Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010
ĐGM Phó chủ tịch HĐGMVN : "Một chế độ chính trị không biết nhìn nhận sai lầm của mình thì không thể đưa đất nước lên bước thăng tiến cao hơn"
Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010
Mơ xuân
Cứ mỗi độ xuân về, lòng tôi lại nôn nao những cảm giác đón chào mùa xuân mới với những niềm hy vọng mới.
Năm Mới đến, người dân có những niềm hy vọng mới
Bài viết này xin bày tỏ một vài ước vọng của ngày xuân, cũng với một mong muốn là ca ngợi và tôn vinh cái đẹp của tình người, vốn đã phai mờ trước vận nước nổi trôi, và những ngổn ngang bề bộn của cuộc sống.
Quyền phát biểu chính kiến
Câu chuyện cổ tích “The Emperor’s New Clothes” (tạm dịch là “Hàng độc” của Đức Vua) của nhà văn Hans Christian Andersen là một câu chuyện vui cảnh giác đối với các nhà cầm quyền trên thế giới, chuyện khó tin mà như có thật. Một ông vua chuyên chế đến nỗi không ai dám phê bình, đã mặc bộ quần áo mà ông ưng ý nhất nhưng khổ nỗi là nó lại trong suốt như “pha lê”, khiến ai cũng thấy “kỳ cục”, mà không ai dám hó hé nói cho vua biết một điều bất kính là đức vua trông giống như đang trong tình trạng “cuổng trời”.
Vì lợi ích của quốc gia và dân tộc, xã hội chúng ta cần tôn trọng và cầu thị lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân về “quốc kế dân sinh” về “giáo dục” và “pháp luật”, nhất là các bậc trí thức uyên thâm, các vị thân hào nhân sĩ, “uy vũ bất năng khuất”, không nhắm mắt cúi đầu trước bạo lực cường quyền xâm hại lợi ích của Nhân dân và Tổ quốc. Tuy “tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”, nhưng “hào kiệt thì đời nào cũng có”. Chúng ta phải thấy đó là “nguyên khí của quốc gia”, phải trân trọng cám ơn ý kiến đóng góp của các nhân tài của đất nước, của các công dân tốt, có ý thức trong sáng, thành tâm đóng góp xây dựng chính quyền Nhân dân vững mạnh.
Báo chí phải là kênh phản ánh ý dân
Quyền Tự do Báo chí, quyền Tự do Ứng cử và Tự do Bầu cử, cùng quyền cho các công dân được tự do phát biểu chính kiến xây dựng đất nước, đã được minh thị trong Hiến pháp, cần phải được Nhà nước tổ chức phát động, khuyến khích phát huy thêm, theo đúng nguyện vọng của Nhân dân và yêu cầu cải cách hành chính, chống tệ nạn trì trệ lãnh cảm trước nỗi khổ của nhân dân và tệ nạn bè phái tập đoàn tham nhũng - sâu dân mọt nước.
Việc thành lập các Đại Công ty xuyên quốc gia và quốc tế, các tổ hợp truyền thông rộng lớn cũng phải nhằm cống hiến tập hợp thay cho Nhà nước các kênh phản ánh ý dân, kêu gọi sự đóng góp của người dân trong nước và hải ngoại (khúc ruột xa ngàn dặm) trong việc thực hiện chính sách và quản lý xã hội. Qua đó, Nhà nước có cơ hội thấu hiểu những mơ ước khát khao và nguyện vọng chính đáng của toàn dân, để Nhà nước kịp thời điều chỉnh các sai sót tự nhiên trong quá trình xây dựng quản lý và phát triển đất nước.
Tinh thần pháp luật
Một vấn nạn xã hội ngày càng sâu sắc, đó là sự phân hóa thật cùng cực giữa giàu và nghèo. Khi một vé đi xem ca nhạc một đêm để được tận mắt thấy thần tượng ngôi sao, ngang bằng với tiền học phí của sinh viên nghèo trong cả một năm, quả là một vấn nạn “nghịch lý tự nhiên” mà một xã hội có lương tâm cần nên xem xét.
Có người lý giải sở dĩ việc chống tham nhũng cứ trì trệ chưa hiệu quả, việc giải quyết khiếu nại tố cáo cứ nhì nhằng, việc cải cách hành chánh thì như một mớ bòng bong, gỡ ra rồi lại rối, rối thì lại gỡ. Đó là vì luật pháp ta có nhiều kẻ hở, chưa nghiêm, chưa chuẩn xác, cần phải có thời gian điều chỉnh. Những vướng mắc trong soạn thảo pháp luật thì ai cũng đã rõ. Nhưng vấn đề quan trọng là muốn ban hành luật ta phải nắm rõ thấu đáo cái “tinh thần của pháp luật”. Pháp luật phải phục vụ cho Nhân dân, phải thuận lòng dân, phải có tính khả thi, nhân danh Công lý – phù hợp với đạo lý, lẽ công bằng và tiến bộ xã hội.
Luật của chính quyền Nhân dân là phải “lấy dân làm gốc”, “phục vụ cho nhân dân”, phải góp phần ”phát triển xã hội đất nước ngày càng được tốt đẹp hơn”. Do vậy, Tinh thần Pháp luật có nghĩa là Luật đó trước hết, phải phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, phục vụ cho nhân dân, chăm lo cuộc sống, sự an vui và hạnh phúc của nhân dân. Kế tiếp, một văn bản Luật muốn có giá trị thì nó phải có tính khả thi, phải phù hợp với đạo đức và lẽ công bằng, phải mang tính nhân bản và tiến bộ xã hội.
Nếu tôn giáo có “yêu cầu chân chính” phục vụ nhân dân như xin đất để mở trường học hay thờ phụng, lập các cơ sở phước thiện nuôi chữa bệnh người nghèo, thì Nhà nước và Chính quyền địa phương cũng nên xem xét.
Nguyễn Bính Châu
Ngoài ra, sau khi Luật ấy đã ban hành, thì trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật, ta cũng cần phải tiếp tục theo dõi, rút kinh nghiệm và điều chỉnh pháp luật để pháp luật thực sự là công cụ phục vụ an toàn xã hội và đời sống tốt đẹp cho nhân dân. Chính do những đặc tính đó của ”tinh thần pháp luật” mà Luật pháp được ban hành mới mang tính cưỡng chế, bắt buộc mọi người phải tuân thủ vì lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội và đất nước.
Trong khi người dân phải rứt ruột xa rời mảnh đất truyền đời của cha ông tổ tiên, để ra đi với trong lòng bao nỗi ngổn ngang sinh kế và cuộc sống, thì có những nhà giàu mới phất lên dễ sợ từ các dự án đất đai... (đất cũ đãi người mới) quả là một điều “hợp lý nhưng bất công”. Và đó chính là lý do tại sao ta vẫn phải có bổn phận lắng nghe “Tiếng Dân kêu” mà cải sửa chính sách đền bù đất đai cho công bằng và hợp lý, cho thuận lòng dân.
Từ ngày hòa bình lập lại, trên tinh thần “tốt đạo đẹp đời”, các tôn giáo đã đóng góp vai trò động viên giáo dân lương giáo, cống hiến cho việc xây dựng đất nước, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh và tiếp tay xoa dịu trước các nỗi bất cập và bất lực của xã hội. Tôi thiết nghĩ nếu tôn giáo có “yêu cầu chân chính” phục vụ nhân dân như xin đất để mở trường học hay thờ phụng, lập các cơ sở phước thiện nuôi chữa bệnh người nghèo, thì Nhà nước và Chính quyền địa phương cũng nên xem xét cân nhắc giúp đỡ tạo thuận lợi cho nhu cầu đó, cho phù hợp với quy hoạch và kiến trúc.
Vì “mục đích duy nhất và cái lợi duy nhất thuộc về Nhân dân” chính Nhân dân là người thụ hưởng trực tiếp từ lợi ích đó, chứ không có bất cứ một cá nhân nào khác có thể tự thân quơ quào hưởng lợi được, và giáo dân cũng nhận biết rằng Nhà nước luôn có “chính nghĩa sáng ngời - biết nhìn xa trông rộng”, luôn quan tâm chăm lo tạo điều kiện phát triển tôn giáo theo kế hoạch quốc gia và chính sách pháp luật. Chúng ta không thể mơ mộng sự “đồng thuận xã hội”, khi có sự chênh lệch quá sâu sắc về quyền lợi và mâu thuẫn quyền lợi, khi không có sự công bằng và hợp lý.
Dĩ nhiên, chúng ta cũng cần kiên quyết đấu tranh xử lý với các động cơ cá nhân, lợi dụng tôn giáo hoặc mê tín dị đoan, thu vén cá nhân, đi ngược lại “tinh thần bác ái” và “từ bi hỷ xả “ của tôn giáo, làm thiệt hại lợi ích chung.
Bên cạnh việc cải cách hành chánh còn nhiều việc phải bàn, chẳng hạn vụ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Ngay chính các cơ quan hữu trách mà còn không thống nhất được ý kiến. Lúc một lúc hai, rồi thì lại lúc hai lúc một (giấy). Theo tôi, căn bản là cái đất, còn nhà thì có thể thay đổi, nay nhà trệt mai lên hai tầng rồi ba tầng, thiết kế nội thất phân chia tường nhà ở đâu hay nâng cao mấy tấm mấy tầng là quyền của chủ nhà, ta chỉ can thiệp xem xét nhằm bảo đảm sự an toàn cần thiết của công trình và phù hợp quy hoạch cảnh quan chung. Vấn đề cốt lõi không phải là cãi nhau về một giấy hay hai giấy, mà căn bản là phải phục vụ cho yêu cầu quản lý khoa học và tạo thuận lợi cho người dân qua sự minh bạch về luật pháp, công khai thời hạn cấp giấy, không bắt bẻ làm khó dân trong thủ tục hành chánh. Do vậy, chỉ cần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo giấy phép xây dựng và đăng ký công trình trên đất là được.
Nhiều người dân đổ về Hà Nội khiếu kiện vì đất đai
Nhưng ta cũng không nên buộc những người có giấy tờ cũ, đã được cấp sau 1975 phải cấp đổi giấy mới, gây phiền toái trong nhân dân. Chẳng lẽ giấy của chính quyền cách mạng cấp lại quá “lôi thôi”, không có giá trị (thiếu tính bền vững nhìn xa trông rộng, vừa mới đưa vào sử dụng thì đã lạc hậu trật đường ray?). Việc bắt buộc mọi người dân đều phải xin cấp đổi mới giấy chứng nhận về nhà đất vừa mang tính tốn kém phiền phức, vừa làm nặng gánh lo toan cho người dân và chắc chắn sẽ gây áp lực quá tải cho cơ quan quản lý nhà nước. Nên chăng chỉ những người có nhu cầu muốn cấp đổi sổ thì ta mới cấp đổi sổ mới cho họ. Như thế, vừa khoan được sức dân vừa giúp cho chính quyền có điều kiện tập trung công sức vào nghiên cứu quy hoạch và quản lý cho tốt, việc cải tiến hành chánh được khoa học và bền vững, ngày càng thuận lợi và tạo điều kiện dễ dàng cho người dân, phù hợp với tâm tư và nguyện vọng của nhân dân.
Con cọp cuối cùng ở Côn Đảo
Năm nay là năm con Cọp, nên trước khi chia tay bước vào năm mới, tôi xin phép kể cho các bạn một câu chuyện về con cọp cuối cùng tại Côn Đảo. Nhà văn An Khê, người đã chịu án chung thân khổ sai của thực dân Pháp tại nhà tù Côn Đảo, ông được may mắn trở về và đã kể câu chuyện này trên một nhật báo Saigon trước 1975, khi tôi chỉ mới là một chàng trai mới lớn trẻ tuổi yêu đời.
Do biết tù Côn Đảo thường có ý định trốn trại vượt ngục, thực dân Pháp nghĩ ra một hiểm kế, đó là làm thế nào để có thể có tiêu diệt tù chính trị bị nhốt trên Côn Đảo dám cả gan vượt ngục mà không bị dư luận lên án. Nên đã thả trong rừng Côn Đảo 10 con cọp trẻ dữ dằn, sẵn sàng “xơi tái” những anh tù trốn trại. Dân tù biết được nên dùng chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến”, “vườn không nhà trống”, tìm cách cô lập hủy diệt mọi thứ mà lũ cọp có thể ăn được, nhiều khi tổ chức đông người lập bẫy vây bắt giết cọp. Lũ cọp không chịu nỗi sơn lam chướng khí và cạn nguồn lương thực nên bệnh và chết hết, chỉ còn lại duy nhất một con cọp.
Một đêm nọ cọp đi kiếm ăn trên bãi biển, thấy một con hến to như cái bàn tròn lớn cỡ một người ôm, nằm há miệng trước biển, khoe cái mình hến trắng hếu, lồ lộ hấp dẫn dưới ánh trăng. Cọp khoái chí đưa hai chân trước vồ con hến. Hến hết hồn ngậm miệng lại, cọp đang bệnh ốm đói và kiệt sức nên không sao vùng vẫy thoát. Đêm hôm ấy, người ta nghe tiếng con cọp gầm rú suốt cả đêm. Sáng hôm sau, con cọp xấu số đã nằm chết ngộp khi nước triều dâng lên trên bãi biển.
Câu chuyện con cọp cuối cùng nơi Côn Đảo làm ta chợt nghiệm ra rằng, tính ra loài người là một con vật hết sức khôn ngoan và nguy hiểm hơn cọp dữ. Vì vậy, người xưa thường ví các tham quan ô lại còn nguy hại tàn ác gấp nhiều lần hơn loài thú dữ cọp beo.
Vậy thì mong rằng trong năm con cọp, các quan tham ô lại bọn sâu dân mọt nước sẽ bị sập hầm, số phận sẽ như con cọp cuối cùng trên Côn Đảo, cho người dân đỡ khổ và diệt trừ được quốc nạn.
Nhưng trước hết, thì ta hãy nâng ly phấn khởi: “Chúc mừng năm mới” và tiếp tục “mơ Xuân”.
Nguồn: BBC Vietnamese
Tệ nạn buôn bán con nuôi tại Việt Nam
Tạp chí Le Courrier International của Pháp nêu bật thảm cảnh xã hội tại Việt Nam, tạp chí này viết về các bà mẹ trẻ, nghèo, phải bán con cho giới môi giới để họ bán lại cho người ngoại quốc tìm con nuôi.
Dưới tựa đề ''Viếng thăm một ''xưởng (sản xuất) em bé'', bên dưới dòng tiểu tựa ''trong hậu trường của việc nhận con nuôi'', Courrier International đưa độc giả đến tận Lạng Sơn, nơi mà theo tạp chí, các cặp vợ chồng khắp thế giới đến để xin con nuôi. Nhưng họ không biết là những trẻ sơ sinh mà họ nhận được là những đứa trẻ mà các bà mẹ đã bán, vì miếng cơm manh áo, với một khoản tiền nhỏ mọn.
Le Courrier trích dẫn ký giả nhật báo Hong Kong, South China Morning Post, Simmon Parry, đã giả danh một người muốn tìm con nuôi, tả cảnh ông đến một ngôi nhà không mấy sạch sẽ, sát cạnh một cô nhi viện, tiếp xúc với người môi giới, bà Tăng Thị Cai.
Đứa trẻ mà người ta đề nghị với tác giả bài báo, là một đứa bé trai tên Hoàng, 2 tháng tuổi, bụ bẩm. Giá đề nghị là 10 000 đôla. Tác giả bài phóng sự nhìn vẻ mặt của bà mẹ trẻ, phân vân, đau khổ, trong lúc mà bà môi giới thúc giục phải quyết định nhanh, vì bà đã bắt đầu làm thủ tục để giao đứa bé cho cô nhi viện. Bà còn nói thêm trước vẻ do dự của ông khách hàng, là nếu muốn con gái, thì cứ nói, bà có những bà sắp sinh nở. Có được cô bé gái thì bà sẽ gọi điện thoại để báo.
Tác giả bài phóng sự giải thích nếu ông từ chối đứa bé, thì nó sẽ được giao cho cô nhi Viện Lạng Sơn. Tại đây thì đứa bé, theo Simmon Parry sẽ được đề nghị với giá rất cao cho những người nước ngoài đến từ khắp nơi trên thế giới. Và trong lúc mà những người xin con nuôi chi hàng ngàn đôla thì các bà mẹ trẻ chỉ nhận những khoản tiền rất ít ỏi : 6 triệu đồng, 300 đôla. Họ mang thai và sinh nở trong tình trạng bần cùng khốn khổ. Tác giả bài phóng sự, mô tả cảnh sống của họ tại nhà của bà Cai.
Khi tỏ ý muốn tìm con nuôi, ông đã được đưa ra dãy nhà phiá sau. Trong một căn phòng là các bà mẹ đã sinh nở, nằm với con trên các chiếc giường bằng gỗ ọp ẹp, đặt sát cạnh nhau. Tại một căn phòng khác, một số phụ nữ bụng rất to nằm chờ ngày hạ sinh.
Bà Cai, theo bài phóng sự, cho họ ăn ở, ngược lại họ phải cam kết giao con cho bà. Trước mặt người khách, bà Cai có vẻ ngượng ngùng về điều kiện sống của các phụ nữ. Bà đã nói đùa : ông có thể mang bé Hoàng đi mà không phải trả tiền nếu ông mua quạt máy hay máy điều hoà không khí cho các căn phòng này. Trong cuộc kèo nài để bán bé Hoàng, bà Cai còn giải thích là nếu qua trung gian một cơ quan ở Hà Nội thì phải trả đến 16 000 đôla. Còn qua bà thì chỉ mất 10 000 đôla, để mang đứa bé đi, bà sẽ giới thiệu những người lo tất cả thủ tục hành chính.
Bài báo nhắc lại một báo cáo điều tra của Mỹ năm 2008. Các nhà điều tra đã nêu lên hiện tượng bán con. Những 'nhà hộ sinh' kiểu như nhà bà Tăng thị Cai, không ít. Đây là một nguồn cung cấp trẻ sơ sinh cho những người tìm con nuôi, trực tiếp qua nhũng người như bà Cai hoặc qua ngã chính thức.
Simmon Parry giải thích là trước ông 4 ngày, một nhóm 6 cặp vợ chồng người Ireland, xin con nuôi theo ngã chính thức, đã đến Lạng Sơn. Họ không dừng lại trước nhà bà Cai mà đến cô nhi viện. Mỗi cặp đã chi 7500 euro. Điều mà họ không biết là cuộc sống các trẻ mà họ mang đi, không bắt đầu ở làng của mẹ chúng, hay cô nhi viện mà là tại những nhà hộ sinh như của bà Cai. Người này khẳng định : 6 đứa trẻ mà các cặp vợ chồng Ireland xin được đều đến từ nơi bà. Nếu không có bà thì sẽ chẳng có trẻ nít để xin. Bà Cai đã làm nghề trung gian này từ 10 năm qua. Không có quảng cáo gì cả, tất cả đều truyền miệng nhau.
Trong phần kết luận, Simmon Parry, nhắc lại là các cặp vợ chồng Ireland vừa nhận được con nuôi, cho là hiển nhiên là các em bé sẽ có điều kiện sống tốt đẹp hơn nhiều ở Ireland. Nhưng những gì ông thấy được ở Lạng Sơn đặt ra nhiều câu hỏi nghiêm trọng về tiến trình xin và nhận con nuôi, về những người trục lợi và về các bà mẹ đáng thương.
Tác giả còn nhận thấy là đối với các bậc cha mẹ nuôi, trước mắt thì không có vấn đề gì, nhưng một khi các em này trưởng thành, tim hiểu về cội nguồn của mình, chúng sẽ nêu lên những câu hỏi mà các bố mẹ nuôi rất khó trả lời.
Mừng ngày trở về.........."Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là tôi sẽ chiến đấu tới cùng, cho dù chỉ có một mình tôi để đấu tranh, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ, tự do cho người dân Việt Nam. Và cộng sản Việt Nam đừng mong cho bất cứ một điều gì là thỏa hiệp chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi"./ Luật sư Lê Thị Công Nhân
Chết cho cái gì? Án mạng tại Việt Nam tháng Hai 2010
Một bài báo gần đây trên VnExpress nhan đề “Những vụ án đau lòng từ văn hóa đi đường” nhấn mạnh: “Chỉ vì một cú va quẹt xe, một ánh đèn pha rọi vào mặt, hay thấy ‘ngứa tai’ vì tiếng nẹt pô xe của ai đó mà người ta sẵn sàng xuống tay cướp đi mạng sống của người khác một cách tàn bạo.” Nhưng không chỉ là văn hóa đi đường. Ở Việt Nam những ngày này người ta có thể bị giết vì một tiếng chó sủa không ưng tai, vì không chịu mở cửa quán cà-phê cho khách đang có nhu cầu uống cà phê, vì nhắc nhở một cặp trai gái đừng nằm lên ghế đá, vì cãi cọ về chuyện gửi xe, cãi cọ về chuyện thanh toán tiền nhậu, vì giành khách xe ôm, vì thắc mắc về tiền vé xe, vì cạnh tranh gái làng, vì can người đang cãi nhau, vì say rượu, vì quay sang nhìn một bàn khác trong quán…, hay đơn giản là vì bị giết nhầm. Phần lớn các án mạng hay các vụ hành hung nghiêm trọng đều xảy ra từ những mâu thuẫn rất nhỏ, dẫn đến cãi cọ, xô xát, ẩu đả. Vũ khí được sử dụng nhiều nhất là dao. Nhiều hung thủ là nam thanh niên ở độ tuổi 18-25.
Vì sao người Việt chúng ta lại trở nên hung bạo như thế? Ai sẽ thấy mình có trách nhiệm thay đổi tình trạng này? Những thông tin dưới đây hàng ngày xuất hiện trên báo chí Việt Nam. Chúng ta đọc và quen đi, cũng như chúng ta đã quen với rất nhiều thứ đang diễn ra xung quanh mình. Cho đến khi chính chúng ta hay gia đình, người thân, bạn bè trở thành nạn nhân.
Trong vòng hai tháng đầu năm 2010, các tòa án Việt Nam đã ra những bản án nghiêm khắc, trong đó có nhiều bản án tử hình cho trọng tội giết người. Nhưng đó có phải là biện pháp hiệu quả nhất ngăn chặn tình trạng này? Nguyên nhân sâu xa của bạo lực trong xã hội Việt Nam ngày nay nằm ở đâu?
______________
Ngày 1/2/2010, một cháu bé 30 ngày tuổi bị đánh trọng thương vì mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu trong tranh chấp đất vườn.
Ngày 2/2/2010, tại Bắc Giang, một người bị đánh chết vì can ngăn ẩu đả.
Ngày 3/2/2010, tại Hà Tĩnh, một nhóm thanh niên chém trọng thương cả gia đình một chủ quán cà-phê vì chủ quán không chịu mở cửa quán.
Ngày 3/2/2010, tại Đồng Nai, án mạng xảy ra do ghen tuông.
Ngày 5/2/2010, tại Cần Thơ, một người đàn ông giết người yêu vì bị người yêu chửi.
Ngày 7/2/2010 tại Lào Cai, một thanh niên 20 tuổi giết người cướp của vì nợ 3 triệu đồng tiền thuê nhà.
Ngày 7/2/2010, tại Nghệ An, một người bị chết và một người trọng thương trong cuộc ẩu đả giữa hai nhóm thanh niên cùng đi dự một đám cưới.
Ngày 8/2/2010, tại Quảng Ngãi, một thanh niên bị đánh chết khi đang ngồi chơi tại bờ kè.
Ngày 9/2/2010, tại TP Hồ Chí Minh, một thanh niên 20 tuổi bị chém trọng thương do tranh luận, cãi vã trong bữa cơm tất niên tại công ty.
Ngày 9/2/2010, tại TP Hồ Chí Minh, một bảo vệ công viên bị đâm chết vì nhắc nhở một đôi thanh niên không nằm lên ghế đá.
Ngày 10/2/2010, tại TP Hồ Chí Minh, án mạng xảy ra vì lời qua tiếng lại trong lúc dọn hàng.
Ngày 10/2/2019, tại Bắc Giang, một thanh niên 21 tuổi bị đánh chết vì mâu thuẫn với một thanh niên 21 tuổi khác trong khi đánh bi-a.
Ngày 10/2/2010, tại Quảng Bình, một người chết và một người bị thương vì ẩu đả giữa hai nhóm thanh niên.
Ngày 13/2/2010, tại Hà Nội, một thanh niên 18 tuổi bị đâm chết trong trò chơi ném vòng cổ chai trong đêm hội làng.
Ngày 14/02/2010, tại TP Hồ Chí Minh, một người bị đánh chết vì can hai anh em đang cãi nhau.
Ngày 14/2/2010, tại Cần Thơ, án mạng xảy ra vì cãi vã xung quanh chuyện “Pô xe nổ lớn quá, không cho ai ngủ”.
Ngày 15/2/2010, tại Hòa Bình, một người con đánh chết bố vì bố say rượu hành hung mẹ.
Ngày 15/2/2010, tại Yên Bái, một người chết và nhiều người bị thương vì ẩu đả giữa hai nhóm thanh niên.
Ngày 18/2/2010, tại Hà Nội, một chú rể và bạn bè bị thanh niên làng của cô dâu đánh trọng thương vì đến dự đám cưới.
Ngày 19/2/2010, tại Phú Yên, một người bị đâm chết và một người bị thương nặng vì cãi vã chuyện thanh toán tiền nhậu.
Ngày 17/2/2010, tại Bình Thuận, một Việt kiều Mỹ bị đâm chết vì nợ tiền cá độ bóng đá.
Ngày 18/2/2010, một thanh niên 16 tuổi ở Hải Dương đâm chết một người và làm một người khác bị thương vì cạnh tranh gái làng.
Ngày 19/2/2010, tại Quảng Nam, một học sinh bị chém trọng thương vì bị thanh toán nhầm trong một cuộc ẩu đả từ quán karaoke.
Ngày 19/2/2010, tại An Giang, án mạng xảy ra vì ngoại tình.
Ngày 21/2/2010, tại Hải Phòng, một người chạy xe ôm bị đâm chết vì tranh giành khách với một người chạy xe ôm khác.
Ngày 22/2/2010, tại Cần Thơ, án mạng xảy ra chỉ vì một tiếng chó sủa.
Ngày 22/2/2010, tại Cần Thơ, một thanh niên 17 tuổi bị đâm chết vì nhầm là người liên quan trong một xung đột tình ái.
Ngày 22/2/2010, tại Huế, một sinh viên bất ngờ bị chém trọng thương trong quán Internet.
Ngày 24/2/2010, một thanh niên 24 tuổi ở thành phố Đà Nẵng bất ngờ xách dao mổ lợn vào đâm chém một nhóm thanh niên khác đang ngồi uống cà-phê, khiến một người chết và một người bị thương nặng.
Ngày 24/2/2010, tại Tiền Giang, một người uống rượu, chửi mẹ và đâm chết em ruột.
Ngày 25/2/2010, tại Hải Phòng, một người bị đánh trọng thương vì va chạm nhẹ trong giao thông.
Ngày 25/2/2010, tại Đà Nẵng, một hành khách thắc mắc vì phải trả 50.000 đồng tiền xe, trong khi một hành khách khác chỉ phải trả 40.000 đồng, nên đã bị phụ xe gọi người nhà đến chém trọng thương.
Ngày 25/2/2010, tại Bạc Liêu, một học sinh lớp 10 đâm chết bạn vì ghen tuông.
Ngày 26/2/2010, tại Hà Nội, vì mâu thuẫn trong việc gửi xe, một khách gửi xe đã bị nhân viên giữ xe dùng dao đâm chết, một khách khác bị đâm trọng thương.
Ngày 26/2/2010, tại TP Hồ Chí Minh, một bác sĩ đâm chết một nữ y sĩ vì bị từ chối tình yêu.
Ngày 26/2/2010, tại Sơn La, một nhóm thanh niên trêu nhau bằng súng kíp bắn chim tự chế, khiến một người bị chết.
Ngày 27/2/2010, 4 thanh niên (đều ở tuổi 21-22) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh, ngồi uống rượu trong quán, thấy hai người ở bàn khác quay sang nhìn mình nên ra tay, đánh chết một người và làm người kia bị thương nặng.
© 2010 Thuỳ Yên
© 2010 talawas
Trung Quốc chỉ định Đức Ban Thiền Lạt Ma vào một cơ quan chính trị
Tân Hoa xã đêm hôm qua loan báo là Đức Ban Thiền Lạt Ma do chính quyền Bắc Kinh chọn lựa vừa được bổ nhiệm làm đại biểu Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân, gọi tắt là Chính Hiệp. Đây là một cơ quan có nhiệm vụ cố vấn cho các đại biểu Quốc hội Trung Quốc và sẽ khai mạc kỳ họp thường niên vào thứ tư tới.
Ban Thiền Lạt Ma là lãnh đạo cao cấp hàng thứ hai của Phật giáo Tây Tạng, sau Đạt Lai Lạt Ma. Vào năm 1995, Bắc Kinh đã phong Gyaincain Norbu, năm nay 20 tuổi, làm Đức Ban Thiền Lạt Ma thứ 11, mặc dù lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, hiện sống lưu vong, đã chọn một bé trai khác làm Ban Thiền Lạt Ma, đó là Gedhun Choekyi Nyima. Ban Thiền Lạt Ma này đã mất tích và dường như đang bị quản thúc tại gia.
Chính quyền Bắc Kinh có vẻ như muốn Ban Thiền Lạt Ma chính thức đóng vai trò ngày càng lớn hơn, nhằm góp phần chống lại ảnh hưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, mà họ kết tội là chủ trương ly khai.