ một khát vọng được xây dựng xã hội của chúng ta trên một chọn lựa mới, trên một đường hướng mới dựa trên tình yêu, dựa trên sự tha thứ, dựa trên sự tôn trọng sự sống. Và với việc cầu nguyện này, chúng ta hiệp thông cùng với toàn thể Giáo phận Vinh không phải chỉ trong đau thương hiện tại, mà còn là trong xác tín, trong chọn lựa: chọn lựa một cách thức hiện diện và công bố Tin Mừng, chọn lựa việc sẵn sàng chịu mọi bách hại để công bố sứ điệp của Tin Mừng tình thương, hoà giải và sự sống.

Nguyện xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thương đoàn con cái của Mẹ, là tất cả chúng ta và nhất là những anh chị em tín hữu chúng ta tại Quảng Bình. Nguyện xin Chúa Cứu Thế gìn giữ chúng ta trong sự bình an và ơn cứu độ của Người. Xin cho chúng ta đừng bao giờ thoả hiệp với một đường lối xây dựng cuộc sống bằng cách khơi sâu lòng hận thù và sử dụng bạo lực, nhưng luôn luôn biết hiến mình phục vụ tình yêu thương, hoà giải và hồi sinh.

Chớ gì cái tham vọng quái gở muốn biến một ngôi nhà thờ thành chứng tích khơi dậy lòng căm thù, bị gạt sang một bên, để cho khát vọng về tình yêu, khát vọng về hoà giải, khát vọng về sự sống được nở hoa. Đó chính là lời cầu nguyện tha thiết của chúng ta, và đó cũng là lời tuyên xưng đức tin đầy xác tín của tất cả cộng đồng chúng ta. Amen.

Lm Nguyễn Thể Hiện dcct

Bàn tay che mặt trời!

http://bauxitevietnam.info/c/4422.html

 

Mười giờ  mười chín phút đêm thứ Năm 23 tháng Bảy năm 2009, trang mạng Vietnamnet vẫn còn thức, và nhờ nó đang thức mà bạn đọc cả nước vốn lo lắng cho vận mệnh nước nhà được đọc một bản tin có tiêu đề “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít“. Cầu mong cho bản tin này không bị bóc vào sáng sớm hôm sau! Cầu mong ân đức tổ tiên phù hộ để các tờ báo đang buộc đi trên lề bên phải sẽ cùng đưa tin này, đưa tin khách quan như một cách bày tỏ thái độ của báo mình trước một vấn đề vô cùng nóng bỏng của đất nước.

Riêng Bauxite Việt Nam thì không thể không bày tỏ thái độ – hàng nghìn chữ ký của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước cùng ba triệu rưỡi lượt truy cập trang mạng sau ba tháng hoạt động chắc chắn đang chờ một tiếng nói chung gửi trong bản xã luận số 5 này.

Hãy nhớ lại cách đây đúng 11 ngày, ngày 12-7-2009, ông Quyền Cục trưởng Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam Nguyễn Văn Thuấn đã tuyên bố với báo chí một cách ngon lành, rằng chưa có chuyện cấp phép các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên, bởi lẽ các dự án này còn thiếu đánh giá tác động môi trường bổ sung, hoàn nguyên môi trường (phapluattp.vn), đến nỗi trang mạng BBC thấy chuyện lạ, phải trực tiếp phỏng vấn ông ta rồi mới đưa tin chứ không vội tin vào báo chí trong nước (bbc.co.uk). Nhưng dư luận công chúng thì đâu có dễ tin đến thế. Trên mạng Bauxite Việt Nam, khi đưa lại nguồn tin BBC, chúng tôi đã đặt một giả thuyết: “Đã cho phép xây nhà máy tốn hàng trăm triệu đô la rồi lại không cấp phép khai thác? Nghe mà tưởng cái Chính phủ này vốn thích chơi ngông như Công tử Bạc Liêu! Còn nói “chưa” để rồi “sẽ cấp” thì nói làm gì cho thêm rắc rối. Bạn đọc cứ so sánh cách nói lập lờ đoạn trên và đoạn dưới của ông Nguyễn Văn Thuấn thì đoán ra ngay đây chỉ là một cú đánh lừa dư luận… không được ngoạn mục cho lắm. Ông Thuấn nói việc dư luận đông đảo phản đối dự án khai thác bauxite mấy tháng qua là “làm ầm ỹ lên”. Thì chính vì nghĩ quẩn/xuẩn thế nên những kẻ có trách nhiệm mới phải cho một người cỡ ông ra “chữa cháy” (bauxitevietnam.info)

Quả nhiên, đến hôm nay mọi sự đã quá rõ ràng. Chỉ trong vẻn vẹn 11 ngày mà các dự án bauxite đã làm xong đâu đấy việc “đánh giá tác động môi trường bổ sung” cũng như “hoàn nguyên môi trường” (khi đưa ra lời tuyên bố trong ngày 12 hẳn ông Thuấn phải biết rõ những việc ấy chưa được tiến hành, chứ lẽ đâu đang làm sắp xong mà cấp trên lại lệnh cho ông “phát loa” để mọi người chắc mẩm?!)? Thì ra là Nhà nước chúng ta, với các tập đoàn lợi ích châu xung quanh nó, vốn nổi tiếng là trì trệ, tắc trách bậc nhất, nay phút chốc bỗng mang đôi cánh thiên thần!

Nội dung bản tin “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít” cho ta thấy lần này ông Hoàng Trung Hải tỏ ra rất dũng cảm, một mình đứng ra làm hết – dĩ nhiên là nấp sau cái mộc che chắn gồm có Kết luận của Thủ tướng (được Vietnamnet cập nhật lúc 23 giờ 12 phút, cũng vào ngày thứ Năm 30/04/2009, trong bản tin có tiêu đề là một lời hứa của Thủ tướng “Sẽ báo cáo Hội nghị Trung ương và Quốc hội về bô-xít“) và Kết luận của Bộ Chính trị về khai thác bô-xít (vietnamnet.vn và toquoc.gov.vn)

Bên cạnh đó, qua cái gọi là những việc đã làm do ông Hoàng Trung Hải kể ra, chúng ta còn thấy những đầu việc được ông Hải nêu lên như những việc đã rồinày dẫu sao cũng giải đáp cho dư luận chân chính hiểu rằng những điều đáng ngờ trong các dự án bauxite Tây Nguyên là có thực.

Dư  luận ngờ vực rằng các dự án đó chuẩn bị không kỹ về thăm dò, về giải pháp kỹ thuật khai thác và chế biến, về những bất cập trong bảo vệ môi trường thậm chí là những phá hoại môi trường, về khả năng sinh lợi của các dự án… thì nay, qua các đầu việc chúng ta được thấy bây giờ các ngài mới vội vã nào lập đề cương này, nào điều chỉnh kế hoạch kia. Những đề cương và những kế hoạch điều chỉnh đó xứng đáng được xếp vào hạng mục những chứng cứ của hiện tượng “lạy ông tôi ở bụi này”. Chưa kể là vẫn còn chuyện này phải xét tiếp: các đề cương đó có khả thi không và những kế hoạch điều chỉnh đó có hiện thực không, thì vấn đề vẫn còn bị gác lại đó.

Dư  luận ngờ vực rằng trong việc xây dựng các dự án bauxite Tây Nguyên có chuyện lách luật. Thì lần này, qua các “đầu việc” được ông Hoàng Trung Hải báo cáo, ta lại tóm được đủ chứng cứ của hiện tượng đang bị ngờ vực đó. Cái đuôi con cáo già đã thò ra, và phải là người thiếu trung thực lắm, phải là người không còn có chút ý niệm gì nữa về đạo làm người (không nói là người lãnh đạo) thì mới nghĩ rằng các “dự án con” dưới 600 triệu đô-la Hoa Kỳ ở đây không có chút liên hệ gì giữa những bộ phận với một tổng thể.

Dư  luận hoàn toàn có lý khi ngờ vực năng lực của Tổng Công ty Than Khoáng sản Việt Nam (TKV). Trong thời gian qua, báo chí đã chỉ rõ cái năng lực làm liều của TKV trong toàn cảnh môi trường miền than Đông Bắc đất nước bị tàn phá đến cùng cực như thế nào (xin xem: tuoitre.com.vn 1234). Tiếc rằng, biết bao nhiêu món hời trong “báo cáo đầu việc” của ông Hoàng Trung Hải lại vẫn tiếp tục được giúi vào tay TKV – hơn thế nữa, lại còn tạo thuận lợi cho TKV móc nối với các nhà thầu nước ngoài – đó là những nhà thầu nào thì dư luận ngay từ khuya đã đoán được: nhà thầu nào mà đến giờ phút này vẫn được TKV giao cho  đôn đốc hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật đấu thầu cách xử lý bùn đỏ?

Nhưng qua chuyện “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít” lần này, điều đau khổ kéo dài cho những ai còn có ý thức mình là người Việt Nam là ở hai hiện tượng sau:

1) Dư luận dân sự chân chính tiếp tục bị coi khinh;

2) Quốc hội đánh trống bỏ dùi, từ bỏ chức năng làm luật và giám sát thi hành luật của mình.

Dư  luận dân sự bị coi thường, thậm chí khinh rẻ, thể hiện ở chỗ không hề có một phản hồi nào của nhà cầm quyền, dù chỉ là để giải thích, giảng giải về công việc của các dự án bauxite Tây Nguyên, chưa nói gì đến những cuộc đối thoại thẳng thắn để đi tìm giải pháp chung gỡ mối lo bauxite cho nhân dân. Mối lo bauxite đâu có nằm một mình? Nó được đặt ra trong bối cảnh “phía đối tác” vẫn tiếp tục cho “tàu lạ” đâm vỡ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam; trong bối cảnh ở ngay sát lưng miền Tây Nguyên nước Việt họ đã thuê được cả một vùng đất mênh mông của nước bạn trong chín mươi chín năm!

Ấy thế nhưng Quốc hội Việt Nam, cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia, vẫn bình chân như vại, chẳng thèm nói có và cũng chẳng thèm nói không, chưa ra ngô ra khoai gì đã tạo dư luận “đồng thuận rồi”, mặc dù cái “đồng thuận” ấy mới chỉ là mấy lời bàn luận qua quít rồi bỏ đó, thử hỏi kỷ cương phép nước như vậy thì còn ra sao nữa?

Vì kỷ  cương không ra gì, nên cuộc sống mới nhiễu nhương, mới có tình trạng các dự án quyết định vận mệnh cả dân tộc, lại được ra đời theo lối sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

Chắc chắn  đằng sau vụ việc này phải có một thế lực nào đó đang thao túng tất cả và bảo lãnh cho tất cả. Nếu không, một bàn tay ngắn củn sao dám che cả mặt trời?

 

24-7-2009

Nguyễn Huệ Chi -  Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Thư của H.Y Phạm Minh Mẫn gửi LM Nguyễn Thái Hợp

Cha Hợp thân mến,

Đọc bài "Xin chỉ cho" của Luật sư Bích, tôi thấy thoáng qua có một kinh nghiệm cần phải học hỏi. Nhờ Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình (CLB NVB) nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn.

1. Năm 1954, trước Vatican II, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với Nhà Nước Cộng sản, gia đình công giáo không gửi con em đến trường Nhà Nước. 

2. Năm 1975, sau Vatican II, GH.CG phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, dưỡng lão viện và bệnh viện công giáo cho Nhà Nước đó, gia đình công giáo gửi con em đến trường Nhà Nước, mọi người đến bệnh viện Nhà Nước chữa bệnh... 

3. Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?

4. Trong tinh thần hợp tác, 16 dòng tu theo lời tôi kêu gọi gửi gần 100 thành viên tình nguyện đi phục vụ bệnh nhân SIDA tại Trung Tâm Trọng điểm mấy năm nay. Các vị lãnh đạo TP cho tôi biết lúc đầu chỉ có lối 20% trong số hơn 30.000 bạn trẻ cai nghiện trong lối 20 Trung Tâm là nhiễm HIV, sau những năm cai nghiện thì tỷ lệ nhiễm HIV là trên 60%, có vị nói là trên 80%. 

5. Báo chí cũng thông tin những ngành liên hệ với y tế thì toa rập nhau trấn lột bệnh nhân…Hình như các ngành, thay vì biến giai cấp vô sản thành người đầy tớ phục vụ nhân dân theo như lời Bác dạy, thì thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. 

Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ. 

6. Hợp tác với cách quản lý giáo dục và y tế xem là bệnh hoạn như thế thì được gì, mất gì? Sự hợp tác đó có góp phần lành mạnh hoá nền giáo dục và y tế? Hay tạo điều kiện cho cơn bệnh thêm trầm trọng?

7. CLB.NVB nghiên cứu xem coi thái độ bất hợp tác và thái độ hợp tác của Giáo Hội trong lịch sử 50 năm qua, mỗi thái độ có những lợi và hại nào, đối chiếu cái lợi và cái hại của hai thái độ, và đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc. Có được thế thì sự phát triển đất nước và con người mới vững bền.

Chân thành cám ơn cha Hợp và các thành viên Câu Lạc Bộ NVB.

Thành phố Hồ Chí Minh, 22.7.2007

Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng Y Tổng Giám mục